ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH HẠNH NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 60.34.72 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Học
Hà Nội, 2009 1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
4
1
Đặt vấn đề
5
2
3
Đổi mới công nghệ
18
4
Năng lực cạnh tranh
18
II
Khái niệm doanh nghiệp và một số đặc điểm của doanh
nghiệp Việt Nam
19
1
Khái niệm doanh nghiệp
19
2
Một số đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam
22
III
Hoạt động NC&TK và vai trò của tổ chức NC&TK trong
doanh nghiệp
26
1
Hoạt động NC&TK là gì?
26
2
Vai trò của tổ chức NC&TK trong doanh nghiệp
31
3
Vai trò của tổ chức NC&TK trong các doanh nghiệp lựa chọn đổi
mới công nghệ thông qua kênh chuyển giao công nghệ
38
Về trình độ chuyên môn, năng lực của đội ngũ cán bộ kỹ thuật
trong doanh nghiệp
49
2
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
50
3
Về tỷ lệ đầu tư cho hoạt động NC&TK tính trên phần trăm doanh
thu của doanh nghiệp
52
III
Kết luận của chương 2
55
Chương III. MỘT SỐ NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN GÂY
TRỞ NGẠI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH TỔ CHỨC NC&TK TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
57
I
Một số nhân tố chủ quan gây trở ngại trong việc hình thành
tổ chức NC&TK trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
57
1
Chiến lược phát triển doanh nghiệp
58
2
Nhận thức và trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp
60
3
Trình độ của đội ngũ cán bộ k ỹ thuật trong doanh nghiệp
64
Khuyến nghị
83
1
Nhóm giải pháp liên quan đến tạo lập môi trường hoạt động bình
đẳng và tích cực cho các doanh nghiệp Việt Nam
84
2
Nhóm giải pháp liên quan trực tiếp đến các yếu tố hỗ trợ doanh
nghiệp hình thành tổ chức NC&TK trong cơ cấu của doanh
nghiệp
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
CÁC PHỤ LỤC 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AFTA : Khu vực thương mại tự do ASEAN
CGCN : Chuyển giao công nghệ
CIEM : Viện quản lý kinh tế Trung ương
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
trở thành nước công nghiệp hoá vào năm 2020 nếu có nhiều doanh nghiệp
mạnh và thành công. Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thật là to lớn
nếu không nói là chủ đạo. Mỗi doanh nghiệp xứng đáng được hưởng các chế
độ hỗ trợ thích hợp của nhà nước và sự ủng hộ của xã hội để có thể nâng cao
sức cạnh tranh, trở thành các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn đa quốc gia và
đóng góp tích cực hơn nữa cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
1
Báo cáo đánh giá tổng quát thành tựu kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2005 và các chỉ tiêu phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2006 - 2010 của Chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI ngày
16/05/2006 tại Hà Nội
6
Đối với Việt Nam - một quốc gia hiện đang trong quá trình đổi mới và
phát triển và là thành viên chính thức của nhiều thể chế kinh tế mang tính khu
vực và thế giới như ASEAN, AFEC, WTO thì nhiệm vụ phát triển doanh
nghiệp lại càng có ý nghĩa cấp bách, quyết định thành công trong hội nhập
vào nền kinh tế thế giới.
Thời gian qua, hỗ trợ doanh nghiệp bằng các biện pháp trực tiếp, chủ
yếu thông qua các khuyến khích về thuế, tín dụng từ phía Nhà nước đã bộc lộ
nhiều điểm hạn chế. Trong khi đó việc hỗ trợ gián tiếp bằng tạo lập môi
trường cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp hay bằng các cơ
chế để khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho hoạt động KH&CN nói
chung, hoạt động NC&TK nói riêng cũng như khuyến khích hình thành tại
doanh nghiệp các tổ chức để thực hiện hoạt động này được nhiều quốc gia
trên thế giới lựa chọn và áp dụng.
Trong điều kiện của Việt Nam, việc hình thành các tổ chức NC&TK tại
doanh nghiệp là một trong những biện pháp nhằm gắn kết khoa học với sản
xuất, đồng thời góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ của sản xuất. Tuy
Trong phạm vi của luận văn, tác giả sẽ tổng quan 3 công trình nghiên
cứu được xem là gần với những quan tâm của luận văn và quan trọng hơn là
những phát hiện trong các công trình nghiên cứu này một số sẽ được sử dụng
làm luận cứ ban đầu, một số còn đang “treo” sẽ trở thành vấn đề nghiên cứu
cho luận văn này.
Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách
và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và NC&TK trong các cơ
2
Chỉ thị 199-CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ngày 25 tháng 6 năm 1987 về sắp xếp mạng lưới các tổ
chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và Quyết định số 782/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm
1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan NC&TK khoa học và công nghệ, trong đó đã đề
xuất phương án chuyển 6 viện NC&TK về trực thuộc các Tổng công ty nhà nước nhưng đã không thành
công.
8
sở sản xuất ở Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Ca (2000) với việc lựa chọn
phân tích 2 mảng chính sách được xem là ảnh hưởng khá rõ tới hoạt động đổi
mới công nghệ và NC&TK trong doanh nghiệp đó là chính sách tài chính và
chính sách nhân lực. Các giải thuyết nghiên cứu sau đã được đề tài kiểm
chứng:
Thứ nhất, mặc dù môi trường chính sách tài chính đã có những tiến bộ
nhất định trong thời gian qua và đã bao gồm nhiều vấn đề khá đầy đủ thuộc
cơ chế khuyến khích thúc đẩy đổi mới công nghệ và NC&TK trong các doanh
nghiệp tuy nhiên do việc soạn thảo và ban hành một số văn bản chính sách
còn vội vàng, nội dung quy định còn quá chung và chưa thể hiện sự hiểu biết
thấu đáo về đặc thù của hoạt động đổi mới công nghệ và NC&TK nên hiệu
quả thực hiện còn thấp.
Thứ hai, các chính sách về nhân lực có tầm quyết định quan trọng trong
đổi mới công nghệ và NC&TK của doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp còn
Nam (LILAMA) để phân tích 20 yếu tố trên, có thể nói nghiên cứu này mới
dừng lại ở đối tượng là các doanh nghiệp lớn, các tổng công ty nhà nước. Đối
với nhóm các DNNVV thì 20 yếu tố nêu trên có thực sự là những yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động NC&TK hay không, câu hỏi còn chưa được giải đáp.
Ngoài ra với các kết luận có được từ nghiên cứu của Trần Ngọc Ca
(2000) thì 14 yếu tố bên ngoài mà tác giả cho rằng có ảnh hưởng quan trọng
đến hoạt động NC&TK của doanh nghiệp trong đó chủ yếu các chính sách tài
chính của Nhà nước (như chính sách thuế, tín dụng hay vốn cho hoạt động
KH&CN) dường như chưa được thoả đáng trong bối cảnh hoạt động của các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
10
Đề tài Nghiên cứu sự hình thành và phát triển tổ chức và hoạt động
NC&TK trong các DNNVV ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Minh Hạnh
(2008) với mục tiêu nghiên cứu là nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển tổ chức và hoạt động NC&TK trong khu vực DNNVV- nhóm doanh
nghiệp hiện chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam
3
đã
khẳng định: (i) Chính nhu cầu về hoạt động NC&TK của các doanh nghiệp
quyết định hình thức tổ chức NC&TK ở loại hình doanh nghiệp này, cụ thể là
khi nào thì được tổ chức dưới dạng các phòng/ban phụ trách về NC&TK độc
lập, khi nào thì được lồng ghép vào các phòng/ban chuyên môn khác trong
doanh nghiệp và khi nào thì chỉ dừng lại ở mức độ có cán bộ kỹ thuật trong
doanh nghiệp phụ trách hoạt động NC&TK. (ii) Bên cạnh đó nghiên cứu này
cũng đã khẳng định: nghiên cứu hiện trạng về tổ chức và hoạt động NC&TK
trong các DNNVV có thể thấy rằng đây là một quá trình “động”, đó là cùng
với sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp, các
mô hình tổ chức hoạt động NC&TK sẽ vận động, biến đổi không ngừng và
thay thế cho nhau. Có thể ban đầu hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp chỉ
NC&TK, đổi mới công nghệ và những hoạt động khác cũng đều là các hoạt
động hướng tới một mục tiêu là giúp doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm
cạnh tranh, vậy hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp có vai trò “kép” đó là
phục vụ trực tiếp cho các hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp xét
tại một thời điểm cụ thể nào đó và nhằm nâng cao năng lực nội sinh phục vụ
cho chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp.Với vai trò này, hoạt động
NC&TK vẫn luôn cần trong doanh nghiệp dù là các doanh nghiệp lớn, vừa
hay nhỏ. (iii) Từ nhiều nghiên cứu độc lập khác về thực trạng đổi mới công
nghệ trong doanh nghiệp có thể thấy trong quá trình đổi mới công nghệ của
sản xuất, doanh nghiệp thường xuyên gặp phải những vấn đề mà nếu không
4
Hoàng Xuân Long (2005): Hoạt động NC&TK được sử dụng như một công cụ nhằm khắc phục tính thụ
động trong đổi mới công nghệ của DNNVV
12
có những năng lực NC&TK nhất định, không có sự đầu tư dài hơi trước đó
cho các hoạt động hỗ trợ trước, trong và sau đổi mới như xây dựng chiến lược
phát triển doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu thị trường, đào tạo nhân lực kỹ
thuật , … thì đổi mới không thể đem lại thành công như dự định ban đầu.
5
Tại mỗi doanh nghiệp, các bước phát triển về công nghệ thông thường
tuần tự từ mức thấp đến cao là sử dụng công nghệ; cải tiến và thích nghi công
nghệ đến đổi mới công nghệ. Vậy đổi mới công nghệ là bước phát triển công
nghệ cao nhất trong mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện trạng về sự gắn kết và
hỗ trợ giữa hoạt động NC&TK và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp Việt
Nam trong nhiều năm qua vẫn còn yếu vì hoạt động NC&TK của các doanh
nghiệp kém phát triển. Nhiều doanh nghiệp không có bộ phận NC&TK riêng.
Ngay cả những doanh nghiệp có phòng kỹ thuật thì phòng này cũng chưa thể
5. Giả thuyết nghiên cứu
Trong rất nhiều các yếu tố gây trở ngại đối với việc hình thành tổ chức
NC&TK trong doanh nghiệp thì phải chăng các nhóm yếu tố chủ quan như:
chiến lược phát triển doanh nghiệp, nhận thức và trình độ quản lý của chủ
doanh nghiệp, trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp, lĩnh vực
hoạt động của doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp và nhóm
các yếu tố khách quan như thể chế kinh tế, môi trường cạnh tranh, cơ chế
khuyến khích khoạt động KH&CN là những nhân tố đóng vai trò quan trọng
trong việc hình thành tổ chức NC&TK tại doanh nghiệp.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong luận văn, các phương
pháp nghiên cứu sau sẽ được sử dụng:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tổng quan nghiên cứu các tài liệu trong nước và nước ngoài liên quan
đến vai trò của tổ chức NC&TK trong doanh nghiệp; đặc điểm về tổ chức và
hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp; sự khác biệt về tổ chức và hoạt động
NC&TK ở các tập đoàn sản xuất, các doanh nghiệp lớn và ở DNNVV; mối
14
quan hệ giữa hoạt động NC&TK, hoạt động đổi mới công nghệ và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp; các chính sách vĩ mô định hướng doanh nghiệp
nâng cao năng lực cạnh tranh bằng hoạt động KH&CN nói chung và NC&TK
nói riêng, …
Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Các loại số liệu thống kê sau sẽ được tập hợp, phân tích và so sánh
trong quá trình thực hiện luận văn đó là các số liệu về mức đầu tư cho hoạt
động KH&CN (NC&TK) trên doanh thu của doanh nghiệp; tỷ lệ doanh
nghiệp có thành lập tổ chức NC&TK trong cơ cấu của doanh nghiệp; trình độ
đào tạo của đội ngũ doanh nhân; trình độ đào tạo và số lượng cán bộ kỹ thuật
trong doanh nghiệp; tỷ lệ cán bộ kỹ thuật trên tổng số lao động của doanh
Khoa học là một hệ thống tri thức;
Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức;
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội;
Khoa học là một thiết chế xã hội.
Cả 4 khái niệm này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của
cộng đồng những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học. Tuy nhiên,
trong phạm vi luận văn này, khái niệm khoa học được hiểu là “lĩnh vực hoạt
động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư
duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này” (Từ
điển Triết học của Liên Xô - bản tiếng Việt, 1975).
2. Công nghệ
Thuật ngữ công nghệ gần đây đã trở thành một cụm từ được nhiều
người ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau nhắc tới. Có thể nói, công nghệ
xuất hiện đồng thời với sự hình thành loài người. Từ “công nghệ” xuất phát từ
chữ Hy Lạp “Techne” có nghĩa là một khoa học hay sự nghiên cứu. Công
6
Vũ Cao Đàm, “Định nghĩa khái niệm “khoa học” trong Luật Khoa học và Công nghệ nên như thế nào?”,
Tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 5 năm 2008
17
nghệ là sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ để sản xuất ra của cải vật
chất. Tuy vậy, cho đến tận bây giờ, định nghĩa về công nghệ lại chưa hoàn
toàn thống nhất
7
. Điều đó được giải thích là do số lượng các loại công nghệ
nhiều đến mức không thể thống kê hết được, ngay một loại sản phẩm lại có
nhiều công nghệ khác nhau nên những người sử dụng công nghệ ở trong
những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau sẽ dẫn đến sự hiểu biết của họ về
công nghệ không giống nhau.
3. Đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế một phần hay toàn bộ
công nghệ đang được sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn nhằm
nâng cao hiệu quả của sản xuất - kinh doanh
8
.
Quan điểm chung
9
đều nhấn mạnh yêu cầu đối với một doanh nghiệp
được xem là đã đổi mới công nghệ là sản phẩm mới phải được đưa ra thị
trường (đổi mới sản phẩm), hoặc một quy trình sản xuất mới được đưa vào
ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh (đổi mới quy trình). Như vậy, một sản
phẩm mới không thương mại hoá được không coi là đổi mới sản phẩm, tương
tự những thay đổi về quy trình chưa được áp dụng trong sản xuất thì chưa
được tính là đổi mới quy trình.
4. Năng lực cạnh tranh
Tính cạnh tranh ban đầu là một khái niệm được dùng hạn chế ở phạm
vi doanh nghiệp trong các lý thuyết tổ chức công nghiệp. Năng lực cạnh tranh
của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp là tiềm năng sản xuất một
loại hàng hoá hay cung cấp một loại dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay
8
Nguyễn Thanh Tùng, “Nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ đổi mới công nghệ cho
DNNVV”, NISTPASS, 2007
9
Quan điểm này được đưa ra trong Tài liệu hướng dẫn Oslo, OECD (1992) và đã được nhiều quốc gia trên
thế giới áp dụng trong hoạt động thống kê về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.
19
thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không có sự trợ cấp nào từ phía
sinh lợi. Còn theo quan điểm lý thuyết hệ thống cho rằng doanh nghiệp là một
bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải
chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động
mà Nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu
dùng của xã hội.
Theo quy định tại Điều 4, Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi là Luật doanh nghiệp) thì “Doanh nghiệp
là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh”. Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp thường được dùng
để chỉ các loại hình: công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công
ty cổ phần hay công ty hợp danh thuộc các thành phần kinh tế.
Tuy vậy, ở Việt Nam ngoài các doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp nói trên, cần phải kể tới hơn 3 triệu hộ kinh doanh phi
nông nghiệp (theo con số thống kê đến hết năm 2005) như những doanh
nghiệp siêu nhỏ, cùng với 15.000 hợp tác xã và gần 12 vạn trang trại hoạt
động như loại hình doanh nghiệp. Đáng chú ý là trong các hộ kinh doanh, có
những hộ có quy mô doanh số và lao động khá lớn song vẫn chưa đăng ký
hoạt động như một doanh nghiệp, mặc dù theo quy định tại Khoản 4 Điều 170
Luật Doanh nghiệp thì “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động
trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của
Luật này”.
21
Hiện ở Việt Nam, có 3 loại hình doanh nghiệp khá rõ, nắm giữ hầu như
toàn bộ tài sản quốc gia
10
, đó là:
(i) Doanh nghiệp nhà nước: khối doanh nghiệp nhà nước hiện nắm giữ
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong các loại hình doanh nghiệp. Năm
2005, khu vực kinh tế doanh dân đã chiếm 32,1% tổng vốn đầu tư xã hội,
doanh nghiệp công nghiệp dân doanh đã chiếm gần 30% giá trị sản xuất công
nghiệp cả nước. Đây thực sự là khu vực kinh tế dân sự rộng lớn, do dân tự
chủ kinh doanh đang trên đà phát triển mạnh mẽ, năng động, trở thành lực
lượng chủ lực của công cuộc phát triển kinh tế nước nhà.
2. Một số đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, dù doanh nghiệp Việt Nam đã có bước phát
triển khá nhanh, nhưng hiện vẫn còn tồn tại những yếu kém bất cập làm hạn
chế năng lực cạnh tranh so với doanh nghiệp của các nước trong khu vực và
quốc tế khi bước vào hội nhập. Những yếu kém, bất cập đó là
11
:
Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp tuy tăng lên nhanh chóng nhưng quy
mô chủ yếu là nhỏ (thậm chí siêu nhỏ) hoạt động sản xuất phân tán đi kèm với
trình độ kỹ thuật công nghệ thấp. Số lượng doanh nghiệp từ năm 2004 đến
nay tăng bình quân 25%/năm, nghĩa là cứ sau 4 năm chúng ta có số lượng
doanh nghiệp tăng gấp đôi, nhưng theo đó là quy mô có xu hướng ngày càng
nhỏ.
11
Trong một nghiên cứu của VCCI năm 2006 được tác giả tổng hợp lại cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam
có 5 đặc điểm sau:
1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, quy mô nhỏ chiếm một tỷ trọng lớn và đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức.
2. Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại
quá chậm. Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để
ứng dụng trong sản xuất kinh doanh.
3. Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề
thấp, năng suất lao động không cao.
Theo quy mô lao động:
Số doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 56,96%;
Số doanh nghiệp có từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 29,97%;
Số doanh nghiệp có từ 50 đến dưới 200 lao động chiếm 8,89%;
12
Phạm Thái Hùng, “Một số vấn đề của doanh nghiệp lớn ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp, tháng 6/2009.