1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các Vườn Quốc Gia (VQG) và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là
nơi tập trung đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài động - thực
vật đặc hữu, quý hiếm và có khả năng hấp dẫn du khách, đồng thời các
cộng đồng dân cư địa phương sinh sống trong khu vực các VQG đều có
những giá trị văn hóa bản địa độc đáo và mang những đặc sắc riêng đây
là những thuận lợi cho việc phát triển loại hình DLST. Việt Nam có 30
VQG nằm rải rác trên phạm vi toàn quốc với nhiều giá trị tài nguyên
thuận lợi để phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng. Đồng thời,
phần lớn các VQG có vai trò kép, một mặt đây là khu vực cung cấp nơi
cư trú cho sự sống hoang dã, mặt khác nó lại phục vụ như là nơi du lịch
đặc thù cho khách du lịch. Việc quản lý các mâu thuẫn tiềm ẩn giữa hai
mục đích này có thể là một vấn đề, cụ thể là du khách sẽ đem lại nguồn
kinh phí cho VQG cũng như góp phần nâng cao đời sống cho người dân
địa phương, quảng bá các giá trị văn hóa bản địa tạo điều kiện duy trì và
bảo tồn hệ sinh thái và các giá trị văn hóa bản địa. Sự cân bằng giữa nhu
cầu khai thác các tài nguyên này với tổn thất do việc khai thác gây ra
thường là thách thức rất quan trọng đối với hệ thống quản lý các VQG.
Các VQG có một giá trị về tài nguyên DLST rất lớn, nếu không khai
thác thì đã bỏ phí nhưng nếu khai thác không hợp lý thì sẽ hủy hoại
nguồn tài nguyên do đó cần phải có mô hình, giải pháp quản lý và khai
thác hợp lý làm sao khai thác được tối đa các giá trị kinh tế của tài
nguyên đồng thời không tác động xấu tới các giá trị về sinh thái của
nguồn tài nguyên này.
Từ kinh nghiệm quản lý VQG của một số nước trên thế giới cho thấy
việc khai thác tài nguyên tại các VQG để phát triển DLST hợp lý đã
đảm bảo được cả 2 mục tiêu là (i) Bảo tồn hệ sinh thái bền vững về môi
- Về không gian: tại VQG Cúc Phương và một số VQG trực thuộc
Bộ NN&PTNT.
3
5. Tổng quan nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án
5.1. Tổng quan nghiên cứu
Trong thời gian thực hiện, luận án đã tiếp cận và tổng hợp các tài
liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong và
ngoài nước. Cụ thể là:
Những nghiên cứu của các tác giả ở ngoài nước cho thấy việc quản
lý và khai thác DLST cần phải được tổ chức quản lý thống nhất và tài
nguyên du lịch tại các VQG là một tài nguyên rất có giá trị và không thể
không đưa các các giải pháp khai thác hiệu quả.
Các công trình nghiên cứu về DLST ở Việt Nam còn quá ít. Các
công trình nghiên cứu này chưa phân tích rõ được đặc điểm của DLST
tại các VQG cũng như là các phương pháp để xác định giá trị kinh tế
cho các VQG.
Về nghiên cứu hoạt động DLST ở các VQG cũng đã có một số công
trình nghiên cứu, các công trình nghiên cứu này chủ yếu là nghiên cứu
về phát triển DLST ở các VQG chưa có công trình nào nghiên cứu về
xác định vai trò cũng như sứ mệnh và tầm nhìn cho các VQG để từ đó
tìm ra giải pháp quản lý và phương án khai thác DLST tại các VQG.
5.2. Những đóng góp mới của luận án.
1. Từ lý luận về du lịch, du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền
vững, luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận về du lịch sinh thái theo
quan điểm phát triển bền vững. Cụ thể: Du lịch sinh thái theo quan điểm
phát triển bền vững là du lịch sinh thái có quan hệ mật thiết với cộng
đồng dân cư địa phương và phải được quản lý khai thác theo một công
nghệ mới đó là công nghệ giảm thiểu tác động của du lịch đến môi
trường và những công nghệ phát triển du lịch thỏa mãn những nhu cầu
trường sinh thái.
5 Luận án sử dụng phương pháp ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho
mỗi lần tham quan để làm cơ sở xác định giá vé vào cửa cho các VQG.
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ,
KHAI THÁC DU LỊCH SINH THÁI Ở CÁC VƯỜN QUỐC GIA
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Lý luận cơ bản về Du lịch, phát triển du lịch bền vững
1.1.1. Những vấn đề chung về du lịch
Khái niệm du lịch
Từ những khái niệm về du lịch cho thấy, Du lịch là một hoạt động có
nhiều đặc thù, liên quan đến nhiều thành phần như khách du lịch,
phương tiện giao thông, và các hoạt động kinh tế xã hội khác nhằm đem
lại các lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội cho các quốc gia. Tuy nhiên
tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ các quốc gia còn phụ thuộc
vào các loại hình du lịch và các tài nguyên du lịch của mỗi quốc gia.
Điều kiện phát triển du lịch và các yếu tố cấu thành điểm đến du
lịch
Sự phát triển du lịch đòi hỏi những điều kiện khách quan cần thiết
nhất định. Một số điều kiện chung bắt buộc phải có với tất cả các quốc
gia muốn phát triển du lịch. Đó là những điều kiện cần thiết để phát sinh
ra nhu cầu đi du lịch và đảm bảo cho việc thực hiện thành công một
chuyến đi như thời gian rỗi của nhân dân, mức sống về vật chất và trình
độ văn hóa của người dân, điều kiện giao thông vận tải phát triển, không
khí chính trị hòa bình Ngoài những điều kiện chung thì mỗi vùng, mỗi
quốc gia cần có những điều kiện mang tính đặc thù để phát triển các loại
hình du lịch cho từng vùng và từng quốc gia nhất định., cụ thể là :Điều
việc đầu tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài
nguyên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền
lợi của cộng đồng trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Các tiêu chí cơ bản về phát triển du lịch bền vững
Căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững,
những đặc điểm của hoạt động du lịch, các tiêu chí cơ bản về phát triển
du lịch bền vững cần được nghiên cứu và xem xét bao gồm:
Điểm đến du lịch
Sức
hấp dẫn
Sự
tiện nghi
Hình ảnh ,
Đặc trưng
Nguồn
nhân lực
Giá cả
Khả năng
tiếp cận
7
Các tiêu chí về kinh tế: Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự
tăng trưởng liên tục và ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch
(chỉ tiêu về khách, thu nhập du lịch, GDP, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao
động ).
Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường: Phát triển du lịch bền
vững phải khai thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả các tiềm
năng tài nguyên và điều kiện môi trường. Việc khai thác, sử dụng nguồn
thỏa mãn những nhu cầu của du khách. Những công nghệ mới thường
hướng vào thiết lập các tuyến du lịch, xây dựng đường xá, nhà cửa, bãi
cắm trại, hướng dẫn du lịch, chăn nuôi động vật hoang dã, gây trồng cây
thuốc, cây cảnh, sản xuất hàng lưu niệm, dịch vụ ẩm thực, giải trí. Các
công nghệ mới sẽ là những công nghệ thân thiện với môi trường và thỏa
mãn yêu cầu cao của hoạt động du lịch. Nó vừa nâng cao được sức chịu
tải du lịch, vừa tăng được nguồn kinh phí cho bảo tồn và phát triển ở địa
phương.
Du lịch sinh thái khi hướng đến mục tiêu bền vững cần thực hiện các
nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững.
- Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,….
- Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản
lý các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả.
- Trong quá trình khai thác hoạt động DLST, cần phối hợp mục tiêu
hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, góp phần tạo tính tương tác bền
vững cho hoạt động DLST từ địa bàn sở tại.
- Phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch của
địa phương, vùng và của quốc gia.
- Tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.
- Triển khai các họat động tư vấn các nhóm lợi ích và công chúng.
- Marketing du lịch một cách trung thực và có trách nhiệm.
- Tổ chức đào tạo các thành viên quản lý, chuyên nghiệp hóa
các nhân viên phục vụ trong họat động kinh doanh du lịch nhằm nâng
cao chất lượng dịch vụ du lịch.
9
1.3. Quản lý và khai thác DLST tại các Vườn quốc gia
1.3.1. Khái niệm vườn quốc gia
Vườn quốc gia: là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp
lịch tại các VQG có thể do các VQG tự kinh doanh hoặc cho các công ty
du lịch thuê môi trường để kinh doanh nhưng phải chịu quản lý theo một
quy chế cụ thể.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp định
tính có kết hợp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính để tìm ra
các mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái với sự bền vững của
các VQG, nghiên cứu tiềm năng du lịch của các VQG, nghiên cứu
những yếu tố thúc đẩy, cản trở sự tham gia của cộng đồng dân cư địa
phương và các doanh nghiệp du lịch trong hoạt động du lịch tại các
VQG để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm phát huy tối đa sự tham gia của
các tác nhân này vào việc quản lý và khai thác DLST tại các VQG một
cách hiệu quả; Một phần nghiên cứu định lượng được sử dụng trong
việc thiết kế để xác định mức độ bằng lòng chi trả của du khách cho một
chuyến du lịch đến VQG, hiệu quả hoạt động du lịch tại VQG Cúc
Phương để từ đó xây dựng phương án khai thác hợp lý nhằm tăng nguồn
kinh phí hoạt động cho các VQG những vẫn không làm giảm lượng cầu
du khách tới các VQG.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DLST Ở CÁC VQG
VIỆT NAM VÀ VQG CÚC PHƯƠNG
3.1. Hoạt động quản lý và khai thác DLST hiện nay tại các VQG
Việt Nam
Hệ thống các khu rừng đặc dụng đã trở thành những nơi để nghiên
cứu khoa học, thực tập, tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, bảo vệ nguồn
11
nước, bảo tồn những văn hóa, kiến thực bản địa, bảo tồn đa dạng sinh
3.2.1. Điều kiện phát triển DLST ở VQG Cúc Phương
Tài nguyên du lịch
Hệ thực vật Cúc Phương là nơi hội tụ của 3 luồng di cư: Luồng thực
vật nhiệt đới nóng ẩm mang yếu tổ Mã Lai – Indonesia. Luồng thực vật
Tây – Bắc mang yếu tố ôn đới Vân Nam, Quý Châu và vành đai ôn đới
chân núi Hymalaya. Luồng thực vật Tây – Tây Nam mang các yếu tố
Ấn độ - Mã Lai. Tổng số loài thực vật đã biết tại Cúc Phương là 1.944
loài thuộc 908 chi và 229 họ thuộc các ngành: rêu, quyết lá thông, cỏ
tháp bút, dương xỉ, hạt trần và hạt kín. Thực vật ở đây chiếm 24,6% số
loài cả nước
Khu hệ động vật Cúc Phương rất đa dạng về loài gồm 71 loài thú,
hơn 319 loài chim, 33 loài bò sát và 16 loài lưỡng cư Về côn trùng ở
Cúc Phương đã ghi nhận 1.800 loài thuộc 200 họ. Nhiều loài là và có
giá trị khoa học cao như bọ que, đặc biệt là khu hệ bướm với muôn mầu
sắc.
Về yếu tố lịch sử: Di khảo cổ góp phần làm tăng thêm tính hấp dẫn
du lịch ở Cúc Phương. Các dấu vết di chỉ khảo cổ đã được tìm thấy tại
một vài hang động như động Người Xưa, hang Con Moong. Ngoài ra
còn có các động khác như động Phò Mã Giáng, động Trăng Khuyết,
động Thủy Tiên.
Điều kiện cơ sở hạ tầng
Về giao thông: VQG Cúc Phương cách quốc lộ 1A 20km, từ Gián
Khẩu đến thị trấn Nho Quan theo đường Phà Đế. Từ Nho Quan vào đến
cổng Vườn khoảng 13km là đường bê tông thuận lợi cho khách du lịch
từ Hà Nội và các tỉnh đồng bằng đến thăm VQG. Ngoài ra, các đường
liên huyện khác cũng tạo điều kiện thuận lợi cho khách ở các tỉnh phụ
cận tới thăm VQG.
13
Hệ thống điện nước: Ở khu vực cổng Vườn đã có hệ thống nước
các đoàn khách đông người. Nhiều phòng nghỉ đang xuống cấp, nhưng
chưa có kinh phí để sửa chữa, nâng cấp.
Cơ sở dịch vụ đón tiếp khách: Khu đón khách ở cổng Vườn có
nhiệm vụ đón tiếp, thu lệ phí tham quan, hướng dẫn sơ đồ tham quan và
phổ biến các nội quy cần thiết cho khách. Vườn có một phòng dành
riêng cho việc giới thiệu về VQG Cúc Phương. Ở trung tâm Vườn có
hai khu vực phía dưới các nhà sàn là nơi để khách nghỉ ngơi, ăn uống
trước hoặc sau khi đi tham quan. Ngoài ra còn có hai hội trường để phục
vụ nhu cầu hội nghị hoặc hội họp của các đoàn khách tham quan.
Cơ sở ăn uống: Vườn có ba nhà ăn phục vụ khách bố trí ở cạnh ba
khu: khu cổng Vườn, khu hồ Mạc và khu trung tâm nhà nghỉ với tổng
năng lực phục vụ khoảng 300 lượt khách ăn cho một bữa.
Cơ sở dịch vụ bán hàng: VQG Cúc Phương có tổng số 5 quầy bán
hàng phục vụ khách du lịch, ở khu cổng Vườn có 2 quầy, khu hồ Mạc 1
quầy, khu trung tâm 1 quầy và chân động Người Xưa một quầy.
Các cơ sở dịch vụ khác: Ở Cúc Phương có sân chơi thể thao phục
vụ các môn: cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền…. Cho thuê xe đạp và
các trang thiết bị phục vụ đi rừng.
Thị trường khách du lịch của VQG Cúc Phương
Số lượng khách đến tham quan du lịch VQG Cúc Phương những
năm gần đây đều có xu hướng tăng, tính trung bình giai đoạn 1994 –
2010 số lượng khách đến VQG là 56.683 lượt khách, trong đó khách nội
địa là 51.933 lượt và khách quốc tế là 4.750 lượt khách. Năm có số
lượng khách đến cao nhất lên tới 84,959 lượt khách và năm thấp nhất
cũng có tới 22.443 lượt khách đến thăm quan VQG.
Khách du lịch đến VQG Cúc Phương khá đa dạng bao gồm khách
quốc tế và khách nội địa, Tuy nhiên lượng khách quốc tế vẫn chiếm tỷ lệ
không cao trong cơ cấu khách đến VQG.(Trung bình từ năm 1994 đến
năm 2010 số lượng khách quốc tế chỉ chiếm 8,4% )
sinh viên và nhân viên văn phòng. Đối tượng khách là học sinh – sinh
viên chiếm đến 23%, nhân viên văn phòng chiếm đến 34% trong cơ cấu
khách đến thăm VQG
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong khai thác DLST
Kết quả phỏng vấn và trao đổi với người dân địa phương về mức độ
tham gia của người dân vào hoạt động quản lý tài nguyên rừng và DLST
tại VQG Cúc Phương cho thấy:
- Du lịch còn chưa nhận được sự quan tâm của người dân vì đa phần
họ chưa thực sự nhận được những lợi ích rõ rệt từ hoạt động du lịch.
- Thái độ của người dân có thiện cảm với khách du lịch và người dân
mong muốn mở rộng hoạt động du lịch để có được cơ hội tham gia.
16
- Mối quan hệ giữa Ban quản lý VQG và người dân chưa được chặt
chẽ trong việc phối hợp và chia sẽ lợi ích trong việc bảo vệ tài nguyên
rừng và hoạt động du lịch.
- Nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương trong việc hưởng lợi từ
rừng trong VQG đang bị hạn chế do những quy định của quản lý rừng
đặc dụng.
Từ những thực tế trên cho thấy cần phải xây dựng cơ chế và mô hình
tổ chức quản lý tài nguyên rừng và mô hình phát triển DLST phù hợp để
cộng đồng dân cư địa phương tham gia. Khi cộng đồng dân cư địa
phương nhận thức đầy đủ về trách nhiệm cũng như lợi ích kinh tế mà họ
có thể được hưởng từ hoạt động quản lý rừng và DLST thì họ chính là
lực lượng nòng cốt trong bảo tồn VQG.
Sự tham gia của doanh nghiệp du lịch trong khai thác DLST
Thông qua việc tham vấn ý kiến của các công ty du lịch cho thấy
việc tham gia của các công ty du lịch trong việc phát triển DLST ở VQG
Cúc Phương là chưa thực sự rõ nét. Các công ty du lịch hiện nay chỉ đơn
thuần là công ty đưa khách du lịch đến tham quan VQG và sử dụng các
địa phương.
4.1.2. Giải pháp thực hiện
Giải pháp về tổ chức quản lý
Để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên tại các VQG thì cần phải xác
định rõ sứ mệnh và tầm nhìn mới đối với VQG và sứ mệnh và tầm nhìn
này phải được công bố rộng rãi nhằm thu hút hơn nữa sự quan tâm của
xã hội và khách du lịch. Sứ mệnh và tầm nhìn của VQG cần nhấn mạnh
ngoài chức năng bảo tồn hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học thì nguồn tài
nguyên tại các VQG là một tài nguyên du lịch đặc trưng, phù hợp với xu
hướng phát triển du lịch hiện nay, đó là du lịch sinh thái.
Để thực hiện tốt sứ mệnh và tầm nhìn mới về VQG thì cần tổ chức
một bộ phận quản lý nhà nước đối với các VQG phù hợp, có thể thành
lập Cục VQG và khu BTTN với chức năng quản lý Nhà nước về tài
18
nguyên này. Cục VQG và khu BTTN sẽ có chức năng phối hợp giữa
quản lý rừng đặc dụng và các cơ quan du lịch.
Giải pháp về quản lý tài nguyên bền vững
Cùng với việc khai thác DLST thì các VQG cũng phải tổ chức bảo
vệ rừng, đây là nguồn tài nguyên cho phát triển DLST. Việc quản lý ở
đây đòi hỏi phải được tổ chức một cách hợp lý vừa đảm bảo được giữ
được tài nguyên đồng thời đem lại hiệu quả cho người dân địa phương.
Mô hình đồng quản lý tài nguyên là một mô hình phù hợp cho việc bảo
vệ và phát triển tài nguyên tại các VQG.
Giải pháp về cơ chế thực hiện
Để tổ chức quản lý hệ thống VQG và khu BTTN hiệu quả, kết hợp
khai thác được lợi ích từ tài nguyên DLST, bảo vệ đa dạng sinh học và
thực hiện được sứ mệnh của VQG thì:
- Bộ NN&PTNT thống nhất phân loại các loại rừng phù hợp, thống
nhất giữa các văn bản luật và theo thông lệ quốc tế để thuận lợi cho việc
- Xây dựng cơ chế phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng dân
cư địa phương và các doanh nghiệp du lịch hoạt động nhằm khai thác hiệu
quả tài nguyên du lịch sinh thái của VQG
Nội dung chính của giải pháp
Giải pháp về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động cho VQG
Về mô hình tổ chức: Để đạt hiệu quả tối đa về bảo tồn đa dạng sinh
học và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái thì cần thành lập
bộ phân kinh doanh DLST một cách độc lập, chuyên nghiệp với mục
Tài nguyên du lịch
tại VQG
3.Các công ty DL
2.Cộng đồng địaphương
4. Khách du lịch
1.Ban Q.lý VQG
DU LỊCH SINH THÁI
BỀN VỮNG
20
tiêu vừa khai thác tiềm năng của VQG vừa tạo nguồn thu phục vụ cho
việc bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn.
Thành lập công ty TNHHMTV du lịch sinh thái và giáo dục môi
trường trực thuộc Ban quản lý rừng. Công ty này hoạt động theo luật
doanh nghiệp. Công ty được tự chủ kinh doanh, được vay vốn, huy động
vốn để đầu tư phát triển và khai thác DLST tại VQG. Lợi nhuận của
= 135
(nghìn đồng)
Từ kết quả nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của du khách khi đến
VQG Cúc Phương và giá vé hiện tại mà Vườn đang áp dụng thì giá vé
vào của cho VQG nên được xác lập ở mức vé lớn hơn 46.000 đồng và
nhỏ hơn 135.000 đồng.
Ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và nguồn thu tại chỗ tại
VQG thì các VQG có thể : Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính của các tổ
chức trong và ngoài nước về bảo tồn thiên nhiên và phát triển DLST,
Vay vốn ngân hàng để đầu tư và phát triển DLST…
Ngoài 2 giải pháp chính là xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế hoạt
động và xác đinh giá vé vào cửa cho VQG để đảm bảo 2 mục tiêu là vừa
bảo tồn được đa dạng sinh học vừa tăng được nguồn thu từ hoạt động
khai thác DLST tại VQG thì các VQG cần xây dựng các chính sách kinh
doanh DLST phù hợp và hiệu quả như các chính sách về thị trường, sản
phẩm du lịch, đội ngũ lao động….
4.2.3. Nhóm giải pháp tới cộng đồng địa phương
Mục tiêu của giải pháp
Nâng cao nhận thức về môi trường tự nhiên và năng lực tham gia vào
hoạt động du lịch cho người dân nhằm để người dân đạt được các mục tiêu
cụ thể về môi trường, kinh tế và văn hóa – xã hội.
Nội dung chính của các giải pháp
Các giải pháp tập trung vào việc giáo dục nhận thức về môi trường
và đào tạo bồi dưỡng năng lực để người dân tham gia vào hoạt động du
lịch để có thêm thu nhập phụ, từng bước có thể thành thu nhập chính
cho một bộ phận các cư dân địa phương.
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung của giải pháp thì đòi hỏi cộng
đồng dân cư và Ban quản lý VQG phải có cơ chế thực hiện thống nhất.
Đối với cộng đồng địa phương tìm kiếm sự tham gia, họ có thể chọn
22
bền vững tại VQG.
23
- Có các tiêu chí giúp khách lựa chọn các chương trình DLST đích
thực khi tham quan các khu vực trong VQG.
- Tăng thêm mức đóng góp của khách trong các nỗ lực bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và giá trị văn hóa.
- Nâng cao giáo dục môi trường và trải nghiệm cho khách du lichjsau
mỗi chuyến đi.
Nội dung chính của giải pháp
Tổ chức các hoạt động cộng đồng như hội thảo, tọa đàm, giới thiệu
trong website về DLST và phát triển bền vững nói chung và mô hình
DLST theo hướng bền vững nói riêng tại VQG với những đặc thù rất
khác biệt của các VQG để thu hút sự chú ý của các khách du lịch hiện
có và tiềm năng. Lập danh mục các công ty và các sản phẩm DLST đạt
chuẩn để du khách có thể tìm hiểu và lựa chọn được các công ty cung
cấp các sản phẩm DLST theo hướng bền vững thực thụ và có chất lượng
phù hợp.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Luận án nghiên cứu giải pháp quản lý các VQG ở Việt Nam và các
đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên DLST cho
các VQG. Trong khuôn khổ giới hạn nội dung nghiên cứu của luận án,
tôi rút ra một số kết luận sau:
- Mối quan hệ giữa phát triển DLST và bảo tồn tại các VQG có cả
mặt tích cực và tiêu cực. Nếu các VQG có cơ chế, chính sách quản lý
chặt chẽ kết hợp với các phương án khai thác hợp lý thì việc khai thác
DLST là một lợi thế rất lớn để thu hút các nguồn lực phục vụ lại cho
công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
- Các VQG Việt Nam có nguồn tài nguyên rất phong phú cho phát
trong giới hạn nghiên cứu chưa được khắc phục, như: chưa định lượng
tác động của phát triển du lịch đến môi trường, Chưa đánh giá được
hiệu quả của các mô hình quản lý, khai thác du lịch tại các VQG.