BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ NHƯ TÂN
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGHỀ KHAI THÁC TÔM HÙM GIỐNG
TẠI XÃ VĨNH LƯƠNG, THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ NHƯ TÂN
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGHỀ KHAI THÁC TÔM HÙM GIỐNG
TẠI XÃ VĨNH LƯƠNG, THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
Ngành đào tạo: Khai thác Thủy sản
Mã số: 60.62.03.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ PHAN TRỌNG HUYẾN
Khánh Hòa – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ này do tôi tự làm và đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn được thể hiện trung thực, có nguồn trích dẫn cụ thể, rõ ràng.
Các số liệu về tàu thuyền, ngư cụ, ngư trường, lao động, được thu thập từ việc phỏng
vấn theo mẫu, khảo sát thực tế của cá nhân tôi. Các văn bản sử dụng trong luận văn
được tôi trực tiếp tìm tòi, thu thập từ Ủy Ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Ủy ban nhân
dân thành phố Nha Trang, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lương và Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này.
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tổng quan về xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 4
1.1.1. Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa 4
1.1.2. Tổng quan về xã Vĩnh Lương 5
1.2. Tổng quan đặc điểm sinh học của tôm hùm 7
1.2.1. Vị trí phân loại 7
1.2.2. Tập tính sống và phân bố 8
1.2.3. Đặc điểm dinh dưỡng 9
1.2.4. Đặc điểm sinh trưởng 9
1.2.5. Đặc điểm sinh sản 10
1.2.6. Một số yếu tố môi trường vùng phân bố tôm hùm 10
1.2.6.1. Yếu tố nền đáy 10
1.2.6.2. Yếu tố độ sâu 11
1.2.6.3. Nhiệt độ nước 11
1.2.6.4. Độ mặn 11
1.2.6.5. Nguồn thức ăn tự nhiên 12
1.3. Tình hình khai thác tôm hùm giống trên thế giới 12
1.3.1. Phân bố của tôm hùm trên thế giới 12
1.3.2. Tình hình khai thác tôm hùm trên thế giới 13
1.4. Tình hình khai thác tôm hùm giống trong nước 13
1.4.1. Phân bố của tôm hùm ở Việt Nam 13
1.4.2. Khai thác tôm hùm thương phẩm trong nước 15
1.4.3. Khai thác tôm hùm giống trong nước 15
1.4.4. Nuôi tôm hùm thương phẩm trong nước 16
1.4.5. Tình hình quản lý khai thác tôm hùm giống trong nước 17
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
ii
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 18
3.1.5.2. Sản lượng đánh bắt của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 51
iii
3.1.5.3. Thành phần sản phẩm của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh
Lương 52
3.1.6. Đánh giá hiệu quả của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 52
3.1.6.1. Hiệu quả kinh tế của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 52
3.1.6.2. Hiệu quả về mặt giải quyết công ăn việc làm của nghề khai thác tôm hùm
giống tại xã Vĩnh Lương 54
3.1.6.3. Hiệu quả về mặt xóa đói giảm nghèo của nghề khai thác tôm hùm giống tại
xã Vĩnh Lương 55
3.1.7. Đánh giá những tác động tiêu cực của nghề khai thác tôm hùm giống tại Vĩnh
Lương. 56
3.1.7.1. Đánh giá những tác động tiêu cực của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã
Vĩnh Lương đối với nguồn lợi san hô tự nhiên 56
3.1.7.2. Đánh giá những tác động của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh
Lương đối với hoạt động của tàu thuyền du lịch trên đầm Nha Phu 56
3.1.7.3. Đánh giá những tác động của nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh
Lương đối với môi trường biển 59
3.2. Thực trạng công tác quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 61
3.2.1. Về văn bản pháp lý 61
3.2.2. Về đội ngũ quản lý 62
3.2.3. Về hoạt động thực thi pháp luật 64
3.2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại địa phương 64
3.3. Giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 64
3.3.1. Đề xuất giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương
theo đối tượng và mùa vụ đánh bắt 64
3.3.1.1. Căn cứ đề xuất 64
3.3.1.2. Nội dung giải pháp 65
3.3.1.3. Biện pháp thực hiện 65
3.3.2. Đề xuất giải pháp kỹ thuật để quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã
KT&BVNL TS: Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
TL (Total Length): Chiều dài toàn thân
TT: Thanh tra
UBND: Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Số lượng tôm hùm bông và tôm hùm xanh khai thác được ở 8 tỉnh miền
Trung giai đoạn 2005-2008 16
Bảng 2-1: Phân bổ số mẫu điều tra theo hình thức khai thác 20
Bảng 2-2: Phân bố số mẫu điều tra theo thôn 21
Bảng 2-3: Chất lượng tôm hùm giống 22
Bảng 3-1: Thống kê thời gian xuất hiện khu vực khai thác tôm hùm giống 24
tại đầm Nha Phu 24
Bảng 3-2: Đặc điểm độ sâu, chất đáy tại khu vực khai thác tôm hùm giống 25
Bảng 3-3: Đặc điểm khí tượng, hải dương tại khu vực khai thác tôm hùm giống 27
Bảng 3-4: Đặc điểm phân biệt các loại tôm hùm khi ở giai đoạn tôm trắng 29
Bảng 3-5: Đặc điểm phân biệt các loại tôm khi ở giai đoạn tôm bọ cạp 30
Bảng 3-6: Tổng hợp về kích thước, trọng lượng, màu sắc theo độ tuổi của tôm hùm
giống 30
Bảng 3-7: Tình hình sử dụng vật liệu chế tạo ngư cụ bẫy theo thời gian từ năm 1994-
2013 37
Bảng 3-8: Kết quả điều tra tình hình phân bổ lao động theo nghề, số hộ và trang bị ngư
cụ khai thác 43
Bảng 3-9: Phân bố hộ khai thác tôm hùm giống theo khu vực vụ 2012-2013 45
Bảng 3-10: Kết quả điều tra diễn biến số hộ khai thác tôm hùm giống của xã Vĩnh
Lương theo ngư cụ từ năm 2009-2013 (đơn vị: hộ) 46
Bảng 3-11: Số ngày khai thác của từng nghề theo tháng 47
Bảng 3-12: Kết quả điều tra thông tin về lao động tôm hùm giống khai thác của xã
Vĩnh Lương theo nghề năm 2013 (n=110) 49
Hình 3-4: Tôm hùm giống giai đoạn tôm hậu ấu trùng (tôm trắng) tại đầm Nha Phu 28
Hình 3-5: Tôm hùm giống giai đoạn tôm con (tôm bọ cạp) tại đầm Nha Phu 29
Hình 3-6: Tôm hùm giống được khai thác ở đầm Nha Phu 31
Hình 3-7: Mô tả dụng cụ bẫy bằng san hô kết hợp lưới bùi nhùi 32
Hình 3-8: Hệ thống giàn gỗ treo bẫy san hô khai thác tôm hùm giống 34
Hình 3-9: Người lặn bộ (không sử dụng ô xi) bắt tôm hùm giống 41
Hình 3-10: Người lặn có sử dụng ô xi bắt tôm hùm giống 42
Hình 3-11: Biểu đồ phân bổ số hộ khai thác theo nghề (n = 637) 43
Hình 3-12: Biểu đồ thể hiện sự khác nhau về quy mô khai thác giữa các hộ gia đình .44
Hình 3-13: Sự phân bố số hộ khai thác tôm hùm giống theo khu vực 46
Hình 3-14: Sự phân bố số hộ khai thác theo nghề và theo năm từ 2009 đến nay 47
Hình 3-15: Tỉ lệ phần trăm số ngày khai thác của từng nghề theo tháng 48
Hình 3-16: Tàu du lịch gây sập giàn treo bẫy san hô 58
Hình 3-17: Rác thải từ bẫy nhử tôm hùm trên đầm Nha Phu 60
Hình 3-18: Phao ganh, đá san hô, lưới bùi nhùi hỏng từ bẫy nhử tôm hùm giống trở
thành rác thải tại bờ biển đầm Nha Phu 60
Hình 3-19: Sơ đồ bộ máy quản lý nghề cá 62
Hình 3- 20: Sơ đồ quy hoạch khu vực khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương 68
Hình 3- 21: Sơ đồ quy hoạch khu vực thả rạn nhân tạo 69
1
MỞ ĐẦU
Với bờ biển dài hơn 3.260 km, nhiều vũng vịnh, cửa sông và hơn 3000 đảo, Việt
Nam có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển nghề khai thác và nuôi trồng hải sản,
trong đó có nghề nuôi tôm hùm thương phẩm.
Nghề nuôi tôm hùm thương phẩm Việt Nam đã bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ
90 của thế kỷ trước. Số lồng nuôi tôm hùm thương phẩm ở Việt Nam bắt đầu tăng
nhanh từ năm 1999 và đạt đỉnh cao vào năm 2006. Năm 2006 cả nước có khoảng
49.000 lồng nuôi tôm hùm xuất khẩu cho sản lượng khoảng gần 1.900 tấn và thu về
khoảng 90 triệu đô la Mỹ [21].
Khánh Hòa là địa phương nằm ở khu vực Nam Trung Bộ với chiều dài bờ biển
thể là năm 1999 nhu cầu về tôm hùm giống chỉ mới 0,5 triệu con nhưng đến năm 2003
nhu cầu đã tăng lên tới trên 3,5 triệu con [25]. Hơn nữa, lợi nhuận mang lại từ nghề
khai thác tôm hùm giống là khá cao đã dẫn đến người dân đua nhau khai thác một cách
ồ ạt, tự phát, không theo quy hoạch, khó hiểm soát. Hậu quả của sự gia tăng cường lực
khai thác tôm hùm giống không theo quy hoạch có thể gây ảnh hưởng xấu đến nguồn
lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi tôm hùm giống nói riêng. Ví dụ như, tỷ lệ tôm
hùm giống hao hụt cao, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven bờ… là
những tác động tiêu cực thấy rõ từ nghề khai thác tôm hùm giống.
Xuất phát từ những lý do trên, thì việc tìm kiếm “Giải pháp quản lý nghề khai thác
tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa” là vấn
đề cấp thiết và mang tính thời sự nhằm góp phần làm cho công tác quản lý và bảo vệ
nguồn lợi tôm hùm giống của địa phương đi vào nề nếp.
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài nhằm giải quyết các nội dung sau:
1. Điều tra thực trạng và đánh giá được hoạt động của nghề khai tôm hùm giống
tại xã Vĩnh Lương có những mặt lợi hay gây hại gì cho cộng đồng dân cư, nguồn lợi
thủy sản?
2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã
Vĩnh Lương đã đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm
hùm giống hay chưa?
3. Đề xuất các giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh
Lương nhằm đưa nghề khai thác tôm hùm giống đi vào nề nếp.
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu bằng phương pháp nghiên
cứu tài liệu và phương pháp phi thực nghiệm thông qua phỏng vấn ngư dân và khảo sát
3
thực tế hoạt động khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của nghề khai tôm hùm giống
cũng như thực trạng công tác quản lý nghề khai thác tôm hùm giống tại xã Vĩnh
Lương làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý nghề khai thác tôm hùm giống thích hợp.
Kết quả nghiên cứu sẽ mang lại một số ý nghĩa khoa học là:
Bổ sung thông tin khoa học về nghề khai thác tôm hùm giống góp phần hoàn
phú, đặc biệt tài nguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi
trồng, chế biến xuất khẩu với khối lượng lớn như tôm hùm, yến sào,
Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực
khí hậu nhiệt đới. Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các
đặc điểm riêng biệt. So với các tỉnh, thành phía Bắc từ đèo Cả trở ra và phía Nam từ
Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất
của khí hậu đại dương. Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa
mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng
10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm. Những
tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng. Nhiệt độ trung
bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C. Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần
số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn
bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam [5].
Địa hình Khánh Hoà thấp dần từ Tây sang Đông với những dạng núi, đồi, đồng
bằng, ven biển và hải đảo. Hai sông lớn nhất chảy qua tỉnh là sông Cái (đổ ra biển tại
Nha Trang) và sông Dinh. Trong đó huyện đảo Trường Sa quy tụ trên 100 đảo. Ven
5
biển có các vịnh lớn kín gió (vịnh Văn Phong, Nha Phu, Nha Trang và Cam Ranh) rất
thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá và phát triển nghề cá, mà
thực tế ở đây cũng đang là trung tâm sản xuất tôm giống lớn nhất toàn quốc [14].
1.1.2. Tổng quan về xã Vĩnh Lương
a). Vị trí địa lý
Xã Vĩnh Lương là xã nông nghiệp ngoại thành, nằm về hướng Tây Bắc thành
phố Nha Trang, cách trung tâm thành phố 12 km; phía Bắc giáp thị xã Ninh Hòa, phía
Nam giáp phường Vĩnh Hòa, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp xã Vĩnh
Phương và huyện Diên Khánh. Xã Vĩnh Lương nằm trên trục giao thông quốc lộ 1A
và đường sắt Bắc-Nam nên rất thuận lợi cho việc đi lại cũng như giao lưu sản xuất,
cung ứng vật tư, tiêu thụ và quảng bá sản phẩm [16]
Về tổ chức hành chính: xã có 10 thôn (thôn Cát Lợi, Lương Hòa, Văn Đăng 1,
Văn Đăng 2, Văn Đăng 3, Lương Sơn 1, Lương Sơn 2, Lương Sơn 3, Võ Tánh 1, Võ
Lương đang từng bước phát triển với đa dạng ngành nghề trong đó phát triển kinh tế
chủ yếu là khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp. Hàng năm,
sản lượng đánh bắt hải sản ước đạt khoảng 7.000 tấn các lại, trong đó tôm chiếm 3%,
mực 10%, cá các loại 87%. Hiện nay, toàn xã có 198 tàu thuyền có công suất từ 40CV
trở lên và 296 tàu thuyền có công suất dưới 40CV. Nhìn chung, các hộ ngư dân thu
nhập tương đối ổn định.
Hình 1-1: Sơ đồ khu vực xã Vĩnh Lương và đầm Nha Phu
Đầm Nha Phu là ngư trường khai thác tôm hùm giống chủ yếu của ngư dân xã
Vĩnh Lương. Ðầm Nha Phu là tên gọi cho cả một khu vực rộng lớn, trong đó có những
hòn đảo du lịch như Hòn Thị, Hòn Lao, Hòn Sầm, Hòn Đá Bạc (bãi tắm Công
chúa), Hòn Lao - đảo Khỉ, Suối Hoa Lan, Khu nghỉ mát Ninh Vân. Đầm Nha Phu rộng
gần 1.500ha, tiếp giáp giữa vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong – thuộc tỉnh Khánh Hòa,
7
cách thành phố khoảng 15 km. Hiện bến cảng du lịch nằm ở địa phận Lương Sơn,
xã Vĩnh Lương. Đầm Nha Phu là một trong hai đầm lớn của tỉnh Khánh Hòa vẫn còn
hội đủ đặc điểm của một vùng sinh thái quý hiếm với núi rừng, sông suối, biển đảo.
Đầm Nha Phu là một trong những nơi hội tụ của rất nhiều địa hình: đảo, suối, biển, hồ,
núi, và cả vịnh,…Đầm Nha Phu có những đoạn sóng lặng, nhưng cũng có những chỗ có
sóng nhẹ, phù hợp các chương trình tham quan du lịch. Cảnh quan hoang sơ, dân cư
thưa thớt, những bãi cát trắng tinh khiết trãi dài hàng cây số hay đa dạng với các loại địa
hình khác. Ngoài ra, Đầm Nha Phu còn đa dạng về hệ động thực vật theo kết quả điều
tra của Viện Hải dương học Nha Trang (Khánh Hòa), đầm Nha Phu hiện có 232 loài
thực vật phù du được ghi nhận. Trong đó, có 150 loài tảo Silic, chiếm 65%; tảo Hai Roi
với loài, chiếm 32%… Đầm Nha Phu còn là nơi phát triển nghề nuôi trồng thủy hải sản.
Đầm Nha Phu được Công ty Du lịch Long Phú quản lý và khai thác theo hướng du lịch
sinh thái biển - đảo - vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng [17].
1.2. Tổng quan đặc điểm sinh học của tôm hùm
1.2.1. Vị trí phân loại
Tôm hùm là tên gọi chung của nhóm giáp xác mười chân thuộc 4 họ: Palinuridae,
Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae, giữa chúng có những điểm đặc trưng về tập
đoạn này, chúng sống trôi nổi như sinh vật phù du trên biển và đại dương, do đó khả
năng phát tán của chúng rất lớn dưới tác động của sóng, gió, dòng chảy. Hầu như suốt
thời kỳ này, chúng luôn di chuyển và hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện thủy văn
môi trường biển khơi [9].
+ Giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus): là giai đoạn bắt đầu đời sống định cư,
song mọi hoạt động sống ở thời kỳ ấu trùng của tôm hùm hoàn toàn bị chi phối bởi
hoạt động của dòng chảy, sóng gió và khối nước biển khơi của Biển Đông, bị đẩy vào
các vịnh hở và phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của vũng, vịnh hoặc đầm hở ít sóng
gió, gần dân cư, nguồn thức ăn khá phong phú. Sau khoảng 4 lần lột xác và biến thái,
ấu trùng Puerulus trở thành tôm hùm con (Juvenile). Môi trường phân bố của ấu trùng
Puerulus phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của các vũng, vịnh hoặc đầm. Tôm thường
phân bố ở những vùng biển ít sóng gió, nguồn thức ăn phong phú. Giai đoạn hậu ấu
trùng Puerulus có thể bơi chủ động. Chúng thích bám trên rong, vách đá hoặc các giá
thể [8, 9].
+ Giai đoạn tôm hùm con (Juvenile): là giai đoạn với màu sắc và hình thái rất
giống con trưởng thành, nhưng sống định cư trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển.
Tập tính sống bầy đàn thể hiện rất rõ. Chúng thường nấp trong các khe, hốc đá hoặc
9
bám chắc vào những hõm, lỗ nhỏ của ghềnh đá. Đặc biệt, tập trung sống đáy trong các
vùng rạn với độ sâu từ 0,5 – 5,0 m [8, 9].
+ Giai đoạn trưởng thành (Immature): là giai đoạn có xu hướng di chuyển ra
khỏi các đầm, vũng, vịnh để đến những vùng rạn sâu hơn (trên 10 m đến khoảng 35 -
50 m) [9, 12].
+ Giai đoạn thành thục (Mature): là giai đoạn chúng rời hang ở vùng rạn này
đến sinh sống ở vùng sâu hơn ngoài khơi. Do đặc điểm phân bố của đường bờ và cấu
tạo địa hình đáy biển Đông đã tạo cho vùng thềm lục địa biển miền Trung có nhiều
đảo ngầm, đảo nổi, rạn đá, rạn san hô có độ sâu trên 10 m đến khoảng 35 - 50 là nơi cư
trú rất thích hợp cho tôm hùm ở giai đoạn trưởng thành. Cá thể trưởng thành thường ẩn
mình cả ngày trong rạn san hô hoặc hốc đá. Chúng chỉ bò ra ngoài để kiếm mồi ở gần
chỗ trú ẩn như rạn san hô và thảm cỏ biển vào buổi tối [9, 12].
sản cũng khác nhau. Chẳng hạn, ở loài tôm hùm Bông, kích cỡ tham gia sinh sản lần
đầu của con đực là 110,6 mm CL và ở con cái là 97,3 mm CL; ở tôm hùm Đá, kích cỡ
tham gia sinh sản lần đầu khoảng 66,7 mm CL ở con đực và 56,9 mm CL ở con cái
[15].
Đỉnh cao sinh sản của loài tôm hùm thường tập trung vào tháng 4 và tháng 9 hàng
năm, riêng tôm hùm Sỏi đỉnh cao sinh sản xuất hiện vào tháng 5 và tháng 6. Sức sinh
sản của tôm hùm tương đối lớn, chúng có thể đẻ từ 2 đến nhiều lần trong năm. Khi
sinh sản, trứng được giữ ở các chân bơi, sau một thời gian trứng sẽ nở ra ấu trùng và
ấu trùng sẽ trải qua các giai đoạn biến thái để trở thành tôm con [15].
1.2.6. Một số yếu tố môi trường vùng phân bố tôm hùm
Hầu hết các giống có thành phần loài phong phú thuộc họ tôm hùm Gai
(Palinuridae) đều tập trung ở vùng biển nhiệt đới. Chúng sống từ vùng trung triều đến
vùng biển sâu tới 3.000 m, thành bầy đàn trong hang để bảo vệ nhau và trốn tránh kẻ
thù. Tìm hiểu về môi trường vùng phân bố tôm hùm sẽ giúp hiểu được những đặc
điểm sinh thái tự nhiên của chúng, từ đó lựa chọn được vùng nuôi có đặc điểm môi
trường thích hợp, đồng thời điều chỉnh các thông số như độ sâu, độ mặn, theo từng
giai đoạn phát triển, giúp tôm thích nghi tốt với điều kiện nuôi lồng [15].
1.2.6.1. Yếu tố nền đáy
Cấu tạo nền đáy là một trong những yếu tố môi trường quan trọng, quyết định sự
phân bố của tôm hùm, đặc biệt là tôm hùm trưởng thành. Tôm hùm thường tập trung
chủ yếu trong các hang hốc có nền đáy là đá, san hô, đá tảng, bùn, cát hoặc thảm thực
vật (tảo bẹ) [15].
11
Riêng tôm hùm Bông (Panulirus ornatus), tôm hùm Đá (P. homarus), tôm hùm
Đỏ (P. longipes) và tôm hùm Sen (P. versicolor) thường sinh sống ở những hang đá
tảng và hang đá nhỏ có ánh sáng rọi tới; tôm hùm Tre (P. polyphagus) lại thích vùi
mình dưới cát vì thế hay gặp loài này phân bố ở những vùng đáy cát, đá cuội có rong
phát triển [15].
1.2.6.2. Yếu tố độ sâu
Độ sâu có ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài tôm hùm trong tự nhiên. Ở giai
C vào mùa đông. Hơn
nữa, khi nhiệt độ nước thay đổi đột ngột, chẳng hạn như tăng lên 3-5
0
C thì hầu như
tôm hùm con các loài đều bị chết, khi giảm nhiệt độ nước xuống 5
0
C pha lột xác của
tôm hùm sẽ chậm dần và dừng lại hoàn toàn [15].
1.2.6.4. Độ mặn
Độ mặn là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng mạnh đến đời sống của tôm
hùm, đặc biệt là tôm con [15].
12
Những số liệu điều tra cho thấy vùng phân bố tôm hùm con ngoài tự nhiên có độ
mặn dao động trong khoảng 33-34‰. Sự thay đổi đột ngột độ mặn (từ 5-15‰) sẽ làm
hoạt động bắt mồi của tôm con giảm từ 30-90%, khi độ mặn giảm xuống đến 20-25‰
và kéo dài 3-5 ngày sẽ gây nên tình trạng chết từ từ ở tôm con. Độ mặn vùng biển có
tác động đến hoạt động bắt mồi, khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu ở tôm hùm
con, từ đó những thay đổi bất lợi hoặc kéo dài thời gian lột xác hoặc gây chết đối với
chúng [15].
Số liệu điều tra ở khu vực miền Trung Việt Nam cho thấy, tôm hùm trưởng thành
sống ngoài khơi ở độ sâu dưới 10m nước, độ mặn dao động từ 30-35‰ [15].
1.2.6.5. Nguồn thức ăn tự nhiên
Tôm hùm được coi là những động vật ăn mồi sống chủ yếu trong hệ sinh vật đáy
ở biển. Chúng bắt mồi vào ban đêm trên những vùng rạn có nguồn thức ăn phong phú
gồm các loài liên quan với rạn san hô và có ảnh hưởng trực tiếp tới cấu trúc chung của
hệ sinh thái hoặc một vùng sinh thái, kể cả thành phần loài và độ phong phú của các
sinh vật là mồi của chúng [15].
Ở nước ta, nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, thành phần động thực vật
thường gặp ở vùng tôm hùm phân bố bao gồm: các động vật thuộc giáp xác nhỏ (tôm,
cua), thân mềm (sò, vẹm, ốc), cầu gai, sao biển, một số loài cá (cá đáy, cá rạn san hô),
Đông Nam Đại Tây Dương và phía Đông Ấn Độ Dương. Tôm hùm thường được ướp
lạnh nhưng giá cao nhất là tôm hùm còn sống. Ở Nhật Bản, người ta sẵn sàng trả tới
hơn 100 đô-la Mỹ cho 1kg tôm hùm [23].
Theo số liệu của FAO (Food and Agriculture Organization) vào năm 1997,
trung bình sản lượng khai thác của giáp xác biển trên năm từ 1991-1995 là 5.210 920
tấn chiếm khoảng 6,0 % trong tổng sản lượng khai thác hải sản 87.391.320 tấn. Trong
đó, sản lượng tôm hùm là 212 290 tấn chiếm gần 4% tổng sản lượng khai thác giáp xác
trên thế giới [23].
1.4. Tình hình khai thác tôm hùm giống trong nước
1.4.1. Phân bố của tôm hùm ở Việt Nam
Cho đến nay, đã xác định được 9 loài thuộc họ tôm hùm gai (Palinuridae) phân bố
ở vùng biển Việt Nam. Trong đó có bảy loài thuộc giống Panulirus, White, 1897: tôm
hùm bông (Panulirus ornatus), tôm hùm sỏi (P. stimpsoni), tôm hùm đỏ (P.longipes),
tôm hùm đá (P. homarus), tôm hùm bùn (P. poliphagus), tôm hùm sen (P. versicolor)
và tôm hùm ma (P. penicillatus); một loài thuộc giống Puerulus, Ortman, 1897
(Puerulus angulatus); một loài thuộc giống Linuparus, White, 1824 (Linuparus