LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp đỡ
của các thầy, cô giáo trường Đại học Thủy Lợi, đặc biệt là nhà giáo nhân dân
GS.TS Lê Kim Truyền, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý,
bạn bè, đồng nghiệp và cùng sự nỗ lực của bản thân. Đến nay, tác giả đã hoàn thành
luận văn thạc sỹ với đề tài luận văn: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý dự
án công trình thủy lợi giai đoạn đưa vào khai thác vận hành”, chuyên ngành
Quản lý xây dựng.
Các kết quả đạt được là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học trong quá trình
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình thủy lợi giai đoạn đưa
vào khai thác vận hành. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, do điều kiện thời
gian và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong
nhận được những lời chỉ bảo và góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp.
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Lê Kim Truyền đã
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá
trình thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn
Công nghệ và Quản lý xây dựng - khoa Công trình cùng các thầy, cô giáo thuộc các
Bộ môn khoa Kinh tế và Quản lý, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học trường
Đại học Thủy Lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt luận văn
thạc sĩ của mình.
Tác giả chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại thư viện Trường Đại
học Thủy Lợi, tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ, kỹ sư cùng các cán bộ
công tác tại Hội Đập lớn Việt Nam, đã tạo điều kiện cung cấp các tài liệu liên quan
và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động
viên, khích lệ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Cúc
BẢN CAM KẾT
THỐNG THỦY NÔNG HIỆN NAY VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 30
2.1 Những cơ sở và thể chế chính sách trong quản lý hệ thống thủy nông 30
2.2 Các mô hình tổ chức quản lý hệ thống thủy nông 34
2.2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về công tác thủy nông 34
2.2.2 Tổ chức quản lý sản xuất 37
2.2.3 Phương hướng đổi mới hoàn thiện cơ chế tổ chức và quản lý thủy nông49
2.3 Lập kế hoạch dùng nước và công tác vận hành quản lý hệ thống thủy
nông 60
2.3.1 Mục đích ý nghĩ của việc lập kế hoạch dùng nước 61
2.3.2 Các phương pháp lập kế hoạch dùng nước 61
2.3.3 Các loại kế hoạch dùng nước 62
2.3.4 Nội dung và các bước lập kế hoạch dùng nước của cơ sở và đơn vị dùng
nước 63
2.3.5 Nội dung và kế hoạch dùng nước của hệ thống 64
2.3.6 Công tác vận hành quản lý hệ thống thủy nông 65
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3. DUY TU BẢO DƯỠNG VÀ ÁP DỤNG CÁC TIẾN BỘ KHOA
HỌC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỂ KHÔNG NGỪNG NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ 70
3.1. Mở đầu 70
3.2. Những quy định trong công tác duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình 71
3.3. Nội dung của công tác kiểm tra, quản lý hệ thống công trình thủy nông72
3.3.1 Đảm bảo nhu cầu cấp thoát nước cho sản xuất nông nghiệp, dân sinh và
các ngành kinh tế 72
3.3.2 Cung cấp đầy đủ nước sạch và đảm bảo vệ sinh nông thôn 73
3.3.3 Quản lý khai thác hệ thống các công trình 73
3.3.4 Hoàn thiện công tác phân cấp quản lý khai thác hệ thống các công trình.73
3.3.5 Phát triển thủy lợi theo hướng góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ
phát triển nông thôn 74
3.4. Nội dung của công tác bảo dưỡng, sửa chữa trên hệ thống công trình
4.3.3. Phương pháp giá trị - giá trị sử dụng 106
4.4 Đánh giá hiệu quả của hệ thống mang lại 107
4.5 Những kiến nghị trong công tác tổ chức quản lý vận hành hệ thống công
trình 108
Kết luận chương 4 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
Kết luận 113
Kiến nghị 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Quang cảnh Hồ Dầu Tiếng 5
Hình 1.2: Cụm công trình đầu mối Tắc Giang – Phủ Lý – Hà Nam phục vụ sản xuất
nông nghiệp 9
Hình 1.3: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 11
Hình 1.4: Xây đập ngăn nước vùng thượng lưu sông Mekong ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nguồn nước và xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long 14
Hình 1.5: Sử dụng nước ngầm tưới Cải tại Vĩnh Châu 15
Hình 1.6: Một trạm cấp nước vùng ven biển huyện Vĩnh Châu 15
Hình 2.1. Bộ máy Quản lý Nhà nước về thủy nông 35
Hình 2.2. Mô hình tổ chức quản lý HTTN liên tỉnh (Loại trực thuộc Bộ NN &
PTNT 39
Hình 2.3. Mô hình tổ chức quản lý HTTN liên huyện (do UBND tỉnh thành lập, trực
thuộc sở NN &PTNT) 40
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
CTTL : Công trình thủy lợi
FAO : Tổ chức nông lương thế giới
HĐH : Hiện đại hóa
HTTN : Hệ thống thủy nông
HTTL : Hệ thống thủy lợi
HDN : Hội dùng nước
HTX : Hợp tác xã
HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp
HTXDV : Hợp tác xã dịch vụ
IPCC : Uỷ ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu
IWMI : Viện quản lý nước quốc tế
KHTL : Khoa học thủy lợi
KHDN : Kế hoạch dùng nước
NN &PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NC : Nghiên cứu
TNMT : Tài nguyên Môi trường
TT CNPM TL : Trung tâm Công nghệ phần mềm thủy lợi
TN : Tài nguyên
TNN : Tài nguyên nước
UBND : Ủy ban nhân dân
XNTL : Xí nghiệp thủy lợi
XNTN : Xí nghiệp thủy nông
1
2
xuống cấp hiệu quả đầu tư thấp chính vì vậy cần được nghiên cứu công tác tổ chức
quản lý từ giai đoạn đầu tư xây dựng công trình
Xuất phát từ các vấn đề về công trình vừa nên trên, tác giả luận văn chọn đề
tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình thủy lợi giai đoạn
đưa vào khai thác vận hành”.
2. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu mô hình tổ chức, quản lý hệ thống thủy nông sau khi được đầu
tư xây dựng, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác công trình và giảm chi phí duy tu
bảo dưỡng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu tổng quan
- Phương pháp thu thập phân tích tài liệu
- Phương pháp chuyên gia, hội thảo
- Phương pháp quan sát trực tiếp
- Phương pháp nhân quả
- Phương pháp kế thừa những kết quả đã tổng kết, nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Quản lý xây dựng các dự án xây dựng công trình thủy lợi
tưới tự chảy trong giai đoạn vận hành khai thác.
5. Kết quả dự kiến đạt được
- Đánh giá được thực trạng tình hình quản lý hệ thống thủy nông hiện nay
- Đề xuất được các giải pháp cải tiến và áp dụng tiến bộ khoa học trong công
tác quản lý hệ thống thủy nông
- Nâng cao hiệu quả khai thác công trình sau khi nghiên cứu mô hình tổ chức,
quản lý hệ thống thủy nông sau khi được đầu tư xây dựng
- Đánh giá hiệu quả đầu tư hệ thống tưới
thủy nông chưa rõ ràng và thiếu ổn định, phần nào còn mang tính bao cấp. Theo báo
4
cáo đánh giá của Bộ NN & PTNT thì có các “Nguyên nhân tồn tại trong công tác
quản lý công trình thủy lợi” như:
- Đầu tư cho công tác xây dựng sửa chữa nâng cấp công trình thủy lợi chưa
đồng bộ và khép kín từ đầu mối đến mặt ruộng.
- Chưa chú trọng đầu tư trang thiết bị quản lý (Mới đầu tư đạt từ 0,7 – 1,6%,
quy định từ 3-7% )
- Tổ chức quản lý khai thác cồng kềnh, kém hiệu lực
- Tổ chức hộ dùng nước ở một số địa phương còn bị bỏ ngỏ, chính quyền địa
phương chưa quan tâm để phát triển loại tổ chức này…
- Nguồn lực phát triển chưa tương xứng với yêu cầu (Có hơn 20% công nhân
quản lý vận hành khai thác thủy nông chưa được đào tạo).
Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dự án, đặc biệt giai đoạn vận hành
khai thác công trình việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình
thủy lợi giai đoạn đưa vào khai thác vận hành có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện
quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, nâng cao hiệu suất điều hành hệ thống,
hiệu quả của hệ thống, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
1.1.2 Tình hình phát triển hồ đập ở Việt Nam phục vụ tưới tiêu, phục vụ cho
nông nghiệp (hệ thống thủy nông)
Từ năm 1955 đến nay sự nghiệp thủy lợi nước ta phát triển ngày càng mạnh
mẽ, nhất là từ sau ngày giải phóng miền nam 1975. Những thành tựu do thủy lợi đạt
được như sau:
- Phục vụ sản xuất nông nghiệp
Năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thủy nông (HTTN) vừa và lớn tập
trung ở các tỉnh Trung du, Đồng Bằng Bắc Bộ, khu 4 cũ, Duyên Hải miền Trung
cùng với một số kênh lạch tạo nguồn ở Đồng Bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với
tổng năng lực tưới mới đạt 324.900 ha, tiêu mới đạt 77.000 ha.
10.000 trạm bơm điện lớn, 5000 cống, 255.000 km kênh mương
[11]
. Bảo đảm tưới
cho 7,65 triệu ha lúa (2,89 triệu ha lúa Đông Xuân, 2,25 triệu ha lúa Hè thu, 2,51
triệu ha lúa Mùa), tiêu 1,72 triệu ha đất nông nghiệp, ngăn mặn cho 87 vạn ha, cải
tạo chua phèn 1,6 triệu ha, cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp trên 5 tỷ
m
3
/năm, diện tích rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng
tăng lên, hiện nay đã đạt 1 triệu ha.
6
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động của các HTTN hiện
nay còn ở mức thấp, mới chỉ đạt 55-65% so với năng lực thiết kế. Ví dụ ở tỉnh Điện
Biên: Tỉnh Điện Biên hiện có 836 CTTL vừa và nhỏ. Thực tế cho thấy khá nhiều
công trình có hiệu quả khai thác rất thấp, nếu tính riêng những công trình do cấp
tỉnh quản lý, chỉ khoảng 20% đạt hiệu quả thiết kế.
Hầu hết các hệ thống CTTL ở nước ta được xây dựng từ những thập kỷ 60 đến
90 của thế kỷ trước. Khi đó, nguồn kinh phí có hạn, khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới chưa phát triển. Khi công trình đưa vào vận hành khai thác, nguồn kinh phí tu
bổ, sửa chữa hàng năm đều trông vào nguồn thủy lợi phí. Mức thu thủy lợi phí
không đủ để trang trải chi phí vận hành, tu bổ công trình. Sau nhiều năm các công
ty, xí nghiệp thủy nông (XNTN) hoạt động thu không đủ chi nên công trình ngày
một xuống cấp. Nhiều trục kênh tưới tiêu lớn không có kinh phí nạo vét đã bồi lắng
nghiêm trọng, giảm đáng kể khả năng dẫn nước. Ở vùng ĐBSCL đã đầu tư xây
dựng nhiều hệ thống thủy lợi lớn như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây
Sông Hậu,… đã góp phần mở rộng diện tích lúa hai vụ. Nhưng ở nhiều công trình
mới xây dựng được các tuyến kênh chính, còn thiếu công trình điều tiết và hệ thống
kênh mương cấp dưới và công tác quản lý vận hành chưa tốt nên đã hạn chế năng
cấp những nguyên liệu cần thiết cho các ngành công nghiệp và đóng góp gần 30%
tổng thu nhập quốc dân. Vì vậy mà Đảng và nhà nước xác định: “Nông nghiệp là
một ngành sản xuất chính trong nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay”.
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác phát triển thủy lợi.
Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã xác định “Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để
đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát
triển đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng
tiến bộ khoa học và công nghệ nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa”
Đo điều kiện địa lý và khí hậu thời tiết, nước ta là một trong những quốc gia
có nguồn tài nguyên nước (TNN) khá dồi dào tạo môi trường thuận lợi cho phát
triển sản xuất nông nghiệp, dân sinh và kinh tế xã hội. Tuy nhiên nguồn nước mặt
sản sinh trên lãnh thổ nước ta chỉ chiếm 30% tổng lương nước (xếp hạng thứ 20 trên
Thế giới), còn lại là nước tạo thành trên lãnh thổ các quốc gia láng giềng chảy vào
chiếm 61% (xếp hạng thứ 12 trên Thế giới).
8
Theo tính toán của các nhà khoa học, nhu cầu sử dụng nước phục vụ dân sinh
kinh tế - xã hội của cả nước đến năm 2040 là 260 tỷ m
3
, nguồn tài nguyên nước lại
phân bố không đều theo thời gian và không gian, nên việc khai thác sử dụng nước
gặp không ít khó khăn. Do vậy, sử dụng nguồn nước có hiệu quả và tiết kiệm là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác thủy lợi.
Nhờ có các CTTL phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp mà năng suất, sản lượng
lương thực không ngừng tăng lên. Sản lượng lương thực tăng nhanh đã đưa Việt
Nam xếp hạng thứ 2 trên Thế giới về xuất khẩu gạo và có một nguồn thu ngoại tệ
đáng kể góp phần ổn định cán cân thanh toán quốc tế.
Hệ thống thủy lợi còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phòng chống
phương đã thâm canh ba bốn vụ trong một năm đặc biệt là vùng Đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH). Ngoài ra, việc tưới nước chủ động còn góp phần cho việc sản xuất
cây trồng có giá trị hàng hóa cao như rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả. Hình 1.2: Cụm công trình đầu mối Tắc Giang – Phủ Lý – Hà Nam phục vụ sản
xuất nông nghiệp
Thủy lợi nói chung và các HTTN nói riêng đã đóng góp đáng kể vào việc xóa
đói giảm nghèo ở nông thôn, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Nhiều HTTL ngoài nhiệm vụ chính là tích nước, điều tiết nước phục vụ tưới
tiêu nông nghiệp thì một số hệ thống thủy lợi đã góp phần cải tạo môi trường sinh
thái, tạo cảnh quan du lịch như hồ Suối Hai, Đồng Mô – Ngải Sơn, Đại Lải, Núi
Cốc, Sông Quao, Dầu Tiếng… thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
đến tham quan, thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Bên cạnh đó, các HTTL còn phục vụ phát triển diêm nghiệp thông qua hệ
thống kênh mương dẫn lấy nước biển vào các cánh đồng sản xuất muối, hệ thống
10
cống, bờ bao ngăn nước lũ tràn vào đồng muối phá hoại các công trình nội đồng,
góp phần tiêu thoát nước mưa và nhanh chóng tháo ngước ngọt ra khỏi đồng muối
Các công trình thủy lợi luôn đóng vai trò phục vụ tích cực, có hiệu quả cấp
thoát nước cho nuôi trồng thủy sản. Hệ thống thủy lợi còn là môi trường, là nguồn
cung cấp nước và tiêu thoát nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy
cầm, cấp nước tưới cho các đồng cỏ chăn nuôi…
Phục vụ phát triển lâm nghiệp, giao thông: Các công trình thủy lợi tại các tỉnh
Miền núi, Trung du, Tây nguyên và Đông Nam Bộ cung cấp nước bảo vệ phòng
chống cháy rừng, phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Các bờ kênh mương,
mặt đập dâng, đập hồ chứa, cầu máng được tận dụng kết hợp giao thông đường bộ.
Hồ chứa, đường kênh tưới tiêu được kết hợp làm đường giao thông thủy được phát
2005) và đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm
từ 1,4 đến 4
0
C.
Các quốc đảo nhỏ và các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bên cạnh đó các nước đã phát triển cũng không tránh khỏi thảm họa BĐKH, mặt
khác BĐKH sẽ làm cho năng suất nông nghiệp giảm, thời tiết cực đoan tăng, thiếu
nước ngọt trầm trọng trên toàn thế giới, hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng…
Những nước như Việt Nam, Bangladesh, Myanmar, Ai Cập… sẽ bị ảnh hưởng
nhiều nhất. Nguy cơ bão lụt, thiên tai sẽ làm cho những nước này rất khó khăn để
phát triển kinh tế, đẩy lùi đói nghèo.
Hình 1.3: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
12
Theo các nhà khoa học, các giải pháp hạn chế tình trạng BĐKH toàn cầu cần
đi theo hai hướng sau: Thứ nhất là giảm tác động của BĐKH và thứ hai là thích ứng
với BĐKH.
Bên cạnh đó, trong những năm qua, hạn hán đã xảy ra rất khốc liệt tại nhiều
khu vực trên toàn quốc. Vùng ĐBSH hạn mang đặc điểm hạn thủy văn (không đủ
nguồn nước cấp). Tại miền Trung, chủ yếu là hạn khí tượng (điều kiện thời tiết khô
hạn). Hạn hán ở nước ta đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là do nguyên nhân
của cả tự nhiên và con người, trong đó nguyên nhân từ con người là yếu tố tác động
chủ yếu như gia tăng dân số, chặt phá rừng hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên
quá mức.
1.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước và lưu vực sông
a. Tác động đến tài nguyên nước
BĐKH ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước.
Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong
mặn từ biển vào sâu trong đất liền. Xâm nhập mặn gia tăng, hạn hán kéo dài trong
thời gian tới sẽ tác động mạnh mẽ tới TNN trên cả nước.
b. Suy giảm tài nguyên nước do biến đổi khí hậu
* Suy giảm tài nguyên nước mặt
BĐKH gây ra những hiện tượng thời tiết bất thường, tác động đến TNN
trong đó hạn hán và xâm nhập mặn là 2 quá trình có ảnh hưởng hơn cả.
Sự phân bố của lượng mưa trong không gian và thời gian không đồng đều,
dẫn đến biến đổi về
TNN
trên toàn khu vực. Tình trạng mùa khô không có mưa
hoặc lượng mưa rất thấp trong thời gian tới dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm
trọng cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Hạn hán có thể được thể hiện trong việc thâm hụt lượng mưa, độ ẩm đất,
thiếu dòng chảy trong dòng sông, mức nước ngầm thấp. Nhiệt độ cao hơn, đặc biệt
là trong mùa hè làm tăng nguy cơ hạn hán. Tần suất và cường độ của hạn hán có thể
tăng gây hạ thấp mực nước sông đầu nguồn, nguồn nước mặt trở nên hạn chế trong
mùa khô, gây thiếu hụt nguồn nước.
14Hình 1.4: Xây đập ngăn nước vùng thượng lưu sông Mekong ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nguồn nước và xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tình hình hạn hán hiện nay và trong những năm tới có thể cao hơn trong
cùng điều kiện nguồn nước do nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp toàn lưu vực
sông Mekong tăng nhanh. Tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy giảm do
hạn hán ngày một tăng ở vùng ĐBSCL. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông
nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị.
Vùng ven biến sẽ tiếp tục bị nước mặn xâm nhập ngày càng sâu. Các vùng bị
nhiễm mặn gần như không canh tác nông nghiệp được. Tình hình cung cấp nước
BĐKH có tác động tới lưu vực sông tại các hoạt động sau:
- Thay đổi mục đích sử dụng đất.
- Xói mòn đất mãnh liệt tại hầu hết diện tích lưu vực sông.
- Thay đổi hoạt động dòng chảy của sông.
Hiện nay, lưu vực các dòng sông đang chịu áp lực từ các hoạt động của con
người làm suy giảm và biến đổi nguồn nước trên lưu vực như: phá rừng, xây đô thị,
đất công nghiệp làm suy giảm thảm phủ bề mặt gây ra lũ lụt, trượt lở đất, BĐKH
16
làm căng thẳng thêm tình trạng suy thoái tại lưu vực sông. Những tác động đến lưu
lượng dòng chảy bao gồm:
+ Biến đổi thể tích và dòng chảy.
+ Gia tăng các thiên tai lũ lụt và hạn hán thủy văn.
+ Làm tăng xói mòn đất, trượt lở đất.
Ngoài những tác động đến lưu lượng dòng chảy của sông, BĐKH còn gây nên
những tác động đến chất lượng nước và nhu cầu sử dụng chúng:
+ Làm trầm trọng thêm ô nhiễm nguồn nước (ấm lên, vi khuẩn, carbon hữu cơ,
trầm tích, chất rắn lơ lửng).
+ Làm cho phí sử dụng nước căng thẳng thêm do tăng nhu cầu từ dân số và
kinh tế phát triển.
+ Dâng cao mực nước biển và gia tăng nước mặn xâm nhập vào tầng nước
ngầm.
1.3.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các hệ thống công trình thủy lợi
An toàn của các hồ chứa bị đe doạ do có sự phân bố lại lượng nước mưa theo
không gian và thời gian đã có nhiều thay đổi so với thiết kế ban đầu, đó là xuất hiện
vùng mưa rất lớn, vùng ít mưa; thời gian mưa tập trung trong thời gian ngắn, hạn
hán kéo dài; tần suất xuất hiện nhiều hơn, phức tạp hơn, cường độ mạnh hơn.
Mực nước biển dâng làm hệ thống đê biển hiện tại có nguy cơ tràn và vỡ đê
ngay cả khi không có các trận bão lớn. Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao làm
bằng những công nghệ phù hợp đáp ứng với BĐKH của từng loại công trình, từng
khu vực trong cả nước.
- Tác động đối với cấp nước và xâm nhập mặn
Nước biển dâng cao sẽ kéo theo xâm ngập mặn lấn sâu vào nội địa tại các
vùng cửa sông ven biển nếu không có các công trình ngăn mặn thích hợp. Khi nước
biển dâng cao nhiều vùng sẽ bị thiếu nước tưới do các cống không thể lấy nước vì
mặn, đặc biệt là vùng hạ du. Việc lấy nước khó khăn ảnh hưởng tới nhu cầu dùng
nước và tác động tới việc quản lý CTTL.
- Tác động ngập lụt do nước biển dâng
Mực nước biển dâng làm hệ thống đê biển có nguy cơ tràn và vỡ đê, khả năng
tiêu thoát nước ra biển giảm. Quản lý hệ thống công trình thủy lợi sẽ phải thay đổi