TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THẾ VIỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. HOÀNG THANH SƠN
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THẾ VIỆT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
NGUYỄN THẾ VIỆT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI
VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO ........................................................................ 6
1.1. Khái niệm về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ................................. 6
1.2. Những yếu tố tác động đến nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ............. 15
Chƣơng 2. MỤC TIÊU, THỰC TRẠNG VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH .... 20
2.1. Bối cảnh và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của tỉnh Nam định ............. 20
2.2. Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. ................................... 22
Chƣơng 3. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ PHƢƠNG HƢỚNG CHỦ YẾU
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
TRONG THỜI GIAN TỚI .............................................................................. 40
3.1. Phƣơng hƣớng chủ yếu xóa đói giảm nghèo trên địa bản tỉnh Nam
định trong thời gian tới ................................................................................ 40
3.2. Giải pháp chủ yếu xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Nam định
trong thời gian tới ......................................................................................... 43
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 54
TÀI LIỆU DANH MỤC THAM KHẢO ........................................................ 55
DANH MỤC VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
Ngân hàng Chính sách xã hội
NHTM
Ngân hàng thƣơng mại
NTM
Nông thôn mới
PGD
Phòng giao dịch
TBXH
Thƣơng binh xã hội
THCN
Trung học công nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
TK&VV
Tiết kiệm và vay vốn
nƣớc ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời nghèo, góp
phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành
thị, giữa các vùng, các dân tộc các nhóm dân cƣ; đồng thời thể hiện quyết tâm
trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỉ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam
đã cam kết.
Ngày nay, nhân loại đã bƣớc sang thế kỷ 21 và đạt đƣợc nhiều thành tựu
vƣợt bậc trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là khoa học kỹ thuật. Cho nên nạn đói
nghèo vẫn tồn tại nhƣ một thách thức lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc
gia nói riêng và đối với nền văn minh nhân loại nói chung. Chính vì vậy nạn
đói nghèo và chống đói nghèo luôn là trọng tâm hàng đầu của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, sau hơn 80 năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm chiến tranh đã
làm cho cơ sở vật chất hiện tại của nƣớc ta bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế trở
nên kiệt quệ , sản xuất nông nghiệp lạc hậu đình đốn, sản xuất công nghiệp
nhỏ bé manh mún chƣa phát triển. Sau năm 2000, cùng với sự tăng
trƣởng kinh tế, quá hình xóa đói giảm nghèo (XĐGN) ở Việt Nam đã có
1
những thành tựu đáng kể. Nếu nhƣ năm 1998 tỷ lệ đói nghèo bình quân là
37,4% (thành thị là 9%, nông thôn là 44,9%) thì năm 2012, tỷ lệ đói nghèo đã
giảm xuống còn 11,1% (thành phố còn 4,3% và nông thôn là 14,1%), năm
2014 tỷ lệ này còn 8,4%.
Thành phố Nam Định nằm ở nam đồng bằng sông Hồng, có nhiều điều
kiện thuận lợi cho sự an cƣ của ngƣời dân và phát triển kinh tế. Cùng với sự
phát triển của xã hội, tỉ lệ hộ nghèo của Nam Định giảm, tốc độ giảm nghèo
khá nhanh. Tuy nhiên, sự phân hoá giàu - nghèo giữa các khu vực và tầng lớp
dân cƣ ngày càng rõ và tình trạng bất bình đẳng vẫn còn tồn tại. Ngƣời nghèo
thƣờng có mức thu nhập, chi tiêu thấp, tài sản ít, trình độ dân trí không cao,
tay nghề kém và thiệt thòi trong việc hƣởng thụ các dịch vụ xã hội. Thực tế
nghèo của các nƣớc trong khu vực; thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở
Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế tri thức; phƣơng hƣớng và biện
pháp chủ yếu xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nƣớc ta. Tài liệu này tiếp cận
ở địa bàn rất rộng trên phạm vi cả nƣớc và tiếp cận ở góc độ xã hội nên chủ
yếu phân tích, đánh giá những ảnh hƣởng xã hội của tình trạng nghèo đói ở
nông thôn[11, tr.231].
Công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã đánh giá
những thành tựu trong công cuộc giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ
qua (cụ thể là từ năm 1993 đến nay); phân tích công tác giảm nghèo đặt trong
bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO),
trong đó đặc biệt chú ý đến cách ứng phó với các rủi ro mang tính hệ thống ở
cấp độ nền kinh tế, cũng nhƣ với các rủi ro ở cấp độ hộ gia đình hoặc cấp cá
nhân và cách tạo ra nhiều cơ hội hơn cho ngƣời nghèo và ngƣời thu nhập thấp
trong bối cảnh kinh tế mới. Cụ thể các vấn đề liên quan đến duy trì ổn định
kinh tế vĩ mô, tăng cƣờng hệ thống an sinh xã hội, mở rộng cơ hội và nâng
cao năng lực cho ngƣời nghèo và ngƣời thu nhập thấp; và nhận định những
thách thức ở phía trƣớc[3].
3
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đó đề cập đến nhiều khía cạnh
của vấn đề nghèo đói và XĐGN. Song hiện chƣa có công trình nào nghiên
cứu đầy đủ về đề tài: “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Nam định hiện nay”. Kết quả nghiên cứu của các công trình trên, đặc biệt là
những vấn đề lý luận là những tƣ liệu khoa học quý sẽ đƣợc tiếp thu có chọn
lọc trong quá trình viết khóa luận này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Hoạt động Thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo tại tỉnh Nam Định.
giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Nam Định,gồm 2 tiết.
Chƣơng 3: Những giải pháp và phương hướng chủ yếu xóa đói giảm
nghèo trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian tới, gồm 2 tiết.
5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI
VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Khái niệm về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo
1.1.1. Khái niệm về nghèo đói và tiêu chí xác định nghèo đói
1.1.1.1. Khái niệm nghèo đói
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thỏa mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang
bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện.
Trong hoàn cảnh nghèo thì ngƣời nghèo cũng chỉ vật lộn với những mƣu sinh
hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp ở bữa ăn. Họ không thể
vƣơn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt
giảm ở mức tối đa, gần nhƣ không có. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà
thu nhập thực tế của ngƣời dân chỉ dành hầu nhƣ toàn bộ cho nhu cầu ăn,
thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu nhƣ không có.
Tại Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000, Liên Hợp Quốc,
một lần nữa khẳng định: Chống nghèo đói là một trong những mục tiêu ƣu
tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI [6, tr.3]
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực
Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các
quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng
một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của
con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã
quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ lệ hộ nghèo cao và
ngƣợc lại
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lƣờng và đánh giá nghèo chủ
yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo đƣợc xác định dựa trên mức chi tiêu
đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và đƣợc quy thành tiền. Nếu ngƣời có thu
nhập thấp dƣới mức chuẩn nghèo thì đƣợc đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây
chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, chuẩn
nghèo hiện nay của Việt Nam đƣợc đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực
8
tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhƣng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo,
do đó số lƣợng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ
03 hộ thoát nghèo thì lại có 01 hộ trong số đó tái nghèo (Trung tâm Thông tin
và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, 2014).
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lƣờng nghèo đói là
không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khƣớc từ các
quyền cơ bản của con ngƣời, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trƣờng
hợp không nghèo về thu nhập nhƣng lại khó tiếp cận đƣợc các dịch vụ cơ bản
về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách
hộ nghèo nhƣng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nƣớc sạch, ở vùng sâu vùng
xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,
nếu chỉ dùng thƣớc đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình
trạng bỏ sót đối tƣợng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền
vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.
Giống nhƣ quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.
Trong cùng một thời điểm, ngƣời nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi
khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở,
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên
900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dƣới 03 chỉ số đo lƣờng mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
c, Đối với hộ có mức sống trung bình
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên
1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên
1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
Theo tiêu chí mới, một gia đình đƣợc coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu
hộ đó thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số
nhu cầu sống cơ bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản.
10
Hiện nay, ở Nam Định, chuẩn nghèo đƣợc áp dụng theo Quyết định
59/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Cụ thể, việc xác định chuẩn nghèo dựa
vào các tiêu chí tiếp cận đo lƣờng nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập,
và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.2. Khái niệm và nội dung về xóa đói giảm nghèo.
1.1.2.1. Khái niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà
nƣớc, của xã hội để triển khai thực hiện các chƣơng trình, dự án nhằm tác
động tới các đối tƣợng cụ thể nhƣ ngƣời nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với
mục đích giúp họ nâng cao chất lƣợng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ
hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ
bản của con ngƣời.
Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xóa đói và cũng giống nhƣ khái
nhập từ sức lao động, từ công việc trên mảnh đất của họ, từ tiền lƣơng hay từ
những hình thức lao động khác. Sức lao động của ngƣời nghèo chỉ có thể
đƣợc sử dụng để đem lại thu nhập khi họ kiếm đƣợc việc làm.Việc làm ổn
định và việc làm tốt là cơ sở để ngƣời nghèo có thu nhập ổn định và nâng cao
thu nhập đảm bảo cuộc sống của mình. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế
thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay, XĐGN là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng
xã hội và tăng trƣởng kinh tế bền vững; ngƣợc lại chỉ có tăng trƣởng kinh tế
cao và bền vững mới có sức mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho ngƣời
nghèo vƣơn lên thoát khỏi đói nghèo. Mặt khác nếu lao động có sức khoẻ,
đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng tốt cùng tinh thần làm việc hăng say, môi trƣờng
kinh tế của vùng nghèo đƣợc cải thiện thì năng suất lao động sẽ tăng lên, từ
đó thu nhập của ngƣời nghèo sẽ khá hơn, dễ có cơ hội để vƣơn lên thoát
nghèo.Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao
động thấp dẫn đến thu nhập của ngƣời lao động thấp là khá phổ biến đối với
ngƣời nghèo. Vì vậy, tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập
12
cho ngƣời nghèo, đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng nghèo phải là nội dung
quan trọng trong các giải pháp XĐGN ở nƣớc ta hiện nay.
- Thứ hai là tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển và dịch vụ
công đối với người nghèo, vùng nghèo.
+ Phần lớn ngƣời nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Những nơi này thƣờng là xa các trung
tâm kinh tế và dịch vụ xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so
với những vùng khác. Phổ biến là tình trạng thiếu điện, thiếu nƣớc tƣới,
nƣớc sinh hoạt, thiếu thông tin, thiếu chợ đầu mối, thiếu vốn, đất sản xuất và
thị trƣờng, giao thông đi lại khó khăn v.v.. Do đó, năng suất lao động thấp,
giá cả của sản phẩm do ngƣời sản xuất bán lại rẻ vì vận chuyển khó khăn.
trong kinh doanh, ốm đau, do tác động của phân hóa giàu - nghèo của quá
trình phát triển v.v.. lại trở thành những hộ nghèo. Ở nƣớc ta, quá trình xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo
định hƣớng xã hội chủ nghĩa cùng với đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH trong
những năm vừa qua đó đạt đƣợc những thành quả quan trọng, khẳng định sự
đúng đắn của đƣờng lối đổi mới của Đảng, nhƣng cũng cho thấy tình trạng
phân hoá giàu - nghèo gia tăng nhƣ một hệ quả tất yếu của quá trình phát
triển. Điều đó đặt ra cho chúng ta những thách thức lớn. Một mặt, nếu không
tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trƣờng có sự quản
lý của Nhà nƣớc và không thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH thì không thể tồn
tại, phát triển và hội nhập quốc tế. Mặt khác, nếu đẩy mạnh CNH, HĐH, phát
triển kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần, tất yếu sự phân hoá giàu nghèo sẽ
gia tăng; trong khi có nhiều ngƣời giàu lên, đất nƣớc giàu lên, thì cũng có một
bộ phận dân cƣ nghèo đói, thậm chí mất tƣ liệu sản xuất.
Vì vậy, nhiệm vụ của công tác XĐGN không chỉ hỗ trợ để ngƣời nghèo
vƣợt qua ngƣỡng cửa nghèo một công thụ động mà phải có giải pháp tích cực
để bản thân ngƣời nghèo chủ động tự vƣơn lên thoát nghèo vững chắc tiến tới
trở thành hộ khá, hộ giàu. Đồng thời Nhà nƣớc phải có chính sách, giải pháp
14
giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trƣởng và XĐGN. Trong những
trƣờng hợp cần thiết phải có sự trợ giúp kịp thời để họ vƣợt qua sự biến động
của cuộc sống. Phải xây dựng chiến lƣợc XĐGN dài hạn và chiến lƣợc này
phải đƣợc đặt trong tổng thể chiến lƣợc phát triển KT-XH chung của quốc
gia, địa phƣơng.
- Thứ tư là XĐGN trước hết phải ưu tiên các đối tượng chính sách, vùng
công mạng, gắn giải quyết vấn đề kinh tế với chính trị-xã hội.
kiện để giảm nghèo bền vững mà không hiểu rằng, đó là trách nhiệm đầu tƣ
của nhà nƣớc. Nên đã biến cơ chế đầu tƣ cơ sở hạ tầng theo kiểu ban phát, xin
cho dẫn đến thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Có những địa phƣơng với
những kinh nghiệm chủ quan của mình đã sử dụng các nguồn lực một cách
bất hợp lý gây thiệt hại và thậm chí làm giảm đi khả năng của ngƣời nghèo tại
địa phƣơng mình. Quan niệm giảm nghèo bền vững cần phải đƣợc chỉ ra rõ
ràng, mặc dù ở mỗi địa phƣơng, vùng miền, có thể có những cách làm cụ thể
khác nhau, song vẫn cần phải bám sát những nội dung, tƣ tƣởng của giảm
nghèo bền vững đã đƣợc chỉ ra.
- Trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương: Không có giao
thông thuận lợi nên dẫn đến chi phí vận chuyển cao, hàng hóa vận chuyển khó
khăn, hàng nông sản chỉ tiêu thụ tại địa phƣơng nên giá thành thấp, khó cung
cấp hoặc tận dụng các dịch vụ nhƣ khuyến nông, giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, khó tiếp cận với tri thức mới… và cuối cùng họ cũng vẫn bế tắc không
tìm ra con đƣờng thoát nghèo.
- Các chính sách của địa phương: Một số chính sách trợ giúp (nhƣ lãi
suất tín dụng, trợ giá, trợ cƣớc…) không đúng đối tƣợng đã làm ảnh hƣởng
xấu đến sự hình thành thị trƣờng nông thôn, thị trƣờng ở vùng sâu, vùng xa đã
làm cho công cuộc xóa đói giảm nghèo trở nên khó khăn và nan giải hơn.
- Nguồn lực đảm bảo thực hiện chính sách, chương trình, dự án giảm
nghèo: Kinh phí để thực hiện giảm nghèo hiện nay đƣợc cân đối chủ yếu từ
nguồn ngân sách Nhà nƣớc. Đồng thời có sự huy động các nguồn khác từ các
tổ chức quốc tế, tổ chức của Chính phủ, phi chính phủ và sự đóng góp của các
16
sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát
triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô
thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự đƣợc
giữ vững. Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
khoảng 50% (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi
phía Bắc: 28,0%; Đồng bằng sông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên
hải Nam Trung Bộ: 60%; Tây Nguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng
sông Cửu Long: 51%); khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ƣơng phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân cả
nƣớc đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là:
Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng sông Hồng: 18,0; Bắc Trung Bộ: 16,5;
Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ: 17,5;
Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nƣớc không còn xã dƣới 5 tiêu chí; cơ
bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất
và đời sống của cƣ dân nông thôn: giao thông, điện, nƣớc sinh hoạt, trƣờng
học, trạm y tế xã; nâng cao chất lƣợng cuộc sống của cƣ dân nông thôn; tạo
nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng
ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.
- Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện: Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về
giải quyết việc làm (gọi tắt là chƣơng trình 120) cựng nhiều chính sách khác
nhƣ: Chính sách về đất đai và việc làm cho ngƣời nghèo; Chính sách phát
triển nông thôn và kinh tế nông nghiệp; Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc
đặc biệt khú khăn; Chính sách trợ giá, trợ cƣớc các mặt hàng lên miền núi;
Chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, làm giàu hợp pháp; Chính sách
miễn giảm học phí, hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời nghèo.v.v. đó có
tác dụng tích cực đến phát triển KT-XH và XĐGN.
là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ ngƣời nghèo có khả năng tiếp cận các
nguồn lực của sự phát triển một công nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều
khả năng lựa chọn hơn để từng bƣớc thoát ra khỏi tình trạng nghèo.
19