Thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MẠC THỊ LỆ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


nhân tôi và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Hà Nội, tháng 7 năm 2014
Tác giả Luận văn Mạc Thị Lệ
LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Cao Bằng” đƣợc hoàn thành tại trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà nội. Để hoàn thành luận văn, bên cạnh những nỗ lực
của bản thân, tác giả luận văn đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá
nhân, tập thể.

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CHÍNH
SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 11
1.1. Khái luận chung về đói nghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo. 11
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về đói nghèo. 11
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo. 19
1.2. Tính tất yếu của việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. 23
1.2.1. Tính tất yếu về mặt lý luận. 23
1.2.2. Tính tất yếu về mặt thực tiễn. 30
Chƣơng 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở TỈNH CAO BẰNG 42
2.1.2. Nguyên nhân đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng 49
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Cao Bằng. 56
2.2.1. Mục tiêu thực hiện chính sách. 56
2.2.2. Nội dung và những thành tựu đạt được trong việc thực hiện chính
sách xóa đói giảm nghèo 60
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện chính
sách xóa đói giảm nghèo ở Cao Bằng 73
2.3.1. Hạn chế. 73
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế. 82

2
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở TỈNH CAO BẰNG 87
3.1. Giải pháp về quan điểm nhận thức. 87
3.2. Giải pháp về hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo. 89
3.3. Giải pháp về hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo 99
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

3

chất lƣợng cuộc sống trong xã hội và xóa bỏ sự phân hóa về giàu nghèo.
Trong đó, thực hiện xoá đói giảm nghèo để có thể rút ngắn đƣợc khoảng cách
chênh lệch trong xã hội, nâng cao đời sống đối với ngƣời dân xóa bỏ nạn đói
nghèo là công việc quan trọng. Nhƣ vậy, xóa đói giảm nghèo không chỉ là
nhiệm vụ của các cấp, các ngành, ở từng địa phƣơng mà còn là nhiệm vụ của
tất cả mọi ngƣời, của toàn thể nhân dân.
Trong những năm qua, với những thay đổi trong phát triển kinh tế đã tạo
ra những cơ hội và thách thức đối với đƣờng lối và chính sách phát triển của
Đảng và Nhà nƣớc ta. Chính sách xóa đói giảm nghèo đã trở thành một chủ
trƣơng lớn và là một nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quan điểm xuyên suốt trong cƣơng lĩnh
phát triển đất nƣớc của Đảng ta là tăng trƣởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng thời kỳ và từng chính sách phát
triển. Từ quan điểm ấy, nhiều năm qua xóa đói giảm nghèo đã trở thành một
chính sách xã hội trọng điểm trong suốt quá trình phát triển kinh tế và xã hội.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía bắc nằm trong danh sách năm tỉnh
nghèo nhất cả nƣớc, với hơn 95% đồng bào là ngƣời dân tộc thiểu số và hơn
70% số xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn, là tỉnh vùng cao có đƣờng biên
giới khá dài, lại nằm xa khu trung tâm kinh tế của cả nƣớc nên kinh tế chủ
yếu là nông - lâm nghiệp, nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá và dịch
vụ chƣa phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém nên tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt
khó khăn còn cao. Vì vậy, tỉnh Cao Bằng thực hiện chính sách xoá đói giảm
nghèo là thực hiện một trong những chính sách xã hội cơ bản hƣớng vào phát
triển con ngƣời, nhất là ngƣời nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, để cho ngƣời nghèo có cơ hội và điều
kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vƣơn lên thoát khỏi đói
nghèo. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu chiến lƣợc xóa đói giảm

5
nghèo thì trong những năm qua tỉnh Cao Bằng đã tích cực triển khai thực hiện

cũng đã nêu rõ đặc trƣng về tình hình đói nghèo ở huyện Từ Liêm nói riêng.
Qua đó cũng nêu giải pháp và kiến nghị nhằm xóa đói giảm nghèo ngay tại
huyện Từ Liêm. Đây là sách để các tỉnh lân cận khu vực ngoại thành Hà Nội
và các tỉnh miền bắc nói chung có thể nghiên cứu, tham khảo trong việc xóa
đói giảm nghèo cho ngƣời dân.
Một số công trình nghiên cứu khác cũng đƣa ra những cách thức,
phƣơng pháp để ngƣời dân có thể tham khảo, vận dụng, tự xóa đói giảm
nghèo và tự thoát nghèo bằng nhiều cách khác nhau, đó là: “Làm ăn có kế
hoạch để xóa đói giảm nghèo” của nhóm tác giả Vi Hồng Nhân – Ngô Quang
Hƣng – Trịnh Thị Thủy (Nxb Văn hóa dân tộc, 2007), “Những điển hình tiên
tiến trong xóa đói giảm nghèo” của nhóm tác giả Đinh Viết Vinh – Phạm Văn
Khánh – Viết Hồng (Nxb Lao động xã hội, 2006), tài liệu của nhóm tác giả
Trần Văn Ơn – Tô Xuân Phúc – Nguyễn Tất Cảnh,“Thương mại hóa sản
phẩm bản địa: hướng đi mới nhằm xóa đói giảm nghèo cho miền núi Việt
Nam” (Nxb Nông nghiệp, 2008). Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này
là tài liệu tham khảo phù hợp cho các địa phƣơng thuộc khu vực miền núi và
vùng dân tộc thiểu số ở nƣớc ta.
Các bài viết công bố trên các tạp chí cũng đã đề cập tới việc thực hiện
xóa đói giảm nghèo.
Để thấy đƣợc tình hình đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng nói riêng, tác giả
Nguyễn Thị Nƣơng với bài viết “Cao Bằng tập trung nguồn lực đầu tư phát
triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, tạp chí Cộng Sản số 812 (2010) cho
thấy hiệu quả công tác dân tộc và chính sách dân tộc đã góp phần tạo ra sự
chuyển biến mạnh mẽ về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc thiểu số ở
Cao Bằng. Đồng thời, đƣa ra một số chủ trƣơng lớn để tập trung nguồn lực
phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn
tiếp theo.

7
Một số bài có thể là tài liệu tham khảo trong việc đƣa ra những giải

Đại học quốc gia Hà Nội, (2012). Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu sự lãnh
đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao bằng trên địa bàn của
tỉnh, từ đó đƣa ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng.
Nhìn chung, các công trình ở trên đã đề cập đến vấn đề đói nghèo dƣới
các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Một số bài viết nghiên cứu cụ
thể về các vấn đề đói nghèo của ngƣời dân ở tỉnh Cao Bằng, cho thấy đời
sống hàng ngày của ngƣời dân còn nghèo khó cả về vật chất và tinh thần, qua
đó cũng đề ra các hƣớng giải pháp nhằm để thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Nhận thấy việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo mang tính thiết
thực và quan trọng nên tôi lựa chọn vấn đề Thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Cao Bằng làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Từ việc làm rõ vấn đề lý luận về đói nghèo, chính sách xóa đói giảm
nghèo, quan điểm và đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ta về xóa đói giảm
nghèo, luận văn khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện chính sách xóa đói
giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng. Từ đó đƣa ra giải pháp về xóa đói giảm nghèo
nhằm nâng cao việc xóa đói giảm nghèo bền vững ở Cao bằng.
- Nhiệm vụ:
Để đạt đƣợc mục đích trên luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cơ bản sau:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về đói nghèo và chính sách xóa đói
giảm nghèo.
+ Luận giải về tính tất yếu của việc xóa đói giảm nghèo.

9
+ Khảo sát và đánh giá việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở
tỉnh Cao Bằng.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc xóa đói giảm nghèo

đói giảm nghèo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chƣơng và 8 tiết.

11
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1. Khái luận chung về đói nghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo.
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về đói nghèo.
Trong những năm qua, vấn đề đói nghèo luôn đƣợc cả cộng đồng quốc
tế quan tâm, tại hội nghị thƣợng đỉnh thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc năm
2000, có 189 quốc gia thành viên tham gia đã nhất trí thông qua tuyên bố
thiên niên kỷ và cam kết đạt mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015 [10, tr. 9].
Điều này thể hiện sự đồng thuận chƣa từng có trong lịch sử của các nhà lãnh
đạo trên thế giới về những thách thức lớn trên toàn cầu trong thế kỷ XXI cũng
nhƣ cam kết chung về việc giải quyết thách thức này. Tuyên bố thiên niên kỷ
và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ tạo ra lộ trình và tầm nhìn về một thế
giới mà ở đó không còn đói nghèo, ai cũng đƣợc học hành, sức khỏe của
ngƣời dân đƣợc cải thiện, môi trƣờng đƣợc bảo vệ một cách bền vững, mọi
ngƣời đều đƣợc hƣởng các quyền tự do, bình đẳng và công bằng [10, tr. 9].
Từ trƣớc đến nay có đã nhiều quan điểm khác nhau về đói nghèo, tuy
nhiên, để xác định đói nghèo có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Trước hết, về kinh tế, nhìn chung đƣợc thể hiện qua thu nhập của họ từ
các công việc mà họ hoạt động để đáp ứng những nhu cầu cơ bản về: ăn, mặc,
ở, y tế, giáo dục, văn hóa và các giao tiếp xã hội. Đồng thời tƣơng ứng với
kinh tế đó là mức sống của họ trong xã hội. Vì vậy, khi xem xét hiện tƣợng
đói nghèo ở lĩnh vực kinh tế thì những nhu cầu cơ bản, tối thiểu về đời sống
vật chất cần phải đƣợc quan tâm.

cận đối với các hoạt động khám chữa bệnh định kỳ, tiêm chủng mở rộng,
nhận thức trong việc bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em… đều hạn chế.

13
Đối với các vấn đề thông tin truyền thông, thông tin thời sự hàng ngày
của ngƣời nghèo cập nhật còn ở mức độ thấp nên sự hiểu biết và mức độ
hƣởng thụ còn hạn chế. Mức độ tiếp nhận văn hóa – thông tin, phát thanh
truyền hình vẫn chƣa đƣợc đáp ứng đối với các nhu cầu hàng ngày của họ, các
thông tin kinh tế thị trƣờng, tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm về sản
xuất giỏi…cập nhật ở mức độ yếu kém.
Các vấn đề về chuyển giao khoa học – kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu
sản xuất hầu hết đều hạn chế trong việc áp dụng. Họ vẫn giữ các hình thức
canh tác truyền thồng lạc hậu, sử dụng những kỷ thuật đơn giản trong hoạt
động sản xuất hàng ngày. Chính vì vậy, kết quả thu đƣợc luôn kém hiệu quả
về kinh tế.
Nhƣ vậy, cần có cách nhìn nhận tổng thể về đói nghèo và xem xét các
đặc trƣng, tiêu chí về đói nghèo trong sự tƣơng tác lẫn nhau mới có thể xác
định chính xác sự tác động của các yếu tố khác nhau đến tình trạng đói nghèo,
từ đó có chiến lƣợc giảm nghèo thích hợp.
Một số nhà khoa học, kinh tế học cũng đã đƣa ra những quan điểm của
mình về đói nghèo.
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nƣớc đang phát
triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đƣa ra
khái niệm nghèo tuyệt đối. Trong đó ông cho rằng, nghèo ở mức độ tuyệt đối
là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Điều đó có nghĩa là thu nhập thực
tế của họ không đảm bảo đủ cho họ đƣợc hƣởng cái mà xã hội cho phép họ
đƣợc hƣởng mức tối thiểu để duy trì đƣợc tái sản xuất sức lao động. Theo quan
niệm này thì nghèo tuyệt đối thƣờng chỉ tồn tại ở các nƣớc chậm phát triển.
Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng, nghèo tuyệt đối là tình trạng thiếu thốn
những điều kiện tối thiểu để duy trì cuộc sống, tiếp cận những nhu cầu về các

thể trạng con ngƣời, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Calo/ngƣời/ngày. Những

15
ngƣời có mức chi tiêu dƣới mức chi cần thiết để đạt đƣợc lƣợng Calo này gọi
là nghèo về lƣơng thực, thực phẩm [16, tr. 9].
Đƣờng đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đƣờng đói nghèo chung,
bao gồm cả mặt hàng lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm.
So với đƣờng đói nghèo ở mức thấp thì đƣờng đói nghèo chung đƣợc
tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lƣơng thực, thực phẩm. Tính cả
chi phí này với đƣờng đói nghèo về lƣơng thực, thực phẩm ta có đƣờng đói
nghèo chung. Tuy nhiên, kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ chi cho nhu cầu
lƣơng thực, thực phẩm ngày một giảm mà chi cho nhu cầu phi lƣơng thực,
thực phẩm ngày một tăng.
Để xác định đói nghèo thì chuẩn nghèo không chỉ là cơ sở quan trọng
nhất để xác định các hộ gia đình đƣa vào chƣơng trình xóa đói giảm nghèo mà
còn phải phản ảnh thực chất nghèo của dân cƣ, giúp cho các nhà quản lý và
các nhà khoa học một cái nhìn căn cơ hơn về thực chất tình trạng nghèo.
Chuẩn nghèo mới phải tiến thêm một bƣớc về nguyên tắc, đảm bảo đƣợc các
yêu cầu: đảm bảo nhu cầu tối thiểu về dinh dƣỡng (đủ ăn và có chất), chỗ ở,
và các dịch vụ y tế, xã hội.
Có thể thấy, chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo
không gian và thời gian. Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của từng vùng và từng quốc gia. Về thời gian, chuẩn nghèo có
sự biến động lớn và nó biển đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu
cầu của con ngƣời theo từng giai đoạn lịch sử, vì kinh tế, xã hội phát triển thì
đời sống của con ngƣời đƣợc cải thiện hơn.
Đối với Việt Nam, thừa nhận định nghĩa về đói nghèo tại Hội nghị về
chống đói nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng
(ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia trong
khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận

khu vực thành thị.

17
Để đánh giá phù hợp với sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội năm
1995 chuẩn nghèo lần thứ hai đƣợc ban hành: Chia hộ đói nghèo trong cả nƣớc
thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả nƣớc thành 3 vùng đói nghèo là:
Nông thôn, miền núi và hải đảo; nông thôn, đồng bằng và trung du; khu vực
thành thị. Trong đó, hộ đói là hộ có thu nhập lƣơng thực quy gạo bình quân dƣới
13 kg/ngƣời/tháng, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập lƣơng thực
quy gạo bình quân dƣới 15 kg/ngƣời/tháng đối với khu vực nông thôn, miền núi
và hải đảo, dƣới 20 kg/ngƣời/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và
trung du và dƣới 25 kg/ngƣời/tháng đối với khu vực thành thị.
Thông báo số 1751/ LĐTBXH năm 1997 quy định chuẩn nghèo lần thứ
ba: Chia hộ đói nghèo trong cả nƣớc thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia
cả nƣớc thành 3 vùng đói nghèo là: nông thôn miền núi và hải đảo; nông thôn
đồng bằng và trung du; thành thị. Trong đó, hộ đói là hộ có mức thu nhập
bình quân quy gạo dƣới 13 kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng 45.000 đồng, tính
cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân quy gạo dƣới 15
kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng 70.000 đồng, tính cho khu vực nông thôn đồng
bằng, và dƣới 25 kg/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng với 90.000 đồng, tính cho khu
vực thành thị.
Để phù hợp với điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế xã hội chung của
đất nƣớc trong giai đoạn mới, cuối năm 2000 Bộ Lao động Thƣơng binh và xã
hội đã điều chỉnh mức chuẩn nghèo mới tăng lên gấp 1,5 lần so với mức chuẩn
nghèo cũ (tại Thông báo số 1143/LĐTBXH ngày 1-11-2000), quy định: Bỏ
tiêu chí xác định hộ đói, giữ lại tiêu chí xác định hộ nghèo, không dựa vào thu
nhập lƣơng thực quy gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam, trong
đó: Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân dƣới 80.000 đồng/ngƣời/tháng, tính
cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dƣới 100.000 đồng/ngƣời/tháng
tính cho khu vực nông thôn đồng bằng, và dƣới 150.000 đồng/ngƣời/tháng tính

nhƣng việc chống đói cho các nƣớc đói nghèo thì thành quả đạt đƣợc vẫn còn

19
ở mức hạn chế, sự trợ giúp của cộng đồng đối với một bộ phận dân cƣ khốn
khó cũng vẫn còn hạn chế.
Như vậy, nghèo khổ hay đói nghèo là một hiện tƣợng xã hội, vừa là vấn
đề lịch sử để lại, vừa là vấn đề của phát triển, thƣờng xuất hiện trong quá trình
phát triển mà quốc gia nào cũng vấp phải. Nó ảnh hƣởng trực tiếp tới cuộc sống
của con ngƣời, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng. Mỗi quốc gia ở các mức độ
khác nhau đều phải quan tâm đến việc giải quyết vấn đề đói nghèo để vƣợt qua
những trở ngại cho sự phát triển phồn thịnh về kinh tế và từng bƣớc đạt tới
công bằng xã hội. Tuy nhiên, ở các chế độ xã hội khác nhau thì mục đích và
mức độ quan tâm cũng khác nhau. Song đây là vấn đề toàn cầu nên nó cũng thu
hút sự quan tâm, phối hợp các nỗ lực giải quyết của cộng đồng quốc tế.
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo.
Trong phạm vi quốc gia, nếu vấn đề đói nghèo không đƣợc giải quyết
thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc gia đặt ra nhƣ hòa bình, ổn
định, công bằng xã hội…có thể giải quyết đƣợc. Không chỉ riêng Việt Nam
mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đƣa ra những hoạch định, chính
sách, các biện pháp xóa đói giảm nghèo nhằm đƣa đất nƣớc thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, ổn định xã hội.
Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà
nƣớc và xã hội đối với những đối tƣợng thuộc diện đói nghèo, nhằm tạo điều
kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng đƣợc
những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo đƣợc quy định theo từng địa
phƣơng, khu vực, quốc gia.
Chính sách xóa đói giảm nghèo là tập hợp các chủ trƣơng, các biện
pháp khuyến khích đối tƣợng phụ thuộc vào chính sách nhằm đạt đƣợc mục
đích của chủ thể ra chính sách. Chính sách xóa đói giảm nghèo bao gồm các
chƣơng trình, dự án và các quyết định hƣớng tới xóa đói giảm nghèo.


21
giảm học phí cho các con em thuộc diện đói nghèo; hỗ trợ vể nhà ở; hỗ trợ về
nƣớc sạch. Tạo điều kiện cho họ có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã
hội… Xóa đói giảm nghèo là một phần quan trọng nằm trong chính sách an
sinh xã hội của mỗi quốc gia. Cùng với các chính sách khác tạo ra một tấm
lƣới toàn diện bảo vệ cho các thành viên xã hội.
Có thể thấy rằng, xóa đói giảm nghèo vừa là một đòi hỏi tất yếu khách
quan, vừa là một đòi hỏi tự thân và cấp bách cho sự hình thành và phát triển
của chủ nghĩa xã hội.
Ở nƣớc ta, ngay từ những ngày đầu giành đƣợc độc lập dân tộc, Hồ Chí
Minh đã coi công việc xóa đói giảm nghèo quan trọng và cấp bách. Ngƣời đã
chỉ rõ đói nghèo là một trong ba thứ giặc cần phải diệt và giao nhiệm vụ cho
nhân dân toàn quốc: “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Ngƣời
chủ trƣơng làm cho ngƣời nghèo thì đủ ăn, ngƣời đủ ăn thì khá giả lên, ngƣời
khá giả thì giàu thêm. Hồ Chí Minh đã đƣa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân
thoát nạn bần cùng, làm cho mọi ngƣời có công ăn, việc làm, ấm no và đời
sống hành phúc.
Hồ Chí Minh coi đói nghèo là giặc, đã thể hiện và hàm chứa hết tinh
thần và tƣ tƣởng vĩ đại của ngƣời trong một triết lý phát triển. Với việc nỗ lực
xóa đói, giảm nghèo, quyết tâm “đánh đuổi” đói nghèo đã giúp cho xã hội
phát triển ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Không sợ đói nghèo ở đây chỉ
có thể đƣợc hiểu là ta không sợ kẻ thù, không sợ hoàn cảnh đói nghèo thực
tại, còn chắc chắn chúng ta phải nỗ lực để “tiêu diệt” đói nghèo để đƣa đời
sống của mỗi ngƣời dân, của cả đất nƣớc ngày một ấm no hơn.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề tăng gia sản xuất và tiết kiệm
để xóa đói giảm nghèo. Ngƣời đề nghị hội đồng chính phủ phát động một
chiến dịch tăng gia sản xuất và mở những cuộc vận động cứu đói, phong trào
để dành một nắm gạo nhỏ theo từng buổi đã đƣợc nhân rộng thành phong trào
tiết kiệm gạo khắp cả nƣớc. Điều đó đã nói lên sự coi trọng và việc làm cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status