1
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực, nội
dung trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội
dung nghiên cứu trong Luận văn này.
Nha Trang, tháng 05 năm 2010
Tác giả luận văn Nguyễn Tiến Thắng
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Thắng
3
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Bố cục của đề tài: 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 9
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên-xã hội 9
1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình 9
1.1.2. Các đơn vị hành chính 10
1.1.3. Hệ thống giao thông 10
1.1.4. Dân số, lao động và thành phần dân tộc 11
1.2. Tổng quan về đặc điểm thời tiết, khí hậu và thủy văn tỉnh Đắk Lắk 13
1.2.1. Đặc điểm thời tiết và khí hậu 13
1.2.2. Đặc điểm về thủy văn 14
1.3. Tiềm năng phát triển nghề khai thác thủy sản 17
1.4. Hiện trạng quản lý nghề cá tại lưu vực sông Srêpốk thuộc tỉnh Đắk Lắk 19
1.4.1. Cơ quan quản lý nghề cá nội địa tỉnh Đắk Lắk 19
1.4.2. Thể chế, pháp luật 19
1.4.3. Đánh giá chung về hiện trạng quản lý nghề cá 21
nguồn lợi thủy sản trên lưu vực sông Srêpốk 51
3.4. 2. Các giải pháp quản lý nghề khai thác thủy 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1. Kết luận 63
2. Khuyến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC: 67
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Phân bố dân số của các huyện tại lưu vực sông Srêpốk 11
Bảng 3.1. Lao động tham gia đánh bắt cá tại lưu vực sông Srêpốk 31
Bảng 3.2. Số lượng cán bộ quản lý nghề cá tỉnh Đắk Lắk 32
Bảng 3. 3: Danh sách các loài cá kinh tế và quý hiếm của tại lưu vực sông Srêpốk 34
Bảng 3.4. Thành phần một số loại cá ngư dân đánh bắt được trong lưu vực 36
Bảng 3.5: Cơ cấu nghề nghiệp của các huyện 37
Bảng 3.6: Ngư cụ đánh bắt thủy sản trong lưu vực sông Srêpốk
38
Bảng 3.7: Phân bố tàu thuyền khai thác theo các huyện tại lưu vực sông Srêpốk 39
Bảng 3.8: Sản lượng khai thác cá tự nhiên qua các năm 41
Bảng 3.9: Sản lượng khai thác theo nghề ước tính năm 43
Bảng 3.10: Sản lượng khai thác của các huyện tính theo nghề ước tính năm 43
Bảng 3.11: Sản lượng khai thác tính theo nghề ước tính năm của huyện Ea Soup 44
Bảng 3.12: Sản lượng khai thác tính theo nghề ước tính năm của huyện Krông Buk 44
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sông Srêpốk là một nhánh chính của sông Mê Kông, với tổng diện tích toàn lưu
vực trên lãnh thổ Tây Nguyên là 18.200 km
2
. Phần lớn diện tích lưu vực nằm trong
tỉnh Đắk Lắk (khoảng 10.400 km
2
- Đánh giá hiện trạng hoạt động khai thác cá tự nhiên tại lưu vực sông Srêpốk
thuộc tỉnh Đắk Lắk.
- Đề xuất giải pháp quản lý nghề nghề khai thác thủy sản tại lưu vực sông Srêpốk
thuộc tỉnh Đắk Lắk.
2. Bố cục của đề tài:
Bố cục của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và khuyến nghị
9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên - xã hội
1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, phía Tây dãy Trường Sơn Nam,
trong phạm vi địa lý từ 107
0
28’57”-108
0
núi cao và trảng cỏ ở núi thấp và đồi thoải [3].
10
Địa hình bán bình nguyên Easoup
Địa hình bán bình nguyên Easoup nằm ở phía Tây tỉnh, tiếp giáp với các cao
nguyên. Vùng có địa hình khá bằng phẳng, đồi lượn sóng nhẹ, độ cao trung bình 180
m, có một vài dãy núi nhô lên như Yok Đôn, Chư M’Lanh Phần lớn đất đai của
khu vực này là đất xám, tầng mỏng và đặc trưng thực vật là rừng khộp rụng lá vào
mùa khô [3].
Địa hình vùng bằng trũng Krông Păc - Lăk:
Vùng địa hình thấp trũng Krông Păc - Lăk nằm ở phía Đông Nam của tỉnh,
giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và dãy Chư Yang Sin, độ cao trung bình của vùng là
400 - 500 m [10]. Đây là thung lũng của lưu vực sông Srêpốk, có các vùng bằng trũng
dọc theo các sông Krông Pắc, Krông Ana với cánh đồng Lăk – Krông Ana rộng
khoảng 20.000 ha. Hàng năm thường bị lũ vào tháng 9 và 10.
1.1.2. Các đơn vị hành chính
Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 13 huyện (Ea H’leo, Easoup,
Krông Năng, Krông Busk, Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea Kar, Ma Drắk, Krông Pắk,
Krông Bông, Krông Ana, Lắk và Cư Kuir) 01 thị xã (thị xã Buôn Hồ) và 01 thành
phố (thành phố Buôn Ma Thuột) [3]. Các huyện, thành phố có vị trí thuận lợi cho
phát triển thủy sản như thành phố Buôn Ma Thuột, Huyện Lắk, Krông Pắk, Krông
Ana và Easoup [3].
1.1.3. Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông tỉnh Đắk Lắk thuận lợi hơn so với các tỉnh thuộc khu vực
Tây Nguyên khác. Có hệ thống giao thông huyết mạch của Quốc gia và vùng Tây
Nguyên, đặc biệt có tuyến đường giao thông quan trọng nối liền với các tỉnh trong vùng
Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Tuyến Quốc lộ 14 nối liền từ thành phố Hồ Chí
Minh với các tỉnh Tây Nguyên (nối các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum), là Quốc lộ
quan trọng trong việc đẩy mạnh vận chuyển hàng hóa giữa các vùng, miền với nhau, đặc
biệt Quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước (Việt Nam và Campuchia) rất thuận
2
)
Dân số
(người)
Thành
thị
Nông
thôn
Hoạt động kinh tế
Ea Soup 1.750
39.144
9.177
29.967
Nông-Lâm Nghiệp, Thủy
lợi, Thủy sản, Công
nghiệp, Dịch vụ
Krông Buk 642
151.981
18.112
133.869
-nt-
Buôn Đôn 1.414
172.819
-nt-
Lắk 1.250
55.072
6.349
48.723
-nt-
(Nguồn: Dự án Sông Mê Kông lưu vực sông Srêpốk thuộc tỉnh Đắk Lắk năm 2008)
Dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn, chiếm 90% dân số của các huyện thuộc
lưu vực sông Srêpốk, 10% là thành thị. Điều đó cho thấy, đời sống của bà con chủ yếu
tập trung vào Nông – Lâm và Thủy sản.
12
Nhận xét: Từ nghiên cứu trên cho thấy:
Tỉnh Đắk Lắk có điều kiện tự nhiên tốt để phát triển nghề cá nội địa. Song do
điều kiện địa hình phức tạp, trình độ dân trí thấp, người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ
khá cao nên ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển và quản lý nghề cá tại địa phương.
Những đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh cũng có ảnh hưởng
nhất định trong quá trình thưc hiện đề tài.
Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Srêpốk
Nguồn: Dự án Sông Mê Kông các tỉnh Tây Nguyên
13
không mưa như vùng Ea Sup. Lượng mưa năm biến động lớn (lượng mưa năm lớn
nhất gấp 2,5 - 3 lần lượng mưa năm nhỏ nhất) [3].
Mùa mưa ở Tây Nguyên còn chịu ảnh hưởng của các cơn bão ở duyên hải
Trung Bộ. Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 8, 9 thường gây lũ lụt, đặc biệt là lũ
quét ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Trong mùa
mưa đôi khi xảy ra tiểu hạn từ 15 - 20 ngày gây thiệt hại nghiệm trọng cho sản xuất
nông nghiệp.
Độ ẩm: Độ ẩm không khí ở Đắk Lắk khá cao, trung bình năm khoảng 82%. Độ
ẩm cao vào mùa mưa và thấp vào mùa khô.
14
Khả năng bốc hơi phụ thuộc vào các mùa. Mùa mưa khả năng bốc hơi kém hơn
mùa khô. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm dao động từ 1.300 - 1.500 mm bằng
70% lượng mưa năm.
Nắng: Đắk Lắk là nơi có nhiều nắng. Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm
khoảng 2.139 giờ. Mùa khô số giờ nắng trung bình cao hơn (1.167 giờ) so với mùa
mưa (972 giờ) [18].
Gió: Hướng gió thay đổi theo mùa và từng khu vực. Mùa mưa gió Tây Nam
thịnh hành, thổi nhẹ khoảng cấp 2, cấp 3. Mùa khô gió thịnh hành là gió Đông Bắc
thường thổi mạnh cấp 3, cấp 4 có lúc mạnh lên cấp 6, cấp 7. Gió tốc độ lớn thường gây
khô hạn [3].
Nói chung khí hậu Đắk Lắk tương đối ôn hòa, phù hợp với nền sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, biên độ dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn. Sự thay đổi lớn
về nhiệt độ theo ngày đêm có thể gây khó khăn cho sản xuất. Về lượng mưa có sự
khác nhau rõ rệt giữa hai mùa mưa và khô. Mùa mưa lượng mưa lớn tập trung gây lũ
lụt và làm pha trộn các hệ sinh vật ao, hồ, sông suối đồng thời gây xói mòn và rửa trôi
đất đai. Mùa khô thường gây thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt.
1.2.2. Đặc điểm thủy văn
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk khá phong phú, phân bố tương
đối đồng đều với 2 hệ thống sông chính (hệ thống sông Srêpốk và hệ thống sông Ba)
Bông, Krông K’Mar. Suối Krông Buk bắt nguồn từ dãy núi Rồng thuộc cao nguyên
Đắk Lắk. Suối Krông Pắc bắt nguồn từ dãy núi phía Tây tỉnh Khánh Hòa. Suối Krông
Bông bắt nguồn từ dãy núi phía Đồng Nam tỉnh. Diện tích lưu vực sông là 3.960 km
2
,
chiều dài dòng chính 215 km. Dòng chảy bình quân 21 lít/s/km
2
. Độ dốc lòng sông
không đồng đều, những nhánh lớn ở thượng nguồn 4-5%, đoạn hạ lưu thuộc Lăk –
Buôn Trăp có độ dốc 0,25%. Dòng sông gấp khúc gây lũ lụt hàng năm trên phạm vi
khá rộng, đồng thời cũng bồi đắp phù sa tạo nên những cánh đồng màu mở ven sông.
Sông Ea H’Leo bắt nguồn từ độ cao 800 m trên địa phận xã Dliê Ya huyện
Krông Năng. Sông có chiều dài 143 km chảy qua 2 huyện Ea Hleo và Ea Sup trước khi
hợp lưu với suối Ea Lốp cách biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia khoảng 1 km rồi đổ
vào sông Srêpốk trên đất CampuChia. Diện tích lưu vực của sông Ea H’leo là 3.080
km
2
nằm trên địa bàn 6 huyện thuộc 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai. Sông Ea H’Leo có
nhánh chính là suối Easoup có diện tích lưu vực 994 km
2
chiều dài 104 km. Hai công
trình thuỷ lợi lớn Ea Sup hạ và Ea Sup thượng đã được xây dựng trên dòng suối này để
cung cấp nước tưới cho vùng Ea Sup với diện tích trên 10.000 ha.
1.2.2.2 Hệ thống sông Ba
Lưu vực sông Ba 13.900 km
2
nằm về phía Đông Bắc tỉnh, có hai thủy lưu chính
chảy trong phạm vi của tỉnh là sông Krông H’Năng và sông Hinh. Hai sông này bắt
16
Đặc điểm thời tiết và khí hậu phân biệt rõ hai mùa mưa và nắng; Đặc điểm này
có ảnh hưởng đến quá trình phát triển nghề cá tỉnh Đắk Lắk. Bên cạnh đó, chế độ thủy
văn (hệ thống sông) tại lưu vực rất lớn, quyết định đến khả năng phát triển nghề cá khu
vực Tây nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
1.3. Tiềm năng phát triển nghề khai thác thủy sản
Mặt nước
Đắk Lắk có hệ thống sông suối phong phú cùng hàng trăm hồ chứa và hồ tự
nhiên lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn tỉnh là điều kiện thuận lợi để
phát triển ngành thuỷ sản nói chung và nghề khai thác thuỷ sản nội địa nói riêng.
Lưu vực sông Mê Kông là vùng có đa dạng sinh học cao với quần thể động thực
vật phong phú. Nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của
người dân. Phần lớn diện tích lưu vực sông Srêpốk (thuộc lưu vực sông Mê Kông) ở
Tây Nguyên nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Các nhánh sông Srêpốk chảy qua địa bàn
Hình 1.2: Các thủy vực trong lưu vực sông Srêpốk thuộc tỉnh Đắk Lắk
Nguồn: Dự án Sông Mê Kông các tỉnh Tây Nguyên 18
tỉnh Đắk Lắk được xem là nơi có nguồn lợi thuỷ sinh vật tự nhiên phong phú nhất của
hệ thống sông Mê Kông ở Tây Nguyên. Các loài thuỷ sinh vật ở đây đóng vai trò chủ
yếu là cung cấp sản lượng thuỷ sinh vật tự nhiên cho toàn tỉnh và một số tỉnh lân cận.
Bên cạnh đó, sông Mê Kông, Sông Ba và các hồ ở tỉnh Đắk Lắk cũng có tiềm
năng lớn cho nghề khai thác, góp phần làm tăng đa dạng sinh học các loài thuỷ sinh.
Ngoài ra, một số công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng thêm là tiềm
năng to lớn để phát triển nghề cá ở tỉnh Đắk Lắk.
Với sự ưu đãi về diện tích mặt nước, cùng điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi,
hệ thống trại sản xuất giống, cơ sở ương san giống tương đối lớn và nguồn lao động
dồi dào, nghề khai thác thủy sản ở Đắk Lắk có nhiều điều kiện để phát triển.
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần, dịch vụ khai thác thủy sản
Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nghề cá tỉnh Đắk Lắk
Cơ quan quản lý cao nhất ở tỉnh Đắk Lắk là Sở Nông nông và Phát triển Nông
thôn. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về
mặt chuyên ngành được giao và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh.
Dưới Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn là Chi cục Thủy sản tỉnh Đắk Lắk
chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về chuyên ngành trước Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn. Tiếp đến là các Phòng kinh tế, Phòng Nôn nghiệp và Phát triển Nông
thôn các huyện.
1.4.2. Thể chế, pháp luật
Việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực Khai thác thủy sản trong thời gian trước
đây tại tỉnh Đắk Lắk chưa hợp lý. Để quản lý tốt nguồn lợi thủy sản hợp lý và bền
vững, ngành thủy sản hiện nay đang thực hiện luật Thủy sản ban hành năm 2003 cùng
các thông tư hướng dẫn của ngành.
UBND tỉnh Đắk Lắk Sở NN và PTNT
Chi cục Thủy sản
Phòng Kinh tế, Phòng NN và
PTNT20
- Tại Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 quy định về điều
kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản đã dành khoản 2 điều 5 quy định
về cấp giấy phép trong các trường hợp sau:
+ Khai thác cá loại thủy sản bị cấm; khai thác trong vùng cấm; trong thời gian
cấm khai thác hoặc bằng nghề cấm;
+ Khai thác các loại thủy sản thuộc danh mục các loại thủy sản mà Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã công bố trữ lượng nguồn lợi của các loài này đang
bị suy giảm nghiêm trọng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
- Nghị đinh số 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về
khai thác thủy sản ít được quan tâm hơn. Hiện tại, mới thực hiện mô hình đồng quản lý
tại hồ Lắk và hồ Easoup do Dự án Quản lý nghề cá lưu vực Mê Kông (FMG) tài trợ và
Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung thuộc Viện Nghiên cứu
nuôi trồng thủy sản III thực hiện.
1.5. Tổng quan về nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1.5.1. Tình hình nghiên cứu của nước ngoài
Hiện nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh
vực khai thác như khai thác hợp lý với nguồn lợi của thủy vực cá phân bố và định
hướng phát triển nghề cá nội đồng theo hướng bền vững.
Chẳng hạn phương pháp ước tính trữ lượng cá của một thủy vực nội địa dựa
vào phương pháp điều tra sản lượng cá được đưa vào bến cá trong thời gian trong
năm hay áp dụng phương pháp thu mẫu một số thời điểm rồi ước tính sản lượng cá
cho cả năm.
22
Ước tính sản lượng khai trong thủy vực nội địa người ta thường xây dựng các
mô hình dự báo thực nghiệm. Bước đầu là chọn mẫu một số thủy vực đặc trưng cho
từng loại hình rồi tiến hành điều tra năng suất khai thác thủy sản thực tế. Sau đó thu
thập một số yếu tố môi trường có mối quan hệ mật thiết với năng suất thủy sản trong
cùng thời điểm. Từ đó xây dựng những mô hình ước tính sản lượng từ một số yếu tố
cơ bản.
- Hasan và CTV (1999) đã ước tính năng suất cá nuôi ở một số thủy vực ở
Bangladesh dựa vào độ trong (Secchi disc).
- Nissanka và CTV (2000) đã xây dựng mô hình ước tính sản lương cá hồ
chứa ở Srilanka dựa vào các thông số như số ngày đánh bắt, diện tích lưu vực…
- Nissanka và Amarashinge ở Srilanka (2001) đã thiết lập mô hình thực nghiệm
ước tính năng suất cá (kg/ha/năm) ở các hồ chứa dựa vào mối quan hệ giữa diện tích
và năng suất cá thực tế.
- Amarashinge và CTV (2001) đã ước tính năng suất của một số hồ chứa
Srilanka dựa vào số ngày đánh cá theo thuyền/ ha/năm.
24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cách tiếp cận
- Kế thừa và phát triển các thành tựu trong nghiên cứu khoa học về khai thác và
quản lý nghề cá nội địa ở trong và ngoài nước để điều tra các thông tin về nghề khai
thác thủy sản tại lưu vực sông Srêpốk thuộc tỉnh Đắk Lắk.
- Kế thừa các thông tin của Dự án quản lý nghề cá lưu vực sông Mê Kông -
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III về điều tra nghề cá ở lưu vực sông Srêpốk.
- Tiếp cận với ngư dân thông qua việc điều tra bằng bộ câu hỏi, phỏng vấn theo
nhóm để thu thập thông tin và ý kiến của ngư dân.
- Tiếp cận chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng quản lý nghề cá
tỉnh thông qua bộ câu hỏi.
- Phỏng vấn theo mẫu điều tra ngư dân, những người tham gia khai thác thủy
sản trên lưu vực sông Srêpốk thuộc tỉnh Đắk Lắk để lấy thông tin về sản lượng, đối
tượng khai thác, mùa vụ, ngư cụ khai thác
- Sản lượng trên một đơn vị cường lực (Catch Per Unit Effort – CPUE) được
thu thập từ điều tra trực tiếp hoặc điều tra từ ngư dân thông qua bộ câu hỏi hay phương
pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA).
Nếu điều tra đồng thời 2 phương pháp để tính CPUE, dựa vào kết quả của từng
phương pháp để tiến hiệu chỉnh CPUE.
- Nếu điều tra CPUE trực tiếp thì có thể sử dụng số liệu này để ước tính sản
lượng khai thác cho từng ngư cụ và theo loài.
nghiệp và bán
chuyên nghiệp)
Các thông tin
về kinh tế xã
hội khác
Ước tính
tổng
cường lực
khai thác
CPUE (sản
lượng cá/đơn
vị cường độ)
(kg/người/
ngày)
Ước tính tổng sản
lượng khai thác
nghề cá tại lưu vực
sông Srêpốk thuộc
tỉnh Đắk Lắk
Các thông tin
khác về nghề
khai thác (ngư
cụ sử dụng, các
loài cá khai
thác )
Tính sản
lượng khai
thác theo loài,
theo ngư cụ
từ mẫu