Mục Lục
Phần 1: Phân tích 2 giải pháp được giao cho nhóm.
I. Giải pháp tài sản cố định.
1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ và phân loại TSCĐ
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh sức lao động và
đối tượng lao động, các doanh nghiệp còn cần phải có tư liệu lao động. Trong
đó, bộ phận tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài trong
quá trình sản xuất kinh doanh được gọi là TSCĐ.
- Khái niệm : TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động
chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu, nhưng giá trị của TSCĐ đã bị giảm dần và được chuyển
vào giá trị sản phẩm, dưới hình thức khấu hao.
- Ý nghĩa : Thống kê TSCĐ của doanh nghiệp có nhiều ý nghĩa trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Qua thống kê TSCĐ đánh giá việc trang bị
TSCĐ cho người lao động, nâng cao năng suất lao động, giải phóng con
người khỏi những lao động chân tay nặng nhọc vất vả. Đồng thời TSCĐ cũng
là cơ sở vật chất kỹ thuật, là nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp hay của
toàn bộ nền kinh tế. Điều này còn được thể hiện rõ rệt trong mỗi chế độ xã hội
chính là sự khác nhau về trình độ sử dụng TSCĐ.
1.2. Nhiệm vụ thống kê TSCĐ trong doanh nghiệp
Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp, thống kê
TSCĐ là một công cụ, hổ trợ đắc lực cho công tác quản lý TSCĐ trong doanh
nghiệp. Để việc quản lý TSCĐ có hiệu quả, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau:
1
- Thống kê tổng hợp chính xác, đầy đủ, kịp thời về số lượng, kết cấu, hiện
trạng và tình hình tăng giảm TSCĐ.
- Thống kê được các phương pháp đánh giá TSCĐ và các phương pháp khấu
hao.
- Nghiên cứu tình hình trang bị TSCĐ cho người lao động trong sản xuất.
Tác dụng: Giúp người quản lý thấy được kết cấu TSCĐ theo công
dụng kinh tế và trình độ cơ giới hóa của doanh nghiệp từ đó xác định được
mức độ đảm bảo đối với nhiệm vụ sản xuất và có phương hướng cãi tiến tình
hình trang bị kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
1.3.3. Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng
a.Tài sản cố định đang dùng: Là những TSCĐ đang sử dụng cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh, hay các hoạt động khác của doanh nghiệp
như hoạt động phúc lợi sự nghiệp, hay an ninh quốc phòng.
b.Tài sản cố định chưa cần dùng: Là những TSCĐ cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, nhưng
hiện tại chưa đưa vào sử dụng đang được dự trữ để sử dụng cho kỳ sau.
c. Tài sản cố định không cần dùng: Là những TSCĐ không còn sử dụng
được cho sản xuất của doanh nghiệp, vì không còn phù hợp với qui trình sản
xuất hiện nay của doanh nghiệp.
1.3.4. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu
3
a. Tài sản cố định tự có: Là những TSCĐ do doanh nghiệp tự mua sắm,
xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách cấp, vốn vay, vốn tự bổ sung và vốn góp
liên doanh.
b. Tài sản cố định đi thuê: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của
các doanh nghiệp khác (không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp).
2. Đánh giá TSCĐ
TSCĐ của doanh nghiệp, nếu thống kê theo từng loại cụ thể thường
được tính theo đơn vị hiện vật. Đây là chỉ tiêu quan trọng, là cơ sở để lập kế
hoạch đầu tư mua sắm, xây dựng bổ sung, sửa chữa lớn và tái đầu tư mua
sắm, xây dựng. Trường hợp để thống kê toàn bộ khối lượng TSCĐ của doanh
nghiệp thì phải sử dụng đơn vị tiền tệ thông qua các loại giá của nó, qua đó ta
có thể tổng hợp các loại TSCĐ khác nhau, do đó ta cần phải đánh giá TSCĐ,
theo các loại giá khác nhau để biết được số tiền đầu tư mua sắm TSCĐ ban
đầu, tổng giá trị TSCĐ đã hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ.
Con người được hưởng thành quả cuối cùng của một hệ thống TSCĐ tiên
tiến. Nhờ có TSCĐ hiện đại mà quá trình sản xuất sẽ rút ngắn, lao động của
con người thuận lợi hơn, đỡ nặng nhọc hơn và có năng suất lao động cao hơn,
kết quả sản xuất lớn hơn, do đó mà điều kiện làm việc và đời sống được nâng
cao.
* Đối với doanh nghiệp
Trình độ trang thiết bị TSCĐ quyết định năng lực sản xuất lao động, chi
phí giá thành, chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thương trường. Nếu doanh nghiệp nào trang bị máy móc, thiết bị
hiện đại, áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến sẽ giảm được mức tiêu hao
5
nguyên vật liệu và cho ra những sản phẩm chất lượng tốt và có sức hút cao
đối với khách hàng.
* Đối với xã hội
Trình độ công nghệ sản xuất ở mức độ nào thì nói lên trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất ở mức độ tương ứng và là căn cứ phân biệt thời đại
này với thời đại khác. Phương thức sản xuất cổ truyền khác phương thức sản
xuất hiện đại ở chỗ sản xuất như thế nào và sản xuất bằng cái gì. Chính lực
lưọng sản xuất đã thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển và làm thay đổi
phương thức sản xuất.
Từ những phân tích trên ta càng thấy rõ được vai trò quan trọng của
TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà TSCĐ phải luôn
được duy trì, kéo dài tuổi thọ và đầu tư đổi mới công nghệ.
4. Sơ đồ giải pháp.
4.1 Mô hình tổng thể giải pháp.
Giải pháp quản lí tài sản cố đinh bao gồm 5 qui trình phụ:
- Kiểm soát tài sản : TS được phân loại thành các nhóm chính theo phê
chuẩn của ban giám đốc, điều kiển để là tài sản cố định là TS có
nguyên giá lớn và có thời gian sử dụng hữu ích tối đa 1 năm. Ghi nhận
ban đầu của TS phải dựa vào hóa đơn, chứng từ của nhà cung cấp. Mọi
quản lí tài sản theo từng nhóm, từng phòng ban
8
b) Quản lý tài sản
• Cập nhật tài sản: Cho phép người dùng cập nhật mới, chỉnh sửa
và quản lý toàn bộ thông tin tài sản hiện có của đơn vị, các chức
năng người dùng có thể thực hiện bao gồm:
- Thêm mới tài sản
- Chỉnh sửa thông tin tài sản
- Xóa thông tin tài sản
- Xem lịch sử của tài sản
- Tìm kiếm và xem thông tin tài sản
• Lưu trữ thông tin Phiếu bảo hành sửa chữa: Biên bản giao nhận
TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành nhằm xác nhận việc giao nhận
TSCĐ sau khi hoàn thành việc sửa chữa lớn giữa bên có TSCĐ
sửa chữa và bên thực hiện việc sửa chữa. Biên bản này là căn cứ
ghi sổ kế toán và thanh toán chi phí sửa chữa TSCĐ
• Kiểm kê TSCĐ tự động: nhằm xác nhận số lượng, giá trị TSCĐ
hiện có, thừa thiếu của đơn vị so với sổ kế toán trên cơ sở đó tăng
cường quản lý TSCĐ, làm cơ sở quy trách nhiệm vật chất và ghi
sổ kế toán số chênh lệch.
• Khai báo tăng giảm nguyên giá: Chức năng Khai báo tăng giảm
nguyên giá cho phép người dùng nhập các thông tin biến động liên
quan đến việc tăng, giảm một phần giá trị, diện tích của các tài sản
nhà nước: Nhà, ô tô và các tài sản khác.
• Tính hao mòn: Chức năng này giúp người dùng thực hiện việc
tính hao mòn tự động cho các tài sản tăng mới năm tài chính hiện
hành và tính tiếp hao mòn cho những tài sản được chuyển từ năm
tài chính trước.
• Phiếu thanh lý tài sản: Cho phép người dùng ghi giảm tài sản cố
định như: Thanh lý, báo mất, hỏng, hay chuyển nhượng,… Biên
cụ thể. VD Kế hoạch đưa thông tin phòng chống HIV/AIDS tại các trạm y tế
xã
2.3. Theo cấp độ:
- Kế hoạch vĩ mô: Kế hoạch cho thời kì dài mang tính chiến lược, tập
trung cao do các nhà lãnh đạo quản lí cấp cao xây dựng. VD Kế hoach phát
triển nguồn lực y tế đến năm 2020
- Kế hoạch vi mô: Kế hoạch dùng để triển khai các kế hoạch vi mô,
chiến lược giải pháp của các cấp lãnh đạo thường do các nhà quản lí điều
hành của của đơn vị tổ chức ây dựng. VD Kế hoạch đào tạo cán bộ tại trung
tâm y tế dự phòng huyện Từ liêm
3. Sơ đồ lập kế hoạch
4. Các phương pháp lập kế hoạch
a) Lập kế hoạch từ trên xuống(top-down): Là quá trình chuyển các kế
hoạch vĩ mô thành các kế hoạch hoạt động của cơ. Qua trình này được thực
hiện từ những chi tiêu được phân bổ từ trên xuống. Dựa trên những chi tiêu
được phân bổ các đơn vị sẽ xây dựng hoạt động củ mình dể đạt được những
mục tiêu đó
11
b) Lập kế hoạch từ dưới lên(Bottom-up): kế hoạch dựa trên những ưu
tiên của cấp cơ sở, dựa trên thực tại cơ sở. Phương pháp này giúp giúp xác
định được các vấn đề cần giải quyết một cách cụ thể qua đó trao quyền chủ
động giải quyết cho tuyến dưới huy động được nguồn lực sáng kiến của cán
bộ, nhân dân
c) Lập kế hoạch theo chiều ngang: là cách lập kế hoạch thiết kê cơ cấu
tổ chức thể thực hiện các chức năng, mục tiêu đã đề ra, chia nhỏ công việc
thực hiện đồng thời để rút ngắn thời gian thực hiện. Lập kế hoạch theo chiều
ngang thường không đứng một mình mà thường đi kèm với 2 kiểu lập kế
hoạch Bottom-up và Top-down. VD như trong quá trình sản xuất ô tô các bộ
phận của ô tô sẽ được sản xuất đồng thời ở các xưởng khác nhau. Sau đó ta
chỉ việc ghép chúng tại để ra sản phẩm
tiếp, gián tiếp, nguyên nhân chính, nguyên nhân phụ trợ…
- Phân tích 1 cách khoa học, đúng kĩ thuật sẽ giúp xác định được
nguyên nhân 1 cách hệ thống logic tránh bỏ sot nguyên nhân
-Thông qua phân tích các nguyên nhân gó rễ sẽ được phát hiện giúp ta
có 1 cái nhìn bao quát cho việc dầu tư nguồn lực để can thiệp có hiệu quả
e) Kế hoạch hành động
Là bước cuối cùng trong qui trình lập kế hoạch để cụ thể hóa các giải
pháp và phương pháp thực hiện đã lựa chọn. 1 bản kế hoạch bao gồm các
thông tin sau:
- Liệt kê các hoạt động và công việc, sắp xếp theo 1 trình tự hợp lí lồng
ghép một cách thích hợp
13
- Xác định thời gian:thời gian bắt đầu và kế thúc cho từng hoạt động
- Phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác: Phân công rõ ràng, ai chiu
trách nhiệm thực hiện, người / cơ quan phối hợp, người / cơ quan giám
sát. Dự trù nguồn nhân lực để phân bổ cho thích hợp
14
Phần 2: Xây dựng giải pháp ERP cho doanh nghiệp giấy Bãi Bằng
I. Tổng quan ngành giấy Việt Nam
Có thể nói, so với các ngành công nghiệp khác, ngành giấy có tốc độ
phát triển khá chậm. Cả nước chỉ có hơn 200 doanh nghiệp sản xuất giấy,
trong đó có khoảng 30 doanh nghiệp có công suất từ 10.000 tấn trở lên. Số
doanh nghiệp có công suất hơn 50.000 tấn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vì
thế, năng lực sản xuất của ngành giấy Việt Nam hạn chế, chi phí sản xuất cao,
hiệu quả kinh tế thấp, giá thành sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, chưa đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng trong nước.
1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại
Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được
làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân
sinh chất lượng thấp, giấy tissue chất lượng trung bình… còn các loại giấy và
các tông kỹ thuật như giấy kỹ thuật điện-điện tử, giấy sản xuất thuốc lá, giấy
in tiền, giấy in tài liệu bảo mật vẫn chưa sản xuất được.
3. Cung – Cầu về giấy trong nước.
Mặc dù đầu tư vào ngành giấy tăng mạnh trong các năm qua nhưng
sản xuất trong nước vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu, nhất là ở những nhóm
sản phẩm tiêu thụ nhiều và doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa sản xuất được
sản phẩm giấy bao bì, giấy in viết chất lượng cao. Tốc độ tăng nhu cầu tiêu
dùng cao hơn tốc độ tăng của sản xuất vì vậy tỷ trọng nhập khẩu vẫn cao
và tăng qua các năm.
Do máy móc cũ, công nghệ lạc hậu, nên nhiều nhà mày giấy ở Việt Nam
không sản xuất được hết công suất, vì vậy, khả năng đáp ứng tiêu dùng nội
16
địa càng thấp và tỷ trọng nhập khẩu càng cao.
Giấy bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu ngành giấy của Việt
Nam; thứ hai là các nhóm giấy in và giấy viết, xếp sau đó lần lượt là giấy
vàng mã, giấy tissue và giấy báo. Tổng công suất năm 2008 của cả nước
đạt 1.371 ngàn tấn cao gấp 2 lần tổng công suất năm 2000. Năm 2008 sản
lượng sản xuất giấy đạt 1.110,7 ngàn tấn, giảm nhẹ 1,4% so với năm 2007
do nhu cầu tiêu thụ giấy bị hưởng bởi khủng hoảng kinh tế và hoạt động
nhập khẩu tăng mạnh do thuế nhập khẩu giấy giảm từ 5% xuống 3%. Mặc
dù vậy, tổng sản lượng sản xuất giấy năm 2008 vẫn cao gấp 2 lần so với
năm 2000. Tính trung bình trong giai đoan 2000-2008, sản lượng sản xuất
giấy tăng khoảng 16%/năm, trong đó mảng giấy bao bì - nhóm sản phẩm
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng ngành giấy - có tốc độ tăng
trưởng cao nhất với tốc độ tăng trung bình 27%, giấy Tissue tăng 22%,
giấy in viết tăng 11,6%, giấy in báo tăng 8,95% và giấy vàng mã tăng
1,4%.
4. Doanh nghiệp giấy Bãi Bằng
Đã từ lâu khách hàng trong nước trên thế giới đã quen biết với thương
hoạch với doanh thu 858 tỷ đồng, lợi nhuận đạt được hơn 4 tỷ. Có thể nói
năm 2004 là năm bản lề để Công ty giấy Bãi Bằng làm tiền đề bứt phá.
Năm 2005, sản lượng giấy đạt trên 92.000 tấn, bằng 92% công suất
thiết kế và đạt 100% kế hoạch cả năm. Lượng giấy tiêu thụ hơn 98.000, tăng
40% so với năm 2004. Đáng chú ý là ngoài nguyên liệu cung ứng cho sản
xuất, Bãi Bằng còn xuất khẩu 100.000 tấn giấy thành phẩm sang các thị
trường Malayxia, Inđônêxia, Iran, Philippin với tổng kim ngạch 20 triệu
USD, đưa tổng doanh thu cả năm 2005 của Công ty đạt trên 1.500 tỷ, nộp
ngân sách 60 tỷ và lợi nhuận 20 tỷ đồng. đây là năm thứ 2 liên tiếp kể từ sau
khi đầu tư, Giấy Bãi Bằng đã phát huy tối đa hiệu quả sản xuất.
9 tháng đầu năm 2006, Công ty mẹ (Tổng công ty giấy Việt Nam) đạt doanh
thu 1.280 tỷ đồng, lợi nhuận 18 tỷ đồng, nộp ngân sách 66 tỷ đồng, trong đó
18
riêng Giấy Bãi Bằng đã sản xuất được 72.850 tấn giấy (đạt 73% kế hoạch
năm), đạt doanh thu 863 tỷ, lợi nhuận đạt 28 tỷ, thu nhập bình quân theo đầu
người đạt 2.5 triệu đồng/ người/ tháng.
Đây là đỉnh cao của quá trình hơn 20 năm đi vào hoạt động của giấy Bãi
Bằng. Và cũng từ đây trong tiến trình tiếp tục đổi mơi, sắp xếp, phát triển,
nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước,
Giấy Bãi Bằng lại tiếp tục phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách, đòi
hỏi những nỗ lực vượt bậc của cả một Đơn vị Anh hùng lao động trong thời
kỳ đổi mới.
II. Mô hình ERP
1. ERP là gì ?
ERP (Enteprise Resource Planning - kế hoạch hoá nguồn lực doanh
nghiệp) là bộ giải pháp công nghệ thông tin có khả năng tích hợp toàn bộ ứng
dụng quản lý sản xuất kinh doanh vào một hệ thống duy nhất. Đây là phương
tiện hiện đại, sử dụng CNTT để quản lý tất cả các nguồn lực (nhân lực, tài
chính, sản xuất, thương mại…) của một tổ chức.
Ngoài chức năng quản lý, ERP còn đảm nhận luôn nhiệm vụ phân tích,
Phân hệ kế toán cũng giúp các nhân viên kiểm toán nội bộ và các
cán bộ quản lý cao cấp kiểm tra tính chính xác của các tài khoản. Hơn nữa,
một phân hệ kế toán được thiết kế tốt sẽ hỗ trợ các qui trình kế toán và các
biện pháp kiểm soát nội bộ chất lượng.
2.3 Tối ưu hóa quản lí kho
Phân hệ quản lý hàng tồn kho trong phần mềm ERP cho phép các công
ty theo dõi hàng tồn kho chính xác và xác định được mức hàng tồn kho tối ưu,
nhờ đó mà giảm nhu cầu vốn lưu động và đồng thời giúp tăng hiệu quả sản
xuất.
2.4 Tăng hiệu quả sản xuất
Giúp các công ty nhận dạng và loại bỏ những yếu tố kém hiệu quả
trong qui trình sản xuất. Chẳng hạn, nếu công ty không sử dụng phần mềm
20
ERP mà lên kế hoạch sản xuất một cách thủ công dẫn đến tính toán sai và
điều này gây nên các điểm thắt cổ chai trong quá trình sản xuất và do đó
thường sử dụng không hết công suất của máy móc và công nhân. Nói cách
khác, điều này có nghĩa là áp dụng một hệ thống hoạch định sản xuất hiệu quả
có thể làm giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm.
2.5 Quản lý nhân sự hiệu quả
Phân hệ quản lý nhân sự và tính lương giúp sắp xếp hợp lý các qui
trình quản lý nhân sự và tính lương, do đó làm giảm chi phí quản lý đồng thời
giảm thiểu các sai sót và gian lận trong hệ thống tính lương.
3. Các chức năng chính của hệ thống ERP
3.1 Quản trị đặt hàng
Chức năng này cho phép theo dõi và quản lý toàn bộ quy trình nghiệp
vụ đặt mua hàng hoá, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị phục vụ cho sản xuất
kinh doanh từ khâu tính toán thiết lập kế hoạch đặt hàng, bảng đặt hàng dự
kiến và các đơn đặt hàng với nhà cung cấp. Theo dõi nhận hàng dựa trên các
điều kiện giao hàng, các điều kiện thanh toán khi đặt hàng. Sau khi kết thúc
nhận hàng căn cứ vào các hoá đơn của nhà cung cấp để chuyển sang theo dõi
bảo hiểm, nghĩa vụ đóng thuế thu nhập, quá trình tăng lương, thưởng,….
3.1 Quản trị tài sản cố định
Trình độ trang thiết bị TSCĐ quyết định năng lực sản xuất lao động, chi
phí giá thành, chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thương trường. Nếu doanh nghiệp nào trang bị máy móc, thiết bị
hiện đại, áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến sẽ giảm được mức tiêu hao
nguyên vật liệu và cho ra những sản phẩm chất lượng tốt và có sức hút cao
đối với khách hàng.
22
3.1 Quản trị bán hàng
Chức năng này giúp doanh nghiệp theo dõi và quản lý toàn bộ các quy
trình nghiệp vụ bán hàng bao gồm: Quản lý báo giá, theo dõi các đơn đặt
hàng của khách hàng, quản lý các điều kiện thanh toán, các chế độ thanh toán,
tín dụng cho từng khách hàng với các tiêu thức bán hàng khác nhau của
Doanh nghiệp như bán sỉ, bán trả chậm, ký gửi… Căn cứ vào đơn hàng của
khách hàng chương trình cho phép thiết lập các kế hoạch giao hàng cho khách
hàng. Phát hành hoá đơn và chuyển sang theo dõi kiểm soát phải thu sau khi
kết thúc một giao dịch bán hàng. Từ các số liệu bán hàng, tiến hành xử lý
phân tích đánh giá quá trình kinh doanh bán hàng của doanh nghiệp. Ngoài ra
ở chức năng này của hệ thống thì công nợ phải thu sẽ được tổng hợp và phân
tích chi tiết nhất đảm bảo các kết nối với các chức năng quản trị tài chính.
3.1 Kế toán tổng hợp
Đóng vai trò trung tâm tiếp nhận dữ liệu từ tất cả các bộ phận. Phân hệ
này cho phép cập nhật các phiếu kế toán tổng quát, các bút toán phân bổ, kết
chuyển cuối kỳ, các bút toán định kỳ và các bút toán điều chỉnh. Ngoài ra còn
thực hiện tổng hợp số liệu từ tất cả các bộ phận khác, lên các sổ sách, báo cáo
kế toán, báo cáo thuế.
III. Các giải pháp ERP cho doanh nghiêp.
1. Giải pháp đặt hàng.
Đây là một trong module quan trọng giúp cho doanh nghiệp quy định
- Lượng tồn kho tối thiểu, lượng xuất trong tháng trước.
- Tiếp nhận đơn đặt hàng của khách hàng.
* Lựa chọn nhà cung cấp: Thông tin về nhà cung cấp là một phần rất
quan trọng trong giải pháp ERP của doanh nghiệp. Cần phải định nghĩa
các nhà cung cấp trước khi thực hiện phần lớn các nghiệp vụ của hệ
thống:
+ Nhà cung cấp phải có giấy phép kinh doanh theo quy định của pháp
luật.
25