ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN VĂN SƠN
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Đặng Hữu Toàn
2. TS. Cung Thị Ngọc
HÀ NỘI - 2013 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI 17
2.3.2. Một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 121
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY 140
3.1. Phương hướng phát triển con người Việt Nam hiện nay 140
3.1.1. Phát triển con người Việt Nam giàu tính nhân văn trên cơ sở phát huy
giá trị văn hóa, truyền thống và lịch sử dân tộc 141
3.1.2. Phát triển con người Việt Nam gắn với việc cải thiện thể chất, phát triển
trí lực và nhân cách, xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội 146
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người Việt Nam hiện nay 152
3.2.1. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững với tư cách cơ sở nền tảng để phát
triển con người 152
3.2.2. Gắn tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để con người có điều kiện phát triển
bình đẳng 156
3.2.3. Phát triển văn hóa - xã hội với tư cách tiền đề cho sự phát triển con
người về mặt tinh thần 164
3.2.4. Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp
luật, nâng cao ý thức pháp luật - cơ sở mở rộng dân chủ nhằm tạo điều
kiện cho sự phát triển con người với tư cách công dân xã hội 174
3.2.5. Đổi mới và phát triển giáo dục - đào tạo vì mục tiêu phát triển con người
toàn diện 181
KẾT LUẬN 191
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 195
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 196
PHỤ LỤC 207
1
MỞ ĐẦU
2
triển con người. Việc lựa chọn hướng ưu tiên sẽ quyết định đến sự phát triển ổn định,
bền vững của các quốc gia dân tộc, đặc biệt là đối với nước ta. Sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta chỉ có ý nghĩa và thành công khi vấn đề con người được
coi trọng, phát triển và các mục tiêu phát triển phải gắn với phát triển con người và
giải phóng con người. Do đó, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực
tiễn chiến lược phát triển con người và lấy đó làm cơ sở để xây dựng, hoạch định
chiến lược phát triển cho các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội, cho các giai
đoạn phát triển ngắn hạn và dài hạn, trước mắt và lâu dài là cần thiết.
Việt Nam, xét về địa chính trị, kinh tế và văn hóa, là một nước có nhiều
thuận lợi. Ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, cửa ngõ của châu Á - nơi có
đời sống kinh tế sôi động và năng động. Việt Nam có một thềm lục địa phong phú
và đa dạng, với những điều kiện thuận lợi về khí hậu, diện tích đất nông nghiệp, đất
trồng cây công nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản, khai thác tài nguyên từ thềm lục
địa, có truyền thống lịch sử hào hùng, với nền văn hóa “thống nhất mà đa dạng” mở
ra nhiều triển vọng để phát triển kinh tế - xã hội. Tất cả những thuận lợi này đã có
thể đặt Việt Nam vào bản đồ kinh tế thế giới. Nhưng, vấn đề đặt ra là, những điều
kiện đó - sức mạnh của một dân tộc - có phải là điều kiện đủ giúp chúng ta trở thành
một cường quốc kinh tế hay không?
Mặt khác, Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu vượt bậc, tạo ra
sức sản xuất mạnh mẽ đã tạo cơ hội cho Việt Nam hội nhập và phát triển. Những
vấn đề mà các nước đi trước phải mất nhiều năm mới đạt được, thì ngày nay, chúng
ta dễ dàng tiếp cận hơn mà không phải mất quá nhiều thời gian. Sự phát triển của
khoa học và công nghệ, của nền sản xuất thế giới hiện nay đang góp phần giúp
chúng ta giải quyết tốt các vấn đề về vốn, khoa học và công nghệ, quản lý, thị
trường Những vấn đề này từng bước trở thành vấn đề có tính toàn cầu, mở ra
nhiều thời cơ và thách thức cho tất cả các nước không kể giàu hay nghèo, phát triển
hay đang phát triển. Và, một vấn đề nữa được đặt ra là, phải chăng những cơ hội đó
phát triển con người phải được đặt trên một nền tảng lý luận khoa học làm cơ sở để
xây dựng triết lý phát triển nói chung, triết lý phát triển con người nói riêng, từ đó
xây dựng chiến lược phát triển con người một cách đúng đắn làm cơ sở cho sự phát
triển kinh tế - xã hội bền vững.
4
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với
quan điểm lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho mọi hành động, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn. Tuy
nhiên, so với tiềm năng hiện có và so với các nước có điều kiện tương đồng thì Việt
Nam cần phải tiếp tục làm sáng tỏ nhiều vấn đề có tính lý luận, đặc biệt là triết lý về
phát triển con người. Do vậy, có thể nói, với Việt Nam hiện nay, việc tiếp tục làm
sáng tỏ các quan điểm về phát triển con người để lấy đó làm cơ sở, làm nền tảng
xây dựng chiến lược phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế là một vấn đề cần thiết và
cấp bách. Và, để có được cơ sở khoa học về phát triển con người, cần phải tiếp tục
nghiên cứu sâu sắc hơn quan điểm của C.Mác về phát triển con người để lấy đó làm
tiền đề lý luận, làm xuất phát điểm cho việc xây dựng chiến lược phát triển con
người Việt Nam. Thêm nữa, việc làm rõ và sâu sắc thêm tính cách mạng, tính khoa
học trong quan điểm của C.Mác càng có ý nghĩa hơn trong điều kiện mà một số học
giả phương Tây đang ra sức truyền bá những luận điểm xuyên tạc quan điểm của
C.Mác về phát triển con người. Do vậy, việc nghiên cứu, làm rõ quan điểm của
C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng quan điểm đó trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, trong chiến lược phát triển con người của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề
cần thiết trong tình hình hiện nay. Công việc nghiên cứu này không chỉ giúp chúng
ta bảo vệ và phát triển quan điểm của C.Mác về phát triển con người trong điều kiện
mới, khẳng định giá trị, ý nghĩa thời đại của nó trong sự nghiệp giải phóng con
người, mà còn giúp chúng ta định hướng và tìm ra những giải pháp khả thi cho việc
thực hiện chiến lược phát triển con người Việt Nam hiện nay. Vì thế, chúng tôi đã
sáng tỏ sự vận dụng và phát triển quan điểm của C.Mác về phát triển con người
trong tư tưởng Hồ Chí Minh và chiến lược phát triển con người của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên cơ sở sự vận dụng, phát triển học thuyết Mác và tư tưởng Hồ Chí
Minh không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn làm cơ sở, nền tảng hoạch định
chiến lược phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Liên quan đến đề tài này ở nước ta,
đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn cao
học. Trong đó, tiêu biểu có thể kể đến nhóm các công trình sau:
6
Một là, những công trình liên quan đến học thuyết Mác về phát triển con
người được tiếp cận ở nhiều khía cạnh, nhiều thời điểm khác nhau đã làm sáng tỏ
nhiều luận điểm của C.Mác về phát triển con người, trong đó phải kể đến:
“Mác - Người vượt trước thời đại” (1998) của Đanien Benxaiđơ. Trong
tác phẩm này, tác giả đã phác hoạ những nét cơ bản nhất của học thuyết Mác
và những cống hiến đích thực của C.Mác về mặt khoa học, những giá trị lớn
lao của học thuyết Mác. Tác giả nhấn mạnh rằng, C.Mác không quan niệm
lịch sử như một định mệnh, mà lịch sử là do con người làm ra. Tác giả cũng đã
nêu rõ thực trạng giai cấp trong xã hội tư bản hiện đại, quan hệ bóc lột và bị bóc lột,
sự bất công xã hội dưới chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, tác giả còn làm nổi bật hai vấn
đề được coi là mối quan tâm của toàn thể loài người. Đó là vấn đề vai trò của khoa
học với tính cách là lực lượng sản xuất trực tiếp và vấn đề môi sinh, môi trường
sống cho con người.
“Triết học Mác-Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001) của tác giả Vũ Thiện Vương.
Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin về bản
chất con người - cái bản chất luôn tồn tại một cách hiện thực, với phương thức đặc
thù là hoạt động có ý thức mà bằng hoạt động này, con người sáng tạo ra lịch sử.
Tác giả cũng phân tích những luận điểm cơ bản của Mác-Lênin về giải phóng con
C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người nhìn từ góc độ thời đại ngày nay, ý
nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức và phát triển con người.
Đặc biệt, trong phần này, tác giả Đặng Hữu Toàn đã phân tích, làm rõ học thuyết
Mác về con người và giải phóng con người; đồng thời khẳng định chủ nghĩa Mác đã
tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người và bản chất con người,
về mối quan hệ con người - tự nhiên - xã hội, vị trí và vai trò của con người trong
tiến trình phát triển lịch sử nhân loại và sự nghiệp giải phóng con người. Tác giả
cũng khẳng định chủ nghĩa Mác là học thuyết về con người và giải phóng con
người.
Ngoài ra, các công trình, như “Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa nhân đạo hiện
thực mang đặc trưng khoa học và cách mạng” (1986) của tác giả Hoàng Chí Bảo;
“Vấn đề con người, cá nhân và xã hội trong học thuyết Mác” (1994) của tác giả
Trần Hữu Tiến; “Về tư tưởng giải phóng con người của học thuyết Mác” (1996) của
tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh; “Marx - nhà tư tưởng của cái có thể” (1996) gồm 2
8
tập của tác giả Milchel Vadée; “Phát triển vì con người trong quan niệm của Mác
và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu phát triển con người ở
nước ta hiện nay” (1997) của tác giả Đặng Hữu Toàn; “Chủ nghĩa Mác - Frớt về
con người” (1998) của M.S. Kelner và K.F. Tarasov; “Những quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về tiềm năng con người và phát huy tiềm năng trí tuệ của con
người” (1998) của tác giả Nguyễn An Ninh; “150 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản:
Lý luận và thực tiễn” (1998) do GS. TSKH Nguyễn Duy Quý làm chủ biên; “Tư
tưởng vì con người và giải phóng con người ở các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác”
(1998) của tác giả Bùi Bá Linh; “Mối quan hệ con người - tự nhiên trong triết học
Mác” (2007) của tác giả Đặng Hữu Toàn, cũng đề cập đến những khía cạnh nhất
định trong quan điểm của C.Mác về phát triển con người và có sự liên hệ với tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về cơ bản, các công trình trên đây đã phân tích ở những mức độ nhất định và
diện tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt trong lĩnh vực
văn hóa - nơi biểu hiện tập trung tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người” (2005) do GS.
Đặng Xuân Kỳ làm chủ biên là kết quả nghiên cứu của đề tài KHXH.04
(KHXH.04-01) giai đoạn 1996 - 2000. Cuốn sách gồm 3 phần tập trung luận giải tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người trong dòng chảy chung của lịch sử; sự
kế thừa, phát triển những giá trị của dân tộc trong điều kiện mới. Đồng thời, cuốn
sách cũng tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con
người mới; sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh vào việc phát triển văn hóa và
xây dựng con người Việt Nam.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” (2010) của tác
giả Nguyễn Hữu Công. Tác giả đã phân tích, làm rõ chủ nghĩa Mác-Lênin là tiền đề
lý luận cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện.
Qua công trình này, tác giả chỉ rõ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người
toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có trên tất cả các mặt
đạo đức, trí tuệ, thể lực, tình cảm, năng lực nhận thức và hành động và tác giả đã đi
đến khẳng định: quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người phát triển toàn
diện là đỉnh cao trong quá trình phát triển của con người, là bước đi tất yếu của
nhân loại để giải phóng con người một cách triệt để nhất. Tuy nhiên, trong công
10
trình này chưa có sự gắn kết chặt chẽ, xuyên suốt từ học thuyết Mác đến tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài các công trình trên, các công trình, như “Quan điểm Hồ Chí Minh về
con người và bản chất con người” (2002) của tác giả Đặng Xuân Kỳ; “Cội nguồn
và bản chất tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” (1996) của tác giả Nguyễn Văn
Huyên; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người” (1997)
của tác giả Trần Thành và một số công trình của các tác giả khác đã góp phần làm
sáng tỏ sự kế thừa, phát triển học thuyết Mác trong tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt
phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên cứu con người trên thế giới và ở Việt
Nam, về chiến lược và chính sách nhằm phát triển toàn diện con người và nguồn
nhân lực Việt Nam những năm cuối của thế kỷ trước.
“Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
(2001) của tác giả Phạm Minh Hạc. Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài
KHXH.04 (KHXH.04-04) giai đoạn 1996 - 2000 - “Phát triển văn hóa, xây dựng
con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nội dung cơ bản
của cuốn sách này là phân tích cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện
con người Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000, đồng thời nêu lên một số định hướng
chiến lược và một số giải pháp nhằm xây dựng, phát triển con người Việt Nam về
mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ Đặc biệt, cuốn sách đã cụ thể hóa trong một phạm
vi nhất định về mục tiêu đào tạo của nhà trường, chủ yếu ở hệ thống phổ thông và
xây dựng chiến lược giáo dục toàn diện nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
(2002) của tác giả Nguyễn Thanh đã trình bày khái quát quan niệm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực; phân tích và làm rõ vai trò quyết
định của việc phát triển nguồn nhân lực đối với sự thành công của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tác giả cũng đã chỉ rõ thực trạng nguồn nhân lực
ở nước ta hiện nay và phân tích một số định hướng trong việc phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; làm rõ vai trò của giáo
dục - đào tạo và khẳng định, giáo dục - đào tạo đóng vai trò quyết định trong chiến
lược phát triển con người.
12
Ngoài các công trình trên đây, còn có một số công trình tiếp cận ở nhiều khía
cạnh và mục đích khác nhau, như “Vai trò của những điều kiện khách quan và nhân
tố chủ quan trong việc xây dựng con người mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
tiên xã hội của các nhà quản lý và hoạch định chiến lược. Trong nhóm công trình
này, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
“Phát triển con người từ quan niệm đến chiến lược và hành động” (1999)
của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia. Cuốn sách này đã tập hợp
một số bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về khái
niệm, thực tiễn chiến lược phát triển con người, đồng thời đưa ra các công cụ phân
tích, đánh giá trình độ phát triển con người. Trong cuốn sách này có đề cập đến
công trình của Amartya Sen - người đã được nhận giải thưởng Noben năm 1999
nhờ những công trình nghiên cứu của ông trong lĩnh vực đói nghèo và phát triển
con người.
“Phát triển con người Việt Nam 1999 - 2004 - Những thay đổi và xu hướng
chủ yếu” (2006) của Viện Khoa học xã hội Việt Nam với nội dung cơ bản là nêu lên
những thành tựu phát triển con người đã đạt được trong quá trình đổi mới; phân tích
những xu thế chủ yếu trong phát triển con người Việt Nam giai đoạn 1999 - 2004.
Dựa trên cơ sở phân tích thành tựu và hạn chế, cuốn sách so sánh các chỉ số phát
triển con người (HDI), chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI) và chỉ số phát triển giới
(GDI) ở cấp tỉnh, quốc gia, vùng so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Cuốn
sách cũng tổng hợp những kết quả chính của chính sách phát triển con người Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, các tổ chức phi chính phủ cũng như Liên
hợp quốc đã có nhiều báo cáo tiếp cận trên các khía cạnh, như văn hoá, giáo dục, y tế,
môi trường, kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Phương pháp tiếp cận này đã góp phần định
hình một triết lý phát triển mới mà ưu điểm của nó là khắc phục được một số hạn chế
của các quan điểm tiếp cận trên phương diện tự nhiên, xã hội, tâm lý, đạo đức Hệ
Báo cáo Phát triển con người của Liên Hợp Quốc là công trình đánh giá khá toàn
diện về sự phát triển con người trên thế giới, khu vực và quốc gia. Các chỉ số được đề
cập đến trong hệ báo cáo phát triển con người của Liên hiệp quốc thực hiện từ năm
1990 đến nay là các công trình phản ánh có tính khái quát nhất về phát triển con
người từng khu vực và trên phạm vi thế giới. Bên cạnh các công trình trên đây, còn
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm của C.Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển con người và chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong
quan niệm của C.Mác về bản chất con người để làm cơ sở phân tích quan điểm của
ông về phát triển con người. Luận án phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
và phát triển con người trên cơ sở kế thừa, phát triển quan điểm của C.Mác về phát
15
triển con người để làm rõ tính xuyên suốt trong quan điểm, chiến lược phát triển
con người cũng như mục tiêu của sự nghiệp cách mạng là giải phóng con người
trong tư tưởng của Người. Đặc biệt, luận án tập trung vào chiến lược phát triển con
người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu
Mục tiêu của luận án là luận giải quan điểm của C.Mác về phát triển con
người và sự vận dụng quan điểm này ở Việt Nam trên phương diện lý luận cũng
như thực tiễn để trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm góp phần
phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế.
4.2. Nhiệm vụ
Để đạt mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, luận giải quan điểm của C.Mác về phát triển con người.
Hai là, phân tích sự vận dụng và phát triển quan điểm của C.Mác về phát
triển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chiến lược phát triển con người
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, phân tích thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người
ở Việt Nam hiện nay.
Bốn là, đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển
làm phong phú thêm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu một số
chuyên đề của chuyên ngành triết học về phát triển con người; làm cơ sở phương
pháp luận cho một số ngành khoa học xã hội khác đi vào nghiên cứu về con người.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng như
một tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chiến lược phát triển con người ở Việt
Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận án bao gồm 3 chương, 7 tiết.
17
Chƣơng 1
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI
1.1. Quan niệm duy vật của C.Mác về con ngƣời với tƣ cách cơ sở nền
tảng để xây dựng quan điểm về phát triển con ngƣời
1.1.1. Quan niệm của C.Mác về con người và bản chất con người
Lịch sử phát triển của loài người, theo quan điểm của C.Mác, là sự thay thế
hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn do sự
vận động của xã hội. Trong đó, con người với tư cách là chủ thể của xã hội đóng vai
trò quyết định và là động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển đó. Con người vừa là
sản phẩm của tự nhiên, vừa là chủ thể cải tạo, thay đổi giới tự nhiên nhằm thoả mãn
nhu cầu của mình, và như vậy, con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá
trình nhận thức. Con người với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, có ý thức
mới, có năng lực để nhận thức được bản chất, quy luật vận động của giới tự nhiên
và cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình. Qua đó, con người cũng tự nhận
thức, tự cải biến mình trong thực tiễn. C.Mác đã dự đoán, khoa học tự nhiên bao
hàm trong nó khoa học về con người và khoa học về con người bao hàm trong nó
các khoa học tự nhiên - tất cả sẽ trở thành một khoa học.
trường duy vật biện chứng, trên cơ sở phê phán một cách có luận cứ khoa học quan
niệm của các nhà triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phê phán quan niệm duy tâm của
Hêghen coi con người chỉ là sự hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" và quan niệm duy
vật siêu hình của Phoiơbắc coi con người như một thực thể tự nhiên thuần tuý,
C.Mác đã đưa ra một quan niệm độc đáo, đúng đắn và khoa học về tồn tại người khi
khẳng định con người là một thực thể sinh học - xã hội. Khi chỉ rõ những sai lầm về
phương diện khoa học trong quan niệm tôn giáo về tồn tại người - quan niệm coi
tồn tại người là "một tồn tại siêu nhân", một tồn tại ngoài con người và trên con
người, "trong tính hiện thực ảo tưởng" của con người ở thế giới bên kia, C.Mác đã
chỉ rõ "con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế
giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội", "gốc rễ của con
người chính là bản thân con người" [84, tr. 580], "người là sinh vật tối cao đối với
con người" [84, tr. 581], "bản thân con người là bản chất tối cao của con người" [84,
tr. 569]. Khi phê phán quan niệm duy tâm - tư biện về con người. C.Mác cho rằng,
19
những khái niệm trừu tượng, tư biện, những "ý niệm tuyệt đối" chẳng qua chỉ là sự
xuyên tạc mang tính tư tưởng hệ bản chất thực sự của con người. Rằng, để tìm ra
bản chất đích thực của con người và nhận thức đúng đắn đời sống hiện thực, người
ta không cần đến những khái niệm trừu tượng, tư biện ấy, mà cần phải nghiên cứu
một cách cụ thể đời sống sinh hoạt hiện thực của con người và chỉ bằng cách này
mới có thể lý giải được sự tồn tại của con người trong thế giới. C.Mác cho rằng, bản
thân đời sống sinh hoạt của con người vốn đã mang tính hiện thực, hoạt động cơ
bản của con người là hoạt động sản xuất vật chất của những cá nhân nắm quyền làm
chủ các lực lượng sản xuất nhất định, hoạt động trong khuôn khổ của những "quan
hệ giao tiếp" nhất định. Các khái niệm, dẫu có là khái niệm trừu tượng, tư biện thì
theo C.Mác, chúng cũng vẫn chỉ là những khái niệm phản ánh đời sống sinh hoạt
hiện thực, phản ánh hoạt động sản xuất vật chất của con người và tất yếu, chúng
phải mang tính khách quan, mang tính hiện thực. Do vậy, khi xem xét con người và
thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra" [86, tr. 28 -
29], là "những con người, không phải những con người ở trong một tình trạng biệt
lập và cố định tưởng tượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá
trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới
những điều kiện nhất định" [86, tr. 38]. Và do vậy, theo C.Mác, tính hiện thực của
bản chất con người cũng được thể hiện trước hết ở chỗ, con người tồn tại thực, hiển
nhiên, cảm tính - con người tồn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới
tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. C.Mác viết: "Con người là một sinh vật có
tính loài con người đối xử với bản thân mình như với một loài hiện đang sống,
như với một thực thể phổ biến và do đó là một thực thể tự do" [96, tr. 134]. Và, "về
mặt thể xác thì ở con người cũng như ở con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con
người (cũng như con vật) sống bằng giới tự nhiên vô cơ", "giới tự nhiên là tư liệu
sinh sống trực tiếp đối với con người là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt
động sinh sống của con người". Giới tự nhiên với tư cách đó "là thân thể vô cơ của
con người", thân thể mà với nó, "con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên
giao tiếp để tồn tại". Cả đời sống thể xác lẫn đời sống tinh thần của con người đều
gắn liền với giới tự nhiên. Và điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là "giới tự nhiên gắn
liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên" [96,
tr. 134 - 135].
21
Như vậy, rõ ràng là, trong quan niệm của C.Mác, sự tồn tại của con người
bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện tự nhiên nhất định, và hơn thế nữa, con
người tồn tại với tư cách là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên, con
người là một bộ phận của giới tự nhiên, "thực vật, động vật, đá, không khí, ánh
sáng", v.v. cũng là "một bộ phận của ý thức con người, , là giới tự nhiên tinh thần
vô cơ của con người" [96, tr. 135]. Sự tồn tại của con người trong tự nhiên là tồn tại
hiện thực, tồn tại với phương thức đặc thù của nó. Phương thức hoạt động sống -
hoạt động để tồn tại - của con người khác hoàn toàn với phương thức hoạt động sinh