Những rào cản trong chuyển giao công nghệ vào các doanh nghiệp của làng nghề (nghiên cứu trường hợp gốm sứ - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHỮNG RÀO CẢN TRONG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
VÀO CÁC DOANH NGHIỆP CỦA LÀNG NGHỀ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GỐM SỨ) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.70
Khoá: 2005 - 2008
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Anh
Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Hà
3

MỤC LỤC
Nội dung
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
6
1. Sự cần thiết tiến hành nghiên cứu
6
2. Đối tƣợng nghiên cứu
6
3. Mục tiêu nghiên cứu
6
4. Phạm vi nghiên cứu
6
5. Mẫu khảo sát
7
6. Vấn đề nghiên cứu
7
7. Giả thuyết nghiên cứu
7
8. Phƣơng pháp nghiên cứu

II. Hiện trạng chuyển giao công nghệ vào các doanh nghiệp làng
nghề
25
CHƢƠNG II: NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC RÀO CẢN TRONG CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ VÀO CÁC DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ
30
1. Bên cung
30
2. Bên cầu
34
3. Kết nối cung - cầu
42
CHƢƠNG III: NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP - CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
VÀO CÁC DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ GỐM SỨ
48
I. Đôi nét về làng nghề gốm sứ
48
1. Lịch sử hình thành và phát triển của gốm sứ
48
2. Công nghệ sản xuất gốm sứ
50
3. Vấn đề đặt ra
63
CHƢƠNG IV: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ
67
PHẦN KẾT LUẬN
70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
74
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ GỐM SỨ

2. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu trong luận văn này là rào cản trong chuyển giao
công nghệ vào các doanh nghiệp làng nghề.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Nhận diện và đánh giá các yếu tố rào cản trong chuyển giao công nghệ
vào doanh nghiệp của làng nghề.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những rào cản, thúc đẩy quá trình
chuyển giao công nghệ vào sản xuất và đời sống một cách hiệu quả.
4. Phạm vi nghiên cứu:

6
4.1. Phạm vi nội dung: Các rào cản trong chuyển giao công nghệ vào các doanh
nghiệp làng nghề (nghiên cứu trƣờng hợp gốm sứ) (đề tài sẽ lựa chọn nghiên
cứu sâu một số rào cản).
4.2. Phạm vi thời gian: 5 năm, từ năm 2005 đến nay
5. Mẫu khảo sát:
Khảo sát tại một số doanh nghiệp làng nghề gốm sứ. Nghiên cứu 5 doanh
nghiệp sản xuất gốm sứ Bát Tràng.
6. Vấn đề nghiên cứu:
- Yếu tố nào là rào cản trong chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp
của làng nghề?
- Cần có những giải pháp gì để hạn chế những rào cản trong chuyển giao
công nghệ vào doanh nghiệp của làng nghề?
7. Giả thuyết nghiên cứu:
7.1. Những rào cản trong chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp của
làng nghề do bên cung, bên cầu công nghệ và kết nối cung - cầu:
a) Bên cung: (1) Các tổ chức khoa học và công nghệ trong nƣớc và các doanh
nghiệp mua bán công nghệ ở nƣớc ngoài chƣa xem các doanh nghiệp làng nghề
là đối tƣợng quan trọng trong hoạt động chuyển giao công nghệ; (2) Sự bao cấp
kéo dài và đầu tƣ dàn trải đối với các tổ chức khoa học và công nghệ đã không

sở lý luận và căn cứ để xác định những nội dung cần nghiên cứu.
8.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
- Thảo luận, lấy ý kiến một số chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh
vực chính sách KH&CN, lĩnh vực chuyển giao công nghệ và một số nhà doanh
nghiệp.
- Phỏng vấn sâu một số doanh nghiệp làng nghề gốm sứ ở Bát Tràng, Hà Nội.
9. Nội dung nghiên cứu:

8
9.1. Luận cứ lý thuyết:
- Các khái niệm sử dụng trong luận văn:
+ Khái niệm về chuyển giao công nghệ (theo quy định tại Luật chuyển giao
công nghệ năm 2006).
- Các mối quan hệ: Hoạt động chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp; những
rào cản tới sự tồn tại và phát triển của làng nghề.
9.2. Luận cứ thực tế:
- Đánh giá đúng thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ tại các doanh
nghiệp làng nghề gốm sứ của Việt Nam nói chung và của làng nghề gốm sứ ở
Bát Tràng, Hà Nội nói riêng.
- Tìm hiểu những rào cản trong hoạt động chuyển giao công nghệ của doanh
nghiệp làng nghề, giải pháp tự khắc phục các rào cản của các doanh nghiệp, từ
đó làm căn cứ trong việc đề xuất các khuyến nghị trong luận văn.
10. Kết cấu và nội dung của luận văn:
Về kết cấu, Luận văn gồm Phần Mở đầu, Chƣơng I, Chƣơng II, Chƣơng III,
Phần Kết luận và Khuyến nghị.
- Lời cảm ơn
- Danh mục các từ viết tắt
- Mục lục
- Phần Mở đầu
- Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động chuyển giao công
10
CHƢƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀO CÁC DOANH NGHIỆP LÀNG NGHỀ

I. Một số vấn đề lý luận về công nghệ và chuyển giao công nghệ:
1. Khái niệm về công nghệ:
Thuật ngữ “công nghệ” đƣợc xuất hiện lần đầu trong tiếng Hy Lạp, đƣợc
ghép bởi hai thuật ngữ: “techne” và “logos” – “Technology” có thể hiểu là kiến
thức về cái gì đó đƣợc làm nhƣ thế nào. Từ sự khởi đầu của thuật ngữ này, cho
đến nay đã có rất nhiều các khái niệm về công nghệ:
Công nghệ đƣợc hiểu là “Hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật
dùng để chế biến vật liệu và thông tin bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức,
thiết bị và phƣơng pháp sử dụng trong sản xuất, chế biến, dịch vụ, quản lý và
thông tin” (Định nghĩa của Tổ chức Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á – Thái
Bình Dương (ESCAP)).
Khái niệm này không chỉ đề cập đến lĩnh vực sản xuất mà còn đề cập đến
công nghệ trong cả lĩnh vực dịch vụ, quản lý và thông tin. Khái niện có tính bao
quát các khía cạnh liên quan đến công nghệ. Công nghệ là hệ thống kiến thức,
nhấn mạnh bản chất cốt lõi của công nghệ là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn
đƣờng của khoa học đối với công nghệ, và không phải các quốc gia có công
nghệ giống nhau sẽ đạt đƣợc kết quả nhƣ nhau. Công nghệ có khả năng chế biến
các nguồn lực thành hàng hoá và dịch vụ, do đó phải đáp ứng đƣợc mục tiêu sử
dụng và các yêu cầu về kinh tế để đƣợc áp dụng trong thực tế. Công nghệ là
công cụ, phƣơng tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con ngƣời và con ngƣời có
thể làm chủ đƣợc nó. Công nhệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó nhƣ
kiến thức, kỹ năng, thiết bị, các hệ thống do đó công nghệ có thể mua bán
đƣợc. Khái niệm công nghệ đƣợc mở rộng cả trong sản xuất vất chất và các dịch


12
Phần cứng của công nghệ bao gồm: công cụ, phƣơng tiện (máy móc, thiết
bị, dụng cụ), cơ sở hạ tầng (nhà xƣởng, đƣờng xá, điện nƣớc ), đƣợc sử dụng
để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Tức là phần công nghệ có liên quan
đến cơ sở hạ tầng và các phƣơng tiện kỹ thuật cần thiết và có vai trò cầu nối
trong quá trình thực hiện các quy trình công nghệ.
Trong thực tế, việc hiểu và vận dụng thuật ngữ “công nghệ” trong hoạt
động quản lý có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích, chiến lƣợc phát triển và
năng lực công nghệ của từng doanh nghiệp.
2. Khái niệm về chuyển giao công nghệ:
2.1. Khái niệm:
Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006): “Chuyển giao công nghệ là
chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công
nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”.
Chuyển giao công nghệ là một hoạt động nhằm đƣa ra những công nghệ
từ nơi có nhu cầu chuyển giao đến nơi có nhu cầu nhận công nghệ, từ nơi có
trình độ công nghệ cao hơn đến nơi có trình độ công nghệ thấp hơn một cách có
hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của các bên đối tác. (Nghị định số 45/1998/NĐ-CP
ngày 1/7/1998 Quy định chi tiết về Chuyển giao công nghệ).
Trƣớc đây, chúng ta coi quá trình chuyển giao công nghệ chỉ là việc áp
dụng một cách máy móc những công nghệ đã có sẵn, mà không cần có kiến thức
và năng lực, coi nhẹ về sở hữu trí tuệ, quyền phát minh sáng chế.
Hoạt động chuyển giao công nghệ chính là sự dịch chuyển công nghệ từ
thực thể sở hữu (bên giao – bên cung) tới bên khác, và việc chuyển giao này chỉ
thành công khi thực thể nhận công nghệ (bên nhận – bên cầu) hiểu đúng cách và
sử dụng có hiệu quả công nghệ. Nếu bên nhận công nghệ không thể hiểu và sử
dụng công nghệ một cách có hiệu quả, việc chuyển giao công nghệ coi là chƣa
hoàn thành.



14
- Chuyển giao công nghệ dọc: thƣờng do các cơ quan nghiên cứu tạo ra
công nghệ ở trong hoặc ngoài nƣớc thực hiện, hay từ kết quả nghiên cứu, qua
quá trình triển khai công nghệ và đƣợc thƣơng mại hoá. Đây là hình thức chuyển
giao dọc hay còn gọi là chuyển giao công nghệ nội bộ.
- Chuyển giao công nghệ ngang: là việc chuyển giao công nghệ đã hoàn
chỉnh từ bên chuyển giao sang bên nhận chuyển giao hay là sự chuyển giao từ
cơ sở đã áp dụng công nghệ này sang cơ sở khác nhằm mục đích mở rộng ứng
dụng và sở hữu công nghiệp trong sản xuất. Chuyển giao công nghệ này còn
đƣợc gọi là chuyển giao công nghệ ra bên ngoài.
Loại công nghệ đƣợc chuyển giao có thể là công nghệ nội sinh (trong
nƣớc) và công nghệ ngoại nhập.
3. Chuyển giao công nghệ vào các doanh nghiệp làng nghề:
3.1. Các hình thức chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp làng nghề:
* Hình thức chuyển giao công nghệ trọn gói (chìa khoá trao tay):
Đây là hình thức chuyển giao công nghệ thƣờng gặp trong hoạt động
chuyển giao công nghệ. Các công nghệ ở đây thƣờng mang tính hệ thống thiết bị
đồng bộ, quy trình sản xuất mang tính công nghệ, sản phẩm tạo ra là sản phẩm
hàng hoá. Ví dụ: lò đốt gas, dây truyền chọn lựa nguyên liệu, Ở hình thức này
bên chuyển giao chịu trách nhiệm toàn bộ từ thiết kế mặt bằng, thiết kế chế tạo
thiết bị, lắp đặt, chạy thử, điều hành thiết bị công nghệ, để ra sản phẩm cuối
cùng theo đúng chỉ tiêu, chất lƣợng đề ra. Sau khi hoàn thành toàn bộ hệ thống,
bên chuyển giao tổ chức hƣớng dẫn sử dụng thiết bị quy trình công nghệ qua
một vài mẻ sản xuất thử, sau đó bàn giao cho cơ sở.
* Hình thức chuyển giao hướng dẫn từng khâu, tạo cho thợ phương pháp
suy nghĩ và cùng tham gia:
Hình thức này đƣợc nhiều tổ chức sử dụng. Họ hƣớng dẫn từng khâu,
từng công đoạn để ngƣời thợ học hỏi, cùng tham gia vào quá trình chuyển giao
công nghệ.

bên và đặc điểm công nghệ. Thông thƣờng, bên bán muốn đƣợc tham gia cổ

16
phần để có thể giám sát đƣợc nhiều hơn đối với ngƣời mua công nghệ, nhất là
đối với những công nghệ quan trọng hoặc đang ở giai đoạn đầu của vòng đời sản
phẩm. Trái lại nếu công nghệ thuộc loại không quan trọng hoặc ở vào giai đoạn
cuối của vòng thì ngƣời bán thích phƣơng thức bán lixăng. Về phía ngƣời mua,
quyết định lựa chọn phƣơng thức chuyển giao nào phụ thuộc chủ yếu bởi năng
lực công nghệ và các nguồn lực hiện có. Nếu công nghệ định mua đòi hỏi nguồn
lực quá cao, họ không thích việc tham gia cổ phẩn, trừ khi có những lý do nhƣ
tiếp cận thị trƣờng. Lựa chọn đúng phƣơng thức chuyển giao công nghệ có ý
nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì nó giúp cho chuyển giao công
nghệ có hiệu quả, năng lực công nghệ phát triển và lớn mạnh lên một cách vững
chắc.
* Phương thức chuyển giao công nghệ trực tiếp từ bên sở hữu công nghệ
đến doanh nghiệp sản xuất:
Phƣơng thức chuyển giao này thƣờng thực hiện thông qua các hợp đồng
kinh tế kỹ thuật hoặc hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa bên sở hữu công
nghệ với các cơ sở sản xuất là những doanh nghiệp hay các hộ làng nghề, các
hợp tác xã làng nghề Công nghệ chuyển giao ở trƣờng hợp này thƣờng là các
công nghệ đã trở thành sản phẩm hàng hoá, không chịu ảnh hƣởng nhiều của các
đặc thù tự nhiên – kinh tế - xã hội của bên nhận chuyển giao đánh giá khả năng
phù hợp với sản xuất của họ. Ví dụ: máy tạo hình ép dẻo, máy nghiền bi nƣớc,
Đối tƣợng tiếp nhận công nghệ loại này thƣờng là những ngƣời đã có trình độ
am hiểu kỹ thuật chuyên ngành nhất định. Trong phƣơng thức chuyển giao này
thƣờng kèm theo nội dung tập huấn mang tính chất hƣớng dẫn sử dụng công
nghệ nhằm đảm bảo ngƣời sử dụng có đầy đủ kỹ năng để vận hành công nghệ
đạt đƣợc những tính năng, chỉ tiêu kỹ thuật của thiết bị nhƣ đã đƣợc giới thiệu
chào bán sản phẩm.
Phƣơng thức chuyển giao này có ƣu điểm là quá trình chuyển giao nhanh,

nhất trong tiếp nhận và khai thác công nghệ.
Tuy nhiên phƣơng thức này bộc lộ một số tồn tại là:
+ Công nghệ chuyển giao thƣờng vẫn là những công nghệ “có sẵn”, công
nghệ chuyển giao từ bên ngoài vào hệ thống, trong quá trình chuyển giao vẫn

18
phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm cho phù hợp với các đặc điểm, yêu cầu
của từng loại sản phẩm. Nên đôi khi chƣa phải công nghệ thật phù hợp.
+ Quá trình vận hành ảnh hƣởng nhiều của tính kế hoạch hoá, tính bao
cấp. Nguồn vốn chính là cấp từ ngân sách qua nhiều lớp trung gian, cơ quan chủ
trì dự án là tổ chức trung gian giữa bên giao và bên tiếp nhận.
+ Việc xây dựng dự án về nội dung, tiến độ, dự toán kinh phí vẫn còn bị
ảnh hƣởng bởi cơ chế bao cấp, cơ chế “xin – cho” nên vẫn có hiện tƣợng
“chạy” dự án mà chƣa khảo sát kỹ nhu cầu sản xuất cũng nhƣ điều kiện tiếp
nhận của địa bàn áp dụng, dẫn đến một số dự án khi triển khai rất vƣớng mắc về
quy mô và địa bàn tiếp nhận, phải điều chỉnh nội dung và di chuyển địa điểm
xây dựng mô hình, ảnh hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng dự án.
* Phương thức chuyển giao công nghệ thông qua các hợp đồng nghiên
cứu triển khai với địa phương:
Đây là phƣơng thức thƣờng có sự tham gia ngay từ đầu của cơ sở sản
xuất. Xuất phát điểm hình thành loại hình này là từ nhu cầu của thực tế địa
phƣơng mà cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc cơ sở sản xuất (các doanh
nghiệp) không có khả năng về chuyên môn giải quyết đƣợc cần có sự hợp tác
nghiên cứu của tổ chức khoa học và công nghệ chuyên ngành dƣới hình thức
hợp đồng nghiên cứu triển khai (đề tài, dự án). Mục tiêu của đề tài, dự án này
thƣờng rất cụ thể giải quyết một vấn đề tại một địa bàn cụ thể. Các nhà khoa học
ngay từ đầu phải đến tận địa bàn để điều tra khảo sát, cùng địa phƣơng xây dựng
nội dung thực hiện, kết quả nghiên cứu đƣợc thiết kế, thử nghiệm ngay tại địa
bàn áp dụng, sản phẩm nghiên cứu đƣợc chuyển giao áp dụng ngay vào sản
xuất.

các làng nghề, ngƣời làm kỹ thuật tại các doanh nghiệp làng nghề, hợp tác xã,
doanh nghiệp nhà nƣớc và tƣ nhân sản xuất tại làng nghề, các thợ thủ công làng
nghề. Đây là cơ sở áp dụng trực tiếp và cuối cùng các công nghệ đƣợc chuyển
giao để phục vụ sản xuất.

20
(3) Trung gian hỗ trợ (Kết nối cung - cầu): là các tổ chức quần chúng, tổ
chức cộng đồng làng, xã, thôn, xóm. Các nhân tố này không tạo ra công nghệ
hoặc trực tiếp chuyển giao công nghệ mà chỉ giữ vai trò quản lý, chỉ đạo, kết
nối, hỗ trợ quá trình chuyển giao giữa bên giao và bên nhận công nghệ thông
qua các chƣơng trình, thông qua hệ thống tổ chức của mình. Đồng thời đối với
hoạt động chuyển giao thông qua các chƣơng trình dự án thì họ đƣợc giao nhiệm
vụ quản lý, giám sát, kiểm tra quá trình chuyển giao.
Bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động chuyển giao công nghệ là môi
trƣờng chính sách. Nếu có chính sách đúng thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động
chuyển giao rất to lớn, nếu chính sách không phù hợp, không đi vào cuộc sống
sẽ làm kìm hãm hoạt động chuyển giao. Có những chính sách lớn của Nhà nƣớc
mang tính chủ trƣơng, đƣờng lối, quan điểm định hƣớng phát triển chung, có
những chính sách, giải pháp cụ thể của từng địa phƣơng. Nhìn chung hệ thống
chính sách đóng vai trò rất quan trọng cho các hoạt động của từng bên tham gia
và toàn bộ hệ thống.
b) Các nhân tố chính trong hoạt động chuyển giao công nghệ vào các
doanh nghiệp làng nghề:
Các nhân tố chính tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ cho các
doanh nghiệp làng nghề bao gồm bên giao, bên tiếp nhận, các tổ chức trung gian
hỗ trợ và môi trƣờng chính sách chuyển giao công nghệ. Các nhân tố này đều có
vai trò quan trọng, đóng góp cho sự thành công hay thất bại bất kỳ một hoạt
động chuyển giao nào.
(1) Bên giao (Bên cung):
Ở đây là những tổ chức khoa học và công nghệ (Viện, trƣờng chuyên

dụng phục vụ sản xuất đƣợc.
(3) Kết nối cung - cầu (Trung gian hỗ trợ):
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ cho làng nghề hiện nay, giữa một
bên là các tổ chức khoa học có khả năng tạo ra công nghệ mới nhƣng thƣờng
thiếu thông tin cập nhật về sản xuất tại làng nghề, chƣa có bộ phận chuyên trách
đủ mạnh về tổ chức chuyển giao công nghệ. Còn một bên là ngƣời sản xuất tại

22
các làng nghề thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật, thiếu thông tin, sản xuất
mang nặng tính tập quán, truyền thống thì vị trí của các tổ chức quản lý và trung
gian trong hoạt động chuyển giao rất quan trọng, có vai trò kết nối giữa bên
chuyển giao và bên tiếp nhận. Trong hệ thống tổ chức của nƣớc ta hiện nay,
tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp làng nghề
thì có Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh mang tính chất quản lý nhà nƣớc, đề xuất
và tổ chức thực hiện các chƣơng trình dự án chuyển giao công nghệ trong địa
bàn tỉnh. Một hệ thống tổ chức mang chức năng chuyên môn về chuyển giao
công nghệ làng nghề là hệ thống hiệp hội làng nghề, các hợp tác xã, hiệp hội
quần chúng mang tính tự nguyện cũng có đóng góp cho hoạt động chuyển giao
công nghệ. Các tổ chức trung gian này trong thời gian qua (đặc biệt là thời kỳ
đổi mới) đã có rất nhiều đóng góp cho sản xuất thủ công nghiệp trên phạm vi cả
nƣớc nói chung và sản xuất tại các làng nghề nói riêng, góp phần tích cực cho
quá trình áp dụng các công nghệ mới vào sản xuất, sản xuất ra sản phẩm hàng
hoá có chất lƣợng cao hơn. Tuy nhiên riêng về lĩnh vực gốm sứ thì vẫn còn rất
hạn chế, một phần chƣa có sự quan tâm đúng mức về vấn đề này, vẫn coi là
mảng của công nghiệp, một phần hầu nhƣ chƣa có lực lƣợng nhân lực kỹ thuật
chuyên ngành nên hoạt động chuyển giao công nghệ tại làng nghề gốm sứ chủ
yếu vẫn là do cơ quan nghiên cứu tự thực hiện có sự phối hợp một phần của Sở
Khoa học và Công nghệ, còn hệ thống tổ chức mang chức năng chuyên môn gần
nhƣ đứng ngoài cuộc.
- Một nhân tố xuyên suốt và chi phối toàn bộ các hoạt động chuyển giao

học và công nghệ là: Ƣu đãi thuế, ƣu đãi về sử dụng đất, ƣu đãi về tín dụng và
một số ƣu đãi khác.
+ Nghị định 90/2001/NĐ-CP: Nghị định đƣợc ban hành vào ngày 23
tháng 11 năm 2001. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho sự phát triển của
các doanh nghiệp. Nghị định có đề cập đến hoạt động khoa học và công nghệ
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

II. Hiện trạng chuyển giao công nghệ vào các doanh nghiệp làng
nghề:

24
Doanh nghiệp tại các làng nghề chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Đó là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành, có vốn đăng ký dƣới 10 tỷ đồng và lao động trung bình hàng năm
không quá 300 ngƣời.” (Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP).
Từ những năm 1986 trở về đây, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân đang phát triển nhanh chóng kể cả
về số lƣợng, quy mô và chất lƣợng. Trải qua một giai đoạn khó khăn, giờ đây
các doanh nghiệp làng nghề đang dần khôi phục và phát triển.
Doanh nghiệp làng nghề có ƣu thế là phát triển tại các vùng làng nghề,
nên có tác động lớn đối với việc thay đổi diện mạo của vùng nghề. Ví dụ: làng
nghề Bát Tràng ngoài phát triển làng nghề còn mở thêm dịch vụ du lịch, thu hút
một lƣợng lớn khách du lịch nƣớc ngoài tới thăm quan, tìm hiểu và trao đổi sản
xuất kinh doanh tại địa phƣơng, làm cho khoảng cách chênh lệch về sự phát
triển giữa vùng nông thôn và thành thị ở Bát Tràng càng nhanh chóng bị thu
hẹp. Góp phần vào tăng trƣởng kinh tế, thay đổi kết cấu nền kinh tế và phát triển
nông thôn.
Doanh nghiệp làng nghề cũng có vai trò quan trọng trong việc xoá đói
giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội. Doanh nghiệp làng nghề bằng cách
tạo ra chỗ làm việc và thu nhập cho ngƣời dân đã trở thành một trong những

xuất và khối lƣợng sản phẩm lớn để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trƣờng.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, năng lực cung cấp một khối lƣợng lớn sản
phẩm vào đúng thời gian đƣợc thoả thuận trong hợp đồng là yếu tố mà các
doanh nghiệp nƣớc ngoài cân nhắc kỹ trƣớc khi ký hợp đồng. Khá nhiều doanh
nghiệp của Việt Nam bị mất uy tín, bị thua thiệt, thậm chí bị phá sản do không
chủ động đƣợc nhân công, nguyên liệu, không cung cấp đủ số lƣợng sản phẩm
hoặc bị chậm chễ về thời gian giao hàng.
Do phần lớn các làng nghề vẫn chủ yếu là sản xuất thủ công với các công
nghệ cũ kỹ nên đã gây ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng. Ví dụ: công nghệ áp dụng
trong những làng sản xuất gốm sứ còn rất thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, sản xuất
phải tiêu thụ một lƣợng nhiên liệu lớn nên thải ra lƣợng khói, bụi ô nhiễm.
Nguồn gây ô nhiễm chính là khí thải và chất thải rắn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status