nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình thủy lợi cửa đạt thanh hóa trong giai đoạn khai thác vận hành - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận văn
Thạc sỹ kỹ thuật: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý dự án công trình thủy
lợi Cửa Đạt Thanh Hóa trong giai đoạn khai thác vận hành”. Đã hoàn thành đúng
thời hạn và đảm bảo đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong bản đề cương đã được phê duyệt;
Trước hết tác giả bày tỏ lòng biết chân thành tới Trường đại học Thủy lợi đã đào
tạo và quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tác giả trong qua trình học tập và hoàn
thành luận văn này;
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Gs.Ts Lê Kim Truyền đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ để hoàn thành tốt nhiệm vụ của luận văn đặt ra;
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô phòng đào tạo đại học và sau
đại học, các Cô trên thư viện, Khoa công trình, Bộ môn công nghệ quản lý và xây
dựng, Khoa kinh tế, Công ty TNHH MTV Sông Chu, Ban quản lý dự án 3, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa, Trường đại học Hồng Đức Thanh Hóa, Chi
cục thủy lợi Thanh Hóa đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình làm luận văn;
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, chắc chắn khó tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong muốn được sự góp ý, chỉ bảo chân tình
của các Thầy Cô và cán bộ đồng nghiệp đối với bản luận văn. Xin trân trọng cảm ơn

Hà nội, ngày 22 tháng 11 năm 2013
Học viên cao học
Nguyễn Thị Thanh


DỰNG



CÔNG

TÁC

QUẢN



KHAI

THÁC

HỒ

CHỨA 3
1.2

VỊ

TRÍ,

NGUYÊN

TẮC


1.3

NỘI

DUNG,

YÊU

CẦU

CỦA

VIỆC

QUẢN



ĐẬP

HỒ

CHỨA

TRONG

GIAI

ĐOẠN


TRÌNH

QUẢN



VẬN

HÀNH

ĐẬP,

HỒ

CHỨA 11
1.4.1 Tình hình sự cố hư hỏng đập trên thế giới 11
1.4.2 Những sự cố có thể xảy ra trong quá trình quản lý vận hành hồ, đập 12
1.4.3 Những loại sự cố thường gặp khác 17
1.4.4 Một số sự cố điển hình 19
1.4.5 Một số sự cố những năm gần đây và nguyên nhân gây ra 20
1.5

QUẢN



ĐẬP

HỒ


2.1.

GIỚI

THIỆU

CÔNG

TRÌNH

CỬA

ĐẠT

THANH

HÓA 30
2.1.1.Vị trí, quy mô, nhiệm vụ, công trình Cửa Đạt 30
2.1.1 Vị trí công trình 30
2.1.2 Quy mô công trình 30
2.1.3 Nhiệm vụ công trình: 31
2.1.4 Các thông số kỹ thuật chủ yếu: 31
2.2

THỰC

TRẠNG

CÔNG



TRẠNG

CÔNG

TÁC

QUAN

TRẮC



MỘT

SỐ

KIẾN

NGHỊ

LIÊN

QUAN 44
2.3.1 Những căn cứ 44
2.3.2 Thực trạng quan trắc chung ở Công trình Cửa Đạt 45
2.3.2 Những kiến nghị trong công tác quan trắc Công trình Cửa Đạt 55
2.4

THỰC

TÁC

THỰC

HIỆN

CÁC

QUY

ĐỊNH

VỀ

DUY

TU

BẢO

DƯỠNG

CHO

CÔNG

TRÌNH






KHAI

THÁC

HỆ

THỐNG

CÔNG

TRÌNH

CỬA

ĐẠT 67
3.1.1 Thực trạng tổ chức quản lý, khai thác, vận hành công trình Cửa Đạt 67
3.1.2 Quy chế quản lý kỹ thuật và bảo vệ công trình 70
3.2.

ĐỀ

XUẤT

PHƯƠNG

ÁN

QUẢN


HOÀN

THIỆN



HÌNH

QUẢN



TỔ

CHỨC

KHAI

THÁC

VẬN

HÀNH

CÔNG

TRÌNH

CỬA


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng hồ chứa ở một số tỉnh 5
Bảng 1.2: Thống kê đánh giá tỷ lệ vỡ đập quan các thời kỳ 11
Bảng 2.1: Tiến độ thi công tổng thể 34
Bảng 2.2: Thống kê số lượng thiết bị quan trắc được lắp đặt 50
Bảng 3.1: Kế hoạch SXTC trong 3 năm: 2013, 2014, 2015 90

DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT
Ký hiệu Tên đầy đủ
HTX Hợp tác xã
UBND Ủy ban nhân dân
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thông
ĐKT Điện kỹ thuật
TN & MT Tài nguyên và môt trường
ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
QLKT Quản lý khai thác
CTTL Công trình thủy lợi
HTTL Hệ thống thủy lợi
NIA National irrigation administration
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
KTCTTL Kỹ thuật công trình thủy lợi
TCDN Tổ chức dùng nước
FAO Food and Agriculture Organization
IWMI International Water Management Institute
HEC Tổng Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi VN
QLDA Quản lý dự án
MNDBT Mực nước dâng bình thường
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
IA Irrigation Association

cao hiệu quả đầu tư là yêu cầu cấp thiết đối với Thanh Hóa nói riêng và sự nghiệp
chung cho cả nước. Xuất phát từ các vấn đề về tầm quan trọng của công trình Cửa Đạt
vừa nêu trên, tác giả luận văn chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý
dự án công trình thủy lợi Cửa Đạt Thanh Hóa trong giai đoạn khai thác vận hành”.
2. Mục tiêu:

2

Nghiên cứu đề xuất mô hình, phương án tổ chức quản lý công trình Cửa Đạt
trên cơ sở bảo đảm an toàn và nâng cao hiệu quả đầu tư trong quá trình vận hành khai
thác.
3. Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tổng quan;
+ Phương pháp thu thập phân tích, tổng hợp;
+ Phương pháp quan sát trực tiếp;
+ Phương pháp kế thừa những kết quả đã tổng kết, nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Quản lý hệ thống công trình đầu mối Cửa Đạt sau giai đoạn đầu tư xây dựng.
5. Kết quả dự kiến đạt được:
- Đánh giá được thực trạng tình hình quản lý hệ thống hồ chứa hiện nay;
- Đánh giá được công tác kiểm tra quan trắc giám sát quá trình làm việc phục
vụ công tác quản lý vận hành công trình hồ chứa Cửa Đạt
- Đánh giá được hiệu quả các mô hình tổ chức và thể chế quản lý hệ thống tưới
hiện nay của công trình Cửa Đạt;
- Đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác công trình Cửa
Đạt khi đưa vào khai thác vận hành
- Đề xuất các mô hình tổ chức và thể chế quản lý hệ thống vận hành của công
trình Cửa
huy hiệu quả, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát
triển nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân.
Hồ chứa nước là công trình quan trọng để khai thác sử dụng nước và phòng
chống tác hại do nguồn nước gây ra. Các công trình hồ đập được đầu tư với các nguồn
vốn khác nhau: ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân, các nông trường, hợp
tác xã. Trong đó, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là chủ yếu. Việc xây dựng nhiều
hồ chứa đã góp phần rất lớn vào phát triển sản xuất nông nghiệp, phát điện, chống lũ,
cấp nước sinh hoạt và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hồ chứa cũng gây ra các tác động
tiêu cực đến môi trường, xã hội. Những tồn tại trong thiết kế, thi công và quản lý hồ
chứa cũng như những biến đổi bất thường về khí hậu làm cho các tác động xấu này
trầm trọng thêm, đặc biệt có thể dẫn đến nguy cơ làm mất an toàn, làm vỡ đập và gây
ra thảm họa cho khu vực hạ du.
Về mặt đầu tư, do thiếu kinh phí xây dựng nên các hạng mục công trình không
được đầu tư xây dựng đầy đủ và có độ kiên cố cần thiết. Một số hồ chứa tràn xả lũ
không đủ năng lực xả, không được xây dựng một cách chắc chắn. Một số đập mái
thượng lưu không được gia cố. Nhiều hồ chứa không có đường quản lý, gây khó khăn
cho công tác quản lý và ứng cứu khi hồ có sự cố. Trường hợp này xảy ra phổ biến ở
các hồ loại vừa và nhỏ.
Về mặt khảo sát thiết kế, việc hạn chế các tài liệu về khí tượng thủy văn, địa
hình địa chất cũng như các phương pháp tính toán dẫn đến việc các hồ sơ thiết kế

4

không sát với thực tế, chưa đảm bảo mức độ an toàn đặc biệt là những hồ nhỏ. Tiêu
chuẩn lũ áp dụng cho thiết kế hồ chứa được lựa chọn chủ yếu căn cứ vào quy mô đặc
điểm của công trình mà chưa xem xét đến đặc điểm khu vực hạ du đập.
Về mặt thi công, do thiết bị thi công thiếu, kỹ thuật thi công lạc hậu, ở các hồ
nhỏ đập được thi công bằng thủ công dẫn đến chất lượng thi công không bảo đảm. Rất
nhiều đập bị thấm do vật liệu không đảm bảo chất lượng; nền đập không được xử lý
đến nới đến chốn; kỹ thuật đắp không đạt yêu cầu…

kinh tế, chưa nói các tổn thất về sinh mạng tài sản và làm đảo lộn môi trường sinh thái
ở một khu vực nhất định.
Những tổn thất có thể do các sự cố mất an toàn đập, những vấn đề tồn tại tiềm
tàng trong hệ thống các hồ đập đã đề cập ở trên, cộng với những hệ lụy của việc biến
đổi khí hậu, mật độ dân cư đông đúc cũng như yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở khu
hạ du đập đã nói lên yêu cầu bức thiết của công tác tổ chức quản lý an toàn đập, hồ
chứa cũng như việc quản lý khai thác đập hồ chứa ở nước ta…
Quản lý khai thác vận hành cũng như quản lý an toàn đập không phải là công
việc mới mẻ, tuy nhiên việc quản lý cũng còn nhiều hạn chế và khó khăn. Việc quản lý
khai thác vận hành đảm bảo tính hệ thống về an toàn của công trình từ các khâu thiết
kế, thi công, quản lý vận hành, bảo trì, kiểm định đánh giá mức độ an toàn đập theo
định kỳ, công tác tổ chức an toàn đập và trách nhiệm đối với an toàn đập từ chủ đập
đến các cấp, cơ quan quản lý, các ngành có liên quan đến an toàn đập.
1.2 VỊ TRÍ, NGUYÊN TẮC CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ KHAI THÁC
VẬN HÀNH ĐẬP, HỒ CHỨA
1.2.1 Nhìn nhận tình hình các hồ chứa ở nước ta hiện nay
1.2.1.1 Đối với hồ thủy lợi:
Tính đến nay, trên cả nước có gần 6500 hồ chứa thủy lợi đang hoạt động, thuộc
địa bàn của 45/64 tỉnh thành. Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là:
Bảng 1.1: Số lượng hồ chứa ở một số tỉnh
Nghệ An 625 hồ chứa
Thanh Hóa 618 hồ chứa
Hòa Bình 521 hồ chứa
Tuyên Quang 503 hồ chứa
Bắc Giang 461 hồ chứa

6

Đắc Lắc 439 hồ chứa
Hà Tĩnh 345 hồ chứa

dựng đều do các đơn vị chuyên nghiệp thực hiện nên nhìn chung chất lượng công trình
đảm bảo, mức độ an toàn đạt yêu cầu thiết kế.

7

Với các dự án có công suất nhỏ phần lớn do tư nhân làm chủ đầu tư, Cũng
giống như các hồ thủy lợi do công trình nhỏ, tư nhân làm chủ đầu tư nên các công việc
từ khảo sát thiết kế đến thi công đều không đạt được chất lượng cao, mức độ an toàn
không thật đảm bảo
1.2.2 Sự cần thiết của bộ máy tổ chức để quản lý, khai thác vận hành đập hồ chứa
Nhìn nhận thực tế chung có thể thấy cần phải có một bộ máy quản đập hồ chứa:
Thứ nhất: Có thể thấy các đập hồ chứa của Việt Nam đã, đang và sẽ mất an
toàn nếu không có biện pháp hữu hiệu trong công tác quản lý vận hành, khai thác.
Điển hình như sau : Hiện tại Việt Nam có hơn 6640 đập hồ các loại. Trong quá
trình sử dụng, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội, hàng loạt đập đã bị vỡ:
đập Khe Sú (Nghệ An) vỡ 9/2012, đập Tây Nguyên (Nghệ An) vỡ 9/2012, đập
Đăkrông 3 (Quảng Trị) vỡ ngày 7/10/2012, đập Z20 (Hà Tĩnh) vỡ ngày 5/6/2009, đập
Hố Hô (Hà Tĩnh) sự cố nghiêm trọng (10/2010), đập Đăk Mek 3 (Kon Tum) vỡ
11/2012, đập Iakrel 2 (Gia Lai) vỡ ngày 12/6/2013, đập Phân Lân (Vĩnh Phúc) vỡ
ngày 3/8/2013.
Nhiều đập chưa vỡ nhưng đã hư hỏng nặng. Theo thống kê (3), có hơn 320 đập
bị hư hỏng, trong đó 120 đập bị hư hỏng nghiêm trọng. Ngoài các đập đã trông thấy hư
hỏng, còn hàng nghìn các đập khác cũng đang tiềm ẩn những nguy cơ sự cố.
Thứ hai: Kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân ở vùng quanh đập được
cải thiện rất nhiều so với thời kỳ đập mới xây dựng. Sự phụ thuộc vào nước hồ của
mọi hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân ngày càng nhiều và rất quan trọng.
Vì vậy nếu để vỡ đập hoặc hỏng đập, mất nước hồ thì thiệt hại lớn hơn nhiều so với
ngày đầu thiết kế và có thể gây ra thảm họa.
Thứ ba: Việc quản lý, đảm bảo an toàn đập hồ chứa ở Việt Nam đẫ được quan
tâm qua hệ thống văn bản pháp luật, qua các chù đập và chủ quản chủ đập. Nhung

cấp 6 tỷ m nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác.
4. Góp phần lớn vào xây dựng nông thôn mới: Xây dựng đập hồ chứa là biện
pháp hết sức hiệu quả đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xóa
đói giảm nghèo nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới.
5. Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt công trình thủy điện vừa và nhỏ do
ngành Thủy lợi đầu tư xây dựng. Sơ đồ khai thác thủy năng trên các sông do
ngành Thủy lợi đề xuất trong quy hoạch đỏng vai trò quan trọng để ngành Điện
triển khai chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn.

9

6. Góp phần cải tạo môi trường: các công trình thủy lợi nói chung và đập hồ chứa
nói riêng đã góp phần làm tăng độ ẩm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua,
phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, phòng chống chảy rừng.
7. Việc quản lý đập hồ chứa tốt sẽ kéo dài được thời gian phục vụ của đập hồ
chứa, nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống.
8. Qua kiểm tra quản lý công trình ta sẽ đánh giá được mức độ chính xác của quy
hoạch, thiết kế và chất lượng xây dựng công trình.
9. Nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên hệ thống thủy lợi.
1.2.4 Nguyên tắc tổ chức quản lý đập hồ chứa
Mô hình bộ máy, tổ chức quản lý khai thác vận hành đập hồ chứa theo
thực nghiệm cần tuân theo các nguyên tắc sau:
1. Đảm bảo tính thống nhất, chỉnh thể giữa các ngành, các địa phương trong quản
lý đập hồ chứa.
2. Việc tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi phải bảo đảm tính hệ thống
của công trình, kết hợp quản lý theo lưu vực và vùng lãnh thổ. Bảo đảm an toàn và
khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợi trong việc tưới tiêu, cấp nước phục vụ các
ngành sản xuất, dân sinh, kinh tế - xã hội và môi trường.
3. Mô hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi phải phù hợp với tính
chất, đặc điểm hoạt động, yêu cầu kỹ thuật quản lý, vận hành và điều kiện cụ thể của

1.3.1 Công tác quản lý, khai thác đập hồ chứa bao gồm các nội dung chính sau:
1.3.1.1 Quản lý nước:
Điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình
thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi
trường và các ngành kinh tế quốc dân khác.
1.3.1.2 Quản lý công trình:
Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thủy
lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy
móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật,
đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài. Lập xây dựng quy
trình vận hành đập hồ chứa đảm bảo an toàn đập hồ chứa.
Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhắm nâng cấp các công trình tiến tới cơ khí
hóa, điện khí hóa và tự động hóa vận hành các công trình.

11

1.3.1.3 Tổ chức và quản lý kinh tế:
Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài
sản và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác,
bảo vệ công trình thủy lợi, kinh doanh tổng hợp theo qui định của pháp luật.
1.3.2 Yêu cầu của công tác quản lý, vận hành đập hồ chứa
a) Quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới tiêu nước, cấp nước theo đúng
quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn công trình, phục vụ sản xuất, xã hội,
dân sinh kịp thời và hiệu quả.
b) Thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích tưới tiêu, cấp nước phục vụ sản
xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trên cơ sở hợp đồng đặt hàng với cơ quan
có thẩm quyền hoặc kế hoạch được giao.
c) Sử dụng vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ quản
lý, khai thác công trình thủy lợi.
d) Tận dụng công trình, máy móc thiết bị, lao động, kỹ thuật, đất đai, cảnh quan và

Chế độ nước chảy qua đỉnh đập tương tự dạng chảy không ngập qua đập tràn đỉnh
rộng. Cột nước, chiều cao đập càng lớn thì vân tốc trên mái càng lớn theo. Tại vị trí
mái có lưu tốc V lớn hơn vận tốc cho phép của đất đắp sẽ phát sinh xói. Xói tập trung
và phát triển mạnh nhất ở vùng chân mái và mở rộng lên cao dẫn đến sập mái, vỡ đập.
Nguyên nhân gây ra tình trạng nước tràn qua đỉnh đập có thể bao gồm:
1, Mô hình lũ thiết kế không phù hợp với lũ thực tế trên lưu vực
Tình trạng thiếu tài liệu thủy văn lưu vực là phổ biến, dòng chảy được nội suy từ
lượng mưa, mô hình lũ vay mượn từ lưu vực bên ngoài là nguyên nhân chính dẫn
đến việc đưa ra mô hình lũ không phù hợp. Công tác điều tra lũ tại thực địa có nhiều
bó buộc (cả trình độ nghiệp vụ lẫn điều kiện kinh phí thực hiện) nên không đưa ra
được số liệu cần thiết để định hướng hoặc phản biện lại kết quả tính toán lũ thiết kế.

13

Từ chỗ xác định mô hình lũ sai dẫn đến xác định sai thông số hồ chứa trong đó
có khẩu diện tràn.
Thực tế ở Việt Nam cho thấy có khả năng xuất hiện nhiều dạng lũ trên lưu vực,
các trận mưa lớn thường đi kèm với bão. Khoảng cách các trận bão nhiều khi chỉ là
năm, ba ngày, vì thế dạng lũ đơn được chọn để thiết kế cho phần lớn hồ chứa hiện nay
chưa thể nói là đại diện cho dạng lũ bất lợi nhất.
Ở miền Trung, phần lớn đều là các hồ nhỏ để phù hợp với điều kiện địa hình
phức tạp, hẻo lánh. Công trình tràn thường được chọn là tràn tự do. Loại tràn này có
ưu điểm không phải điều hành khi lũ đến nhưng lại có một nhược điểm lớn là khả
năng rút nước sau lũ về mực nước dâng bình thường rất chậm do cột nước thấp
(thường ở giai đoạn cuối H
tràn
< 1 m nên Q
xả
giảm đi đáng kể). Vì vậy, nếu trong thời
gian này chỉ cần xảy ra một trận mưa vừa phải (nhỏ hơn thiết kế đáng kể) cũng có thể

yếu ở phần trên cao hoặc gây lật đập khi chỉ tiêu cơ lý ở mặt tiếp xúc đập - nền bị suy
giảm.
Khi chấn tâm động đất ở gần vị trí xây dựng có góc (3 lớn, thành phần thẳng
đứng của lực địa chấn làm tăng thêm nguy cơ lật đập (tạo ra áp lực ngược).
Thực tế tổ hợp động đất (hoặc sập, sạt) + mực nước cao có xác suất rất thấp nên
sự cố này ít xuất hiện trừ vùng hồ có những khối núi dốc cao, hình thành từ các loại
đất đá nửa cứng có nguồn gốc trầm tích yếu, nhạy cảm khi tiếp xúc với nước và có góc
dốc phân lớp lớn đổ vào lòng hồ.
1.4.2.2 Sự cố đập gây ra do dòng thấm
Thấm gây ra hư hỏng cục bộ trong đập và nền là hiện tượng thường gặp ở phần
lớn các đập đất - đá đang hoạt động. Chúng thuộc loại nguy cơ tiềm ẩn mà về lâu dài
có thể dẫn đến sự cố vỡ đập. Sự phá hủy ngầm của thấm diễn ra ở bên trong (không
phát hiện được) một cách lặng lẽ, thường kéo dài trong nhiều năm nên khi bùng phát
ra sự cố thường rất khó khắc phục. Tuy nhiên, nếu quản lý chặt chẽ, thường xuyên
quan sát thì có thể nhận biết được bằng mắt thường qua các biểu hiện như: mái hạ lưu
bị ướt, vùng thềm sau đập bị lầy hóa các hố sụt, võng trên mặt đập, sự phát sinh các
dòng chảy có mang theo đất, để tiến hành ngăn chặn ngay từ đầu.
Dưới đây là một số dạng sự cố điển hình:

15

1, Sự cố thấm trong thân đập
Sự cố thấm trong thân đập bắt nguồn từ sự phát triển dòng thấm tuân theo định
luật Đacxi chuyển dần sang sự hình thành dòng chảy tự do (chảy rối). Chịu áp lực của
cột nước thượng lưu, dòng chày này ngày càng tăng lên cả lưu lượng lẫn lưu tốc vì quá
trình chảy luôn cuốn theo các thành phần hạt nhỏ làm cho đường chảy luôn mở rộng.
Sự phát triển đường chảy gây sập lở vùng chuyển tiếp đắp bằng các vật liệu thô tạo
nên các hang rỗng và đến một thời điểm khi vận tốc, lưu lượng nước đủ mạnh thì phá
vỡ cửa ra ở hạ lưu, lấn dần vào thân đập. Nếu không xử lý kịp thời cỏ thể dẫn đến vỡ
đập. Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành đường chảy trong đập trước hết phải xem xét

trình bê tông luôn nhỏ hơn rất nhiều so với lún của đập. Tốt nhất là công trình bê tông
có độ lún rất nhỏ hoặc không lún. Điều này cho phép tạo ra sự nén ép thường xuyên
của đất đắp đập lên công trình bê tông, bù kín và giảm thiểu bề rộng khe tiếp giáp.
Những giải pháp nêu trên không đòi hỏi có kỹ thuật phức tạp gì nhưng nếu không thực
hiện nghiêm túc, tỷ mỷ thì cũng có thể dẫn đến hình thành đường chảy gây ra sự cố
đập.
3, Sự cố thấm ở nền đập
(1) Đập bê tông nói chung (và các đập tràn nói riêng) có điều kiện nền tốt,
thường là đá. Vấn đề tạo màn chống thấm thượng lưu về cơ bản giải quyết được hiện
tượng thấm trong nền. Tuy nhiên, một số đập đặt trên nền đá có tính thủy phân hoặc
suy giảm chỉ tiêu cơ lý khi tiếp nước lâu ngày (vôi hóa, rửa trôi, ) ngoài việc xử lý
nền trong thời kỳ thi công đập còn phải tính đến công tác xử lý ở thời kỳ khai thác sau
này. Các bố trí thủy công phải tạo thuận lợi cho việc bơm khô và khoan phụt qua bản
đáy. Nếu không tính trước thì việc phục hồi nền sau này sẽ hết sức khó khăn, thậm chí
không còn tính khả thi nữa.
(2) Những khối đập đặt trên nền là vùng cà nát của đứt gãy lớn nếu không xử lý
cố kết nền đúng mức cũng có thể dẫn đến mất ổn định khi gặp lũ lớn.
4, Sự cố thấm qua bờ vai đập
Hiện tượng mất ổn định do thấm dẫn đến hư hỏng bờ vai đập thường xảy ra ở
vùng bờ vai là đất có độ rỗng lớn, xốp và đất bụi cỏ tính dính kết yếu, các đá nứt nẻ
lớn. Xử lý tiếp giáp giữa đập đắp và đập bê tông với bờ vai không đúng cách cũng tạo
ra sự cố này.

17

Thông thường, vùng tiếp giáp với vai đập đất đá đều được san bạt giảm bớt độ
dốc, đánh bậc rộng và xử lý chống thấm ăn sâu vào vai nhàm tạo ra đường thấm vòng
trên mặt bằng đủ dài để gradien thấm trong đất và cửa ra nhỏ hơn gradien cho phép.
Vai của đập bê tông ngoài công tác tạo màn chống thấm còn phải tiến hành cố kết để
nền trở nên bền vững hơn. Nếu để sự cố vỡ mang xảy ra ở đây thì khối đập chính có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status