giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã nhơn hải, thành phố quy nhơn, tỉnh bình định - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ 5
MỘT SỐ KHÁI NIỆM 6
LỜI CAM ĐOAN 7
LỜI CẢM ƠN 8
LỜI NÓI ĐẦU 9
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về tôm hùm ở nước ngoài 11
1.1.1. Nghiên cứu thành phần loài 11
1.1.2. Nghiên cứu sản lượng khai thác và bảo vệ các khu vực bãi đẻ 12
1.1.3. Nghiên cứu trữ lượng tôm hùm và mức khai thác hợp lý 14
1.1.4. Nghiên cứu xây dựng khu bảo tồn 16
1.1.5.Nghiên cứu trong công tác dự báo nguồn lợi tôm hùm 16
1.2.Tình hình nghiên cứu về tôm hùm ở trong nước 17
1.2.1.Đặc điểm phân bố, phân loại 19
1.2.2.Đặc điểm sinh sản 19
1.2.3.Nghiên cứu về khai thác và sản lượng 22
1.2.4.Nghiên cứu về địa hình đáy và chất đáy 22
1.2.5.Nghiên cứu phương pháp phòng trị một số bệnh thường gặp trong ương nuôi
tôm hùm 23
1.3.Tổng quan nghề khai thác tôm hùm tại Việt Nam 23
1.4.Các phương pháp khai thác tôm hùm giống 24
1.4.1.Khai thác tôm hùm giống bằng lưới 25
1.4.2.Khai thác tôm hùm giống bằng bẫy 26
1.4.3.Khai thác tôm hùm giống bằng lặn bắt 26
1.5.Tổng quan về nghề khai thác tôm hùm giống tại tỉnh Bình Định 27
1.6.Tổng quan về xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 28
1.6.1.Về điều kiện tự nhiên 28


3.4.Phân tích thực trạng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại tỉnh Bình Định 51

3
3.4.1.Hệ thống các văn bản pháp quy 51
3.4.2.Trong công tác tuyên truyền 51
3.4.3.Về quản lý tàu thuyền 52
3.4.4.Công tác tổ chức thanh tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản 52
3.4.5.Những vấn đề còn tồn tại 53
3.4.6.Những nguyên nhân 54
3.5.Phân tích thực trạng công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại xã Nhơn Hải 55
3.6. Phân tích những tác động từ nghề khai thác tôm hùm tại xã Nhơn Hải 56
3.7.Các giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống 57
3.7.1.Giải pháp kỹ thuật 58
3.7.2.Giải pháp quản lý 61
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 69


5
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1: Khai thác tôm hùm giống bằng mành lưới dũ 27
Hình 1.2: Bẫy tôm hùm bằng gỗ cây tại Vịnh Nha Trang - Khánh Hòa 28
Hình 1.3:Lặn bắt tôm hùm giống ở đầm Nha Phu – Khánh Hòa 29
Hình 1.4: Bẫy chà 30
Hình 1.5: Vị trí tự nhiên xã Nhơn Hải quan sát từ vệ tinh 31
Hình 3.1: Biểu đồ số lượng tàu thuyền khai thác tôm hùm giống tại xã Nhơn Hải 40
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ % số tàu thuyền khai thác tôm hùm giống trong tỉnh Bình Định41
Hình 3.3: Ngư trường khai thác tôm hùm giống của xã Nhơn Hải 41
Hình 3.4: Biểu đồ sản lượng tôm hùm giống khai thác được tại xã Nhơn Hải
(2004-2010) 46
Hình 3.5: Biểu đồ biểu thị biến động số lượng tàu và sản lượng/đơn vị tàu tôm hùm giống
khai thác tại xã Nhơn Hải (2004-2010) 47
Hình 3.6: Biểu đồ biểu thị biến động số lượng tàu và sản lượng/đơn vị tàu tôm hùm giống
khai thác tại tỉnh Bình Định (2004-2010) 49
Hình 3.7: Khai thác tôm hùm bằng đá san hô (tại đầm Nha Phu, Khánh Hòa) 60
7
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại
xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” là chương trình nghiên cứu khoa
học độc lập của tôi. Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc cụ
thể, rõ ràng. Nếu có sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Bình Định, ngày 11 tháng 07 năm 2011
Tác giả

Nguyễn Phương Nam
9
LỜI NÓI ĐẦU

Nhơn Hải là một xã bán đảo, nằm ở phía Đông của bán đảo Phương Mai, thuộc
thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định. Với điều kiện tự nhiên và nguồn lợi thủy sản, trong
những năm gần đây, nghề khai thác tôm hùm giống tự nhiên tại Bình Định nói chung và
tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn nói riêng đã phát triển, trở thành trung tâm cung
cấp giống cho các vùng nuôi tôm hùm thương phẩm chính của cả nước như Phú Yên,
Khánh Hoà…Chính vì thế, nghề khai thác tôm hùm giống tự nhiên đã tạo công ăn việc
làm và thu nhập cho nhiều hộ gia đình ngư dân, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế - xã
hội của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Bình Định.
Tuy nhiên, việc phát triển tự phát một cách ồ ạt, không theo qui hoạch và chưa có
định hướng của chính quyền địa phương, nên trong những năm gần đây đã phát sinh một
số vấn đề bất cập trong lĩnh vực khai thác tôm hùm giống. Các nghề khai thác này mới
được du nhập, phát triển tự phát, ồ ạt với mức độ khai thác triệt để với cường lực cao
mang tính tận thu, khai thác cả trong thời gian cấm theo qui định đã tác động, ảnh hưởng
không nhỏ đến nguồn lợi và các hệ sinh thái liên quan. Mặt khác, nhận thức của cộng
đồng ngư dân tại đây hầu hết hoạt động riêng lẽ, chưa có sự hợp tác, liên kết nhằm quản


11
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về tôm hùm ở nước ngoài:
Tôm hùm là loài đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu
ngay từ cuối thế kỷ 18, khi nghề khai thác này bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, phải đến sau
hội thảo Quốc tế lần thứ I về tôm hùm tại Mỹ, các công trình nghiên cứu mới được tập
hợp, biên sọan và xuất bản với sự đóng góp của trên 80 tác giả khắp các châu lục. Từ đó,
các kết quả mới được công bố hàng năm trên các tạp chí khoa học như “Australia Journal
of Marine and Freshwater Reasearch”, “Naga”, “Canadian Journal of Fisheries and
Aquatic Sciences”, “Journal of Aquaculture in the Tropics”. Trong đó, tôm hùm gai
(Palinuridae) được quan tâm nhiều.
Tuy nghề khai thác tôm hùm đã có từ cuối thế kỷ 18, nhưng đến những năm đầu của
thế kỷ 20, qui mô khai thác vẫn còn nhỏ và mang tính thủ công ở hầu hết các nước trên
thế giới. Chỉ có một vài nước đạt sản lượng cao trong khai thác tôm hùm (chủ yếu là tôm

vùng (Dalzell và cộng sự, 1996).
1.1.2. Nghiên cứu sản lượng khai thác và bảo vệ các khu vực bãi đẻ:
Khai thác tôm hùm tự nhiên bao gồm tôm thương phẩm và cả tôm giống là một
trong những nguyên nhân chính làm suy giảm nguồn lợi tôm hùm. Các thợ lặn ở Torres
Strait (Australia) trước năm 1985 thường bắt được từ 6 - 13,9 kg/người/ngày (trung bình
7,9 kg/người/ngày). Hoạt động khai thác ngày càng được cải tiến đã làm gia tăng cường
lực khai thác. Prescott (1997) báo cáo năng suất đánh bắt tôm hùm ở đảo Gilber (phía Tây
Thái Bình Dương) đạt 0,6÷21,3 tôm hùm/người/giờ (trung bình 11,3 tôm hùm/người/giờ)
[30].
Còn ở quần đảo Marshall (một đảo quốc nằm ở phía Tây Thái Bình Dương), năng
suất đánh bắt tôm hùm xung quanh đảo đạt 0,27-9,6 kg/người/giờ (trung bình 5,1
kg/người/giờ) (Ebert và Ford, 1986) [22].
Không giống như nghề khai thác tôm hùm ở vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương,
hoạt động khai thác tôm hùm Panulirus marginatus ở vùng cận nhiệt đới phía Tây Bắc đảo
Hawaiian (Mỹ) được thực hiện bằng các lồng bẫy. Tỷ lệ đánh bắt trung bình hàng năm
giảm từ 2,75 tôm hùm/lồng bẫy năm 1983 xuống còn 0,56 tôm hùm/lồng bẫy vào năm
1991 (Polovina, 1993) [28,29].
Hầu hết, ở các nước có nghề khai thác tôm hùm đều có quy định không cho phép
khai thác tôm hùm bố mẹ ôm trứng. Trong các nghiên cứu của Lamadrid và Blanco

13
(1996), Phillips và Brown (1994), Vega (1991) đều cho rằng các loài tôm hùm Panulirus
có đặc tính ôm trứng và sinh sản quanh năm nhưng ở mỗi loài đều có đỉnh cao sinh sản
nhất định. Biện pháp quan trọng để duy trì và bảo vệ nguồn lợi tôm hùm là cấm các hoạt
động khai thác tôm hùm bố mẹ vào mùa vụ sinh sản và các cấm khai thác giống trong một
thời gian nhất định nhằm bảo vệ quần thể con non [19].
Để bảo vệ nguồn lợi tôm hùm, chính quyền Saint Lucia ra đạo luật cấm khai thác
tôm hùm từ ngày 1/5 đến 31/8 hàng năm. Lý do chính dẫn đến sự hình thành điều luật này
là do cường lực khai thác quá mức. Được sự hỗ trợ về tài chính của Liên minh Châu Âu
(EU) thông qua dự án phát triển thủy sản bền vững, từ năm 2000 hàng loạt hoạt động bảo

bắt, nhằm bảo vệ các đàn sinh sản và chủng quần non của các loài có giá trị thương mại
cao trong đó có tôm hùm. Việc này được thực hiện bằng cách thực thi nguyên tắc quản lý
nghề cá trên cơ sở quyền của ngư dân (rights - based fisheries management).
1.1.3. Nghiên cứu trữ lượng tôm hùm và mức khai thác hợp lý:
Pitcher và cộng tác viên (1992) sử dụng phương pháp tính theo diện tích mặt cắt, đã
xác định được mức độ tập trung của loài tôm hùm bông (Panulirus ornatus) trong khoảng
25.000 km
2
, mật độ phân bố của chúng giao động từ 2 đến 100 con/ha, ước tính trữ lượng
có khoảng 11 đến 17 triệu con tại vùng biển Torres Strait (Australia), nhưng chỉ khoảng 8
triệu con đạt kích cỡ thị trường [27].
Brown và Phillips (1994) sử dụng phương pháp đánh dấu vào mùa sinh sản đã tính
được có tới 5 triệu con di cư ra khỏi vùng biển này và chỉ có 7% trở lại nếu chúng không
bị đánh bắt [19].
Bảng 1.1: Bảng điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Panulirus argus và
loài Panulirus laevicauda tại vùng biển Đông - Bắc Brazil (Pillips và cộng tác viên -
1980) [26].

TTĐặc điểm sinh học

Đơn vị tính
Panulirus
argus
Panulirus
laevicauda
1 Kích cỡ khai thác trung bình mm 114 ÷ 393 101 ÷ 335
2 Tuổi trung bình năm 4,22 3,84

biến động nguồn lợi cho những năm tiếp theo [29].
Trong những năm gần đây, chính phủ một số nước khu vực Đông Nam Á như
Malaysia đã chủ trương không tăng hoạt động khai thác tôm hùm từ vùng bờ ra đến 12
hải lý, bằng các biện pháp kiểm soát nghiêm về số lượng, kích thước và máy tàu. Ngoài
ra, còn có chủ trương mua lại các tàu đánh cá dư dôi để hủy bỏ. Còn tại Thái Lan, thì
giảm đội tàu đánh cá (đặc biệt là đội tàu lưới kéo và lưới vây), điều chỉnh các loại ngư cụ
khai thác. Ngoài ra, còn có các biện pháp mới được thi hành như: trao quyền đánh bắt và
nuôi trồng cho cộng đồng ngư dân để thực thi việc quản lý nghề cá trên cơ sở cộng đồng.

16
1.1.4. Nghiên cứu xây dựng khu bảo tồn:
Một trong các giải pháp bảo vệ nguồn lợi tôm hùm được nhiều quốc gia áp dụng là
xây dựng các vùng cư trú cho tôm hùm. Ý nghĩa tầm quan trọng của việc hình thành các
vùng cư trú được nhiều tác giả khẳng định như Heydorn (1969); Davis (1981), Davis và
Dodrill (1980), Anon (1985). Những vùng được đề xuất để xây dựng vùng cư trú như:
Dry Tortugas (Mỹ), vùng biển đảo Robben (Nam Phi), vùng biển Leigh (New Zealand),
vùng biển Laysan (Hawaii) là những vùng có mật độ tôm hùm gai phân bố nhiều [21].
Việc xây dựng các vùng cư trú giúp cho các nhà khoa học có thể biết được các tác
động của khai thác lên trữ lượng tôm hùm gai tự nhiên. Dễ dàng xác định được kích cỡ
quần thể, các ảnh hưởng khác nhau lên cấu trúc quần thể. Đồng thời, cũng có thể kiểm
soát được khả năng sinh sản và sức sinh sản của quần thể khi có khai thác và không có
khai thác. Các tác giả trên cũng cho rằng việc xây dựng các vùng cư trú cần có các chính
sách, nội quy quản lý thích hợp của Nhà nước, sự đóng góp công sức trí tuệ của các nhà
khoa học để nơi đây trở thành nơi nghiên cứu, giải trí và thu lợi nhuận (Chubb, C.F, 1994)
[20].
1.1.5.Nghiên cứu trong công tác dự báo nguồn lợi tôm hùm:
Để có cơ sở vững chắc dự báo nguồn lợi tôm hùm, các nhà khoa học phải dựa vào
chỉ số phong phú của quần thể Puerulus di cư vào các vịnh hàng năm.
Những công trình nghiên cứu ban đầu thường tiến hành trong thời gian khoảng từ 1
đến 2 năm. Do vậy, kết quả mới chỉ xác định được các đỉnh cao xuất hiện giai đoạn hậu

định trên cơ sở của những số liệu chính xác về mức độ định cư của Puerulus và mật độ
thực tế của tôm hùm con. Tác giả cũng cho rằng, cả hai chỉ số Puerulus và Juvenile bổ
sung lẫn nhau và sẽ đưa ra được một dự báo khai thác chính xác, hơn hẳn những dự báo
có một chỉ số (hoặc về Juvenile hoặc về Puerulus). Thông thường, chỉ số Puerulus biểu thị
xu hướng khai thác chắc chắn trong một thời kỳ dài khoảng trên 4 năm, còn chỉ số
Juvenile cung cấp những dự báo khai thác chính xác cho một năm kế tiếp.
1.2.Tình hình nghiên cứu tôm hùm ở trong nước:
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nguồn lợi tôm hùm
phân bố chủ yếu ở vùng biển miền Trung, kéo dài từ đèo Ngang (Quảng Bình) đến mũi
Kỳ Vân (Vũng Tàu) với 7 loài trong họ Palinuridae. Trong đó có 4 loài có giá trị kinh tế
cao là Panulirus ornatus, Panulirus homarus, Panulirus longipes, Panulirus stimpsoni [2].

18
Loài tôm hùm có giá trị kinh tế và được nuôi phổ biến nhất ở vùng ven biển miền
Trung là tôm hùm bông. Quá trình phát triển ấu trùng của tôm hùm khá dài (khoảng 9 đến
11 tháng). Trong giai đoạn ấu trùng, chúng sống phù du. Sau khi chuyển thành tôm con,
tôm hùm con xuống bám đáy ở độ sâu từ 10 m trở vào bờ. Theo Nguyễn Thị Bích Thúy
(2004) thì mùa vụ sinh sản của tôm hùm bông ở vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận là từ
tháng 1 đến tháng 5 (đỉnh cao tháng 4) và tháng 8 đến tháng 10 (tập trung vào tháng 9)
[15].
Trở ngại lớn nhất của nghề nuôi tôm hùm hiện nay là nguồn tôm giống. Chúng ta
chưa thành công trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm hùm nên nguồn giống phụ thuộc
hoàn toàn vào nguồn giống từ tự nhiên. Số người nuôi tăng lên thì nhu cầu về con giống
cũng tăng lên, người dân gia tăng hoạt động khai thác tôm hùm giống nhưng cũng không
đáp ứng đủ cho nhu cầu trong khi lượng cung cấp ngày một suy giảm. Trong thời gian tới,
nếu không chủ động được nguồn giống (sinh sản nhân tạo hay có kế hoạch phục hồi, bảo
tồn nguồn lợi tôm hùm giống tự nhiên) thì nghề nuôi tôm hùm sẽ gặp nhiều khó khăn.
Trước đây ngư dân thường bắt gặp tôm hùm giống khi hành nghề vớt con ruốc. Lúc
đầu người ta không quan tâm khi nghề nuôi tôm hùm phát triển, giá tôm hùm giống cao
thì người ta mới bắt đầu săn lùng tôm hùm giống trong tự nhiên. Một vài nhận định cho

- Hồ Thu Cúc (1986) đã đề xuất những quy định về kích cỡ khai thác tôm hùm bông
và tôm hùm đá dựa trên mật độ phân bố và kích cỡ tham gia sinh sản [5].
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi tôm hùm ở
vùng ven biển miền Trung Việt Nam (Nguyễn Thị Bích Thúy, 1999) trong đó nghiên cứu
chủ yếu về: đặc điểm hình thái và phân loại; đặc điểm phân bố, sinh trưởng, dinh dưỡng,
sinh sản và bảo vệ nguồn lợi tôm hùm [15].
- Nghiên cứu mùa vụ sinh sản, số lần sinh sản trong năm và kích thước tham gia
sinh sản của tôm hùm được Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Chung (1993) tiến hành theo
phương pháp điều tra thu mẫu các loài có sản lượng khai thác cao hàng năm [3,5]. 20
Bảng 1.2: Đặc điểm tôm hùm giống khai thác tại miền Trung Việt Nam
Tên gọi TT
Tên khoa
học
Tên tiếng
Anh
Tên Việt
Nam

Phân bố

Sinh học - Sinh thái
Mùa vụ
khai thác

Ngư cụ
khai
thác

giống từ
tháng 12
– 5.
Lặn bắt,
bẫy

2

Panulirus
homarus

Scalloped
spiny lobster

Tôm hùm sỏi
(Đá,Ghì,Kẹt)

Vùng ven bờ và quanh
các đảo của Việt Nam.
Sống ở độ sâu từ 1 - 90m, thường
gặp ở vùng nước ven bờ đến 5m,
nơi có đáy cát pha bùn nơi có độ
muối ổn định, ẩn trong các hốc
đá. Sống thành bầy khoảng 3 - 4
con, hoạt động mạnh vào ban
đêm. Tôm con (có chiều dài vỏ
đầu ngực 0,08 - 0,2cm) thường
tập trung ở các vùng ven bờ gần
cửa sông từ tháng 1 đến tháng 6
hàng năm, rộ nhất khoảng tháng 1

3 đến
tháng 8 –
9.
Lặn bắt,
bẫy.

21
4 Panulirus
stimpsoni
Chinese
spiny lobster
Tôm hùm
lông (Xanh
chân dài,
Sỏi)
Thường gặp vùng ven
biển miền Trung Việt
Nam, nhiều nhất ở
Quảng Bình, Quảng
Trị.
Sống ven các đảo, nơi có sóng
đập, nước trong, nhất là nơi có
nhiều rạn ngầm, hang hốc trú ẩn,
độ muối ổn định.
Từ tháng
2 đến
tháng 9.
Lặn bắt,
bẫy.


Panulirus
penicillatusPronghorn
spiny lobster

Tôm hùm maPhổ biến quanh các đảo
ven biển miền Trung
Việt Nam.
Thường ẩn trong các hốc đá hoặc
rạn san hô quanh các đảo, nơi có
sóng đập, độ trong lớn và không
chịu ảnh hưởng của nước sông.
Sống đơn lẻ, hoạt động mạnh vào
ban đêm.
Từ tháng
2 - 3 đến
tháng 8 –
9.
Lặn bắt,
bẫy.

7

Panulirus
polyphagus

1.2.3.Nghiên cứu về khai thác và sản lượng:
Những nghiên cứu từ năm 1983 đến năm 1989, đã ghi nhận một các đầy đủ về các
hoạt động khai thác tôm hùm ở các tỉnh ven biển miền Trung (Quảng Bình đến Bình
Thuận) trong những năm 80. Số liệu thu thập qua các cơ quan xuất khẩu cho thấy sản
lượng tôm hùm năm 1989 của tỉnh Bình Định là 1,57 tấn. Phạm Danh (1991) đề xuất mùa
vụ khai thác của tôm hùm sỏi dựa vào đặc điểm khai thác của ngư dân vùng biển Quảng
Trị [2].
Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm hùm của Võ Văn
Nha (2004 - 2007). Nội dung chính của đề tài là nghiên cứu bổ sung nhằm xác định
nguồn lợi hiện có và xây dựng các giải pháp và công nghệ phù hợp để bảo vệ và phát triển
nguồn lợi tôm hùm khu vực miền Trung. Các vấn đề quan tâm của đề tài là ô nhiễm môi
trường do nuôi tôm hùm lồng, các hình thức khai thác, ý thức cộng đồng và bệnh tôm
hùm.
Ngoài ra, các cơ quan khoa học của một số tỉnh miền Trung như tỉnh Bình Thuận,
Khánh Hòa…cũng đã đầu tư kinh phí để nghiên cứu một số biện pháp bảo vệ nguồn lợi
tôm hùm ở địa phương như cho nở ấu trùng từ tôm hùm mẹ mang trứng rồi thả ra biển,
nhưng kết quả rất ít ỏi và có nhiều khó khăn.
1.2.4.Nghiên cứu về địa hình đáy và chất đáy:
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thúy và Võ Văn Nha (2007) một số
nền đáy và địa hình đặc trưng của các vùng phân bố tôm hùm giống tại Việt Nam như
sau :
- Vùng san hô chết: có độ sâu từ (3 ÷ 8) m, tương đối bằng phẳng, chủ yếu là nền san
hô chết hoặc độ phủ san hô sống rất thấp khoảng (3÷5)%, trên bề mặt thường được phủ
rong, rêu. Bởi vì, các khối san hô chết này sẽ tạo thành những hang, hốc nhỏ. Đây chính
là nơi cư trú của một số loài giáp xác nói chung. Đồng thời, cũng là nơi trú ẩn tốt nhất của
tôm hùm giống. Nền đáy dạng này thường gặp ở một số đảo gần bờ và các mũi nhô ra
biển.
- Vùng rạn đá: Thường gặp ở những vùng có núi đá ven biển. Rạn đá thường kéo dài
từ bờ ra đến độ sâu (7 ÷ 10)m. Trên nền đá thường có hang hốc tự nhiên hoặc do các khối
đá nhỏ tạo thành. Nền đáy dạng này vẫn có một số ít tập đoàn san hô sống rải rác, độ phủ

bắt,… Trước năm 1975, hoạt động khai thác tôm hùm ở nước ta phát triển còn rất hạn
chế. Từ năm 1975 đến năm 1980, tôm hùm được khai thác phổ biến bằng phương pháp

24
lặn hoặc sử dụng bẫy. Nghề khai thác tôm hùm phát triển khá nhanh từ sau năm 1980.
Cùng với nhu cầu xuất khẩu tôm hùm, các phương pháp đánh bắt mới được đưa vào áp
dụng và tàu thuyền có khả năng khai thác ở những vùng biển xa bờ hơn đã làm cho sản
lượng khai thác hàng năm không ngừng tăng lên và ước đạt từ 500-700 tấn/năm (thời kỳ
thập niên 80). Đây là thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của nghề khai thác tôm hùm ở
vùng biển miền Trung.
Tuy nhiên trong suốt những năm thập kỷ 90, kích cỡ tôm hùm khai thác của các loài
tiếp tục bị suy giảm, kích cỡ tôm hùm khai thác được ngày càng nhỏ hơn so với yêu cầu
của xuất khẩu. Điều này dẫn đến một số ngư dân ở trong các khu vực đánh bắt cả những
loài không đủ kích cỡ khai thác (chưa trưởng thành).
Đây cũng chính là mốc đánh dấu sự ra đời và phát triển của nghề khai thác tôm hùm
giống ở các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam.
Nghề khai thác tôm hùm giống bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1997. Trong thời
gian qua đã có hàng nghìn ngư dân ở nhiều làng, xã ven biển miền Trung đổ xô đi khai
thác tôm hùm giống. Ưu điểm của nghề này là vốn đầu tư thấp, phương pháp khai thác
đơn giản nhưng lại cho thu nhập cao, rất phù hợp với nhiều hộ ngư dân nghèo không có
vốn đầu tư đánh bắt xa bờ. Chính vì vậy khai thác tôm hùm giống ngày càng được nhiều
ngư dân quan tâm và tham gia.
Hiện nay khai thác tôm hùm giống phát triển mạnh ở các địa phương như: vùng
biển Mỹ Quang, huyện Tuy An; các xã Xuân Hải, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh, Xuân
Phương, vùng biển Từ Nham (huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên); thành phố Nha Trang, thị
xã Cam Ranh, huyện Vạn Ninh, huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa); vùng biển Đề Gi, các
xã Cát Tiến, Cát Hải, Cát Khánh, huyện Phù Cát; xã Nhơn Hải, Nhơn Lý thành phố Quy
Nhơn (tỉnh Bình Định); Quảng Ngãi (Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh); Đà Nẵng (làng chài Mân
Thái, Thọ Quang, Sơn Trà); tỉnh Quảng Nam.
Qua mỗi năm, số lượng tôm hùm giống khai thác được tăng hơn so với năm trước.

lưới “dũ” và mỗi hộ dân ở đây có thể có hàng nghìn chiếc bẫy theo dạng này.
Hình 1.2: Khai thác tôm hùm bằng lưới dũ.

Trích đoạn Về phía người dân xã Nhơn Hải:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status