Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh cao bằng (2000 – 2015) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƢU THỊ HUYỀN TRANG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở TỈNH CAO BẰNG (2000 – 2015)

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số

: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thị Phƣơng Chi

HÀ NỘI, 2016

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi. Các tài liệu, tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng,
các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lƣu Thị Huyền Trang


Bằng về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2000-2015 ......................................... 26
2.2. Thực hiện các chính sách, chƣơng trình, dự án xóa đói giảm nghèo của
tỉnh Cao Bằng .................................................................................................. 40
Tiểu kết …………………………………………………… ................................. 51
Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ................................... 53
3.1. Ƣu điểm .................................................................................................... 53
3.2. Hạn chế………………………………………….. .................................. 57
3.3. Tác động của việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đối với
chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và văn hóa .............................. 59
3.4. Bài học kinh nghiệm................................................................................. 64
Tiểu kết .................................................................................................................. 68
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 73


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BQ: Bình quân
DTTS: Dân tộc thiểu số
HĐND: Hội đồng Nhân dân
MTQG: Mục tiêu Quốc gia
NTM: Nông thôn mới
NNPTNT: Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn
TGPL: Trợ giúp pháp lý
UBND: Ủy ban Nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU


khoa học, những ngƣời làm công tác quản lý.
Thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, tỉnh Cao
Bằng đã từng bƣớc giải quyết vấn đề đói nghèo, thiếu việc làm, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần, thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định đời sống nhân dân
trên địa bàn tỉnh, Huyện ủy – Hội đồng Nhân dân - Ủy ban Nhân dân tỉnh đã
quyết tâm thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo với các chƣơng trình xóa đói
giảm nghèo qua các giai đoạn 2000 - 2015.Nhận thấy vấn đề xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Cao Bằng là một vấn đề cấp thiết. Xuất phát từ những lý do nêu
trên, tác giả lựa chọn vấn đề về“Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Cao Bằng (2000 – 2015)”làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trƣớc đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xóa đói
giảm nghèo, các công trình ấy ít nhiều đã tổng hợp, phân tích, làm rõ về quan
niệm, các yếu tố dẫn đến đói nghèo và những giải pháp về xóa đói giảm nghèo
và đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau.
2.1.Những công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo nói chung
Một số công trình do Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội chủ biên
nhƣ: Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993); Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà
Nội, 1993); Xóa đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996); Xóa đói giảm nghèo với tăng
trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997). Các công trình nghiên cứu này làm rõ các
vấn đề lý luận về đói nghèo và phân tích rõ về các yếu tố ảnh hƣởng đến đói
nghèo ở Việt Nam, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo.
Trong đó, có một số nội dung liên quan đến các địa phƣơng khu vực miền núi
giúp tác giả luận văn có thể tham khảo.
Sách chuyên khảo của Hà Quế Lâm “Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc
thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp” (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002) đã cho thấy đƣợc tình trạng đói nghèo ở nhiều vùng dân tộc thiểu

2


3


tiến trong xóa đói giảmnghèo của nhóm tác giả Đinh Viết Vinh – Phạm Văn
Khánh – Viết Hồng (Nxb Lao động xã hội, 2006), Làm ăn có kế hoạch để xóa
đói giảm nghèo của nhóm tác giả Vi Hồng Nhân – Ngô Quang Hƣng – Trịnh
Thị Thủy (Nxb. Văn hóa dân tộc, 2007), Thương mại hóa sản phẩm bản địa:
hướng đi mới nhằm xóa đói giảm nghèo cho miền núi Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, 2008 của nhóm tác giả Trần Văn Ơn – Tô Xuân Phúc – Nguyễn Tất
Cảnh. Các công trình nghiên cứu này tuy không trực tiếp đề cập xóa đói giảm
nghèo của tỉnh Cao Bằng nhƣng là những tài liệu tham khảo cho tác giả luận
văn, đồng thời còn cung cấp một số tƣ liệu về xóa đói giảm nghèo ở một tỉnh
miền núi phía Bắc.
Liên quan ít nhiều đến đề tài còn có một số bài viết nhƣ “Cơ sở lý luận và
thực tiễn để xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách an sinh xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Tạp
chí Cộng sản số 834 -2012 của tác giả Nguyễn Hữu Dũng, nội dung bài viết đề
cập đến vấn đề thực hiện chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn hiện nay. Bài
“Thực hiện một số chính sách xã hội ở vùng dân tộc thiểu số trong hội nhập và
phát triển” của tác giả Sơn Phƣớc Hoan đăng trên Tạp chí Cộng sản số 805 2009 đã cho thấy đƣợc nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
nói chung, qua đó đƣa ra những giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo và phát
triển trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Những công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng
Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc nằm trong danh sách năm tỉnh
nghèo nhất cả nƣớc, với hơn 95% đồng bào là ngƣời dân tộc thiểu số và hơn
70% số xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn, là tỉnh vùng cao có đƣờng biên
giới khá dài, lại nằm xa khu trung tâm kinh tế của cả nƣớc nên kinh tế chủ yếu là
nông – lâm nghiệp, nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ
chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém nên tỉ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt còn
khó khăn. Vì vậy, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành thực hiện chính sách xóa đói giảm

nguồn lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Cao Bằng trong
giai đoạn tiếp theo.

5


Một số luận án, luận văn liên quan đến xóa đói giảm nghèo nói chung và
một số huyện của tỉnh Cao Bằng nói riêng. Có thể kể đến: Luận án Tiến sỹ của
tác giả Lƣơng Thị Hồng “ Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam (1991 - 2010)”, Học viện Khoa học xã hội, 2015. Nội dung luận án đề
cập đến quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam từ năm
1991 đến năm 2010 nhằm góp phần tổng kết, đánh giá thành công và hạn chế, lý
giải nguyên nhân. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm và chỉ rõ những vấn đề đặt ra
trong quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Hoàng Thị Ngọc Hà “Đảng bộ tỉnh Cao
Bằng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010”, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2012. Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo
công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trên địa bàn của tỉnh,
từ đó đƣa ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng.
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Thu Huyền“ Công cuộc xóa đói
giảm nghèo ở huyện Bảo Lạc (2000 - 2013)”, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên, 2015. Mặc dù nội dung luận văn đề cập đến công cuộc xóa đói giảm
nghèo của một huyện thuộc tỉnh Cao Bằng- huyện Bảo Lạc nhƣng đã giúp tác
giả có thêm nhận thức trong quá trình hoàn thiện luận văn của mình.
Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến vấn đề đói nghèo dƣới các
góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Một số bài viết nghiên cứu cụ thể
về các vấn đề đói nghèo của ngƣời dân ở tỉnh Cao Bằng cho thấy đời sống hàng
ngày của ngƣời dân còn nghèo khó cả về vật chất và tinh thần, qua đó cũng đề ra
các hƣớng giải pháp nhằm thực hiện xóa đói giảm nghèo. Có thể thấy cho đến

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2000 đến năm 2015.

7


4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2000
đến năm 2015.
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện
chính sách xóa đói giảm nghèo trên phạm vi tỉnh Cao Bằng.
Phạm vi nội dung: Luận văn chủ yếu đề cập đến một số vấn đề nhƣ các
nguyên nhân dẫn đến đói nghèo; thực trạng đời sống của ngƣời dân Cao Bằng;
các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về xóa đói giảm nghèo ở và
quan trọng là quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao
Bằng từ năm 2000 – 2015.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.

Phương pháp luận

Luận văn thực hiện trên cơ sở vận dụng đƣờng lối, quan điểm, chính sách

văn đƣợc chia thành 3chƣơng:
Chương 1. Khái quát về tỉnh Cao Bằng và thực trạng đói nghèo của tỉnh
trước năm 2000.
Chương 2. Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao
Bằng (2000 – 2015).
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm.

9


Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH CAO BẰNG VÀ THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO
CỦA TỈNH TRƢỚC NĂM 2000
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vùng Đông Bắc, phía Bắc và
Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc), đƣờng biên giới dài trên 333 km, phía
Tây giáp 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và
Lạng Sơn. Theo chiều Bắc – Nam 80 km (từ xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm đến
xã Quang Trọng, huyện Thạch An). Theo chiều Đông – Tây 170 km (từ xã Lý
Quốc, huyện Hạ Lang đến xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm).
Tỉnh Cao Bằng đƣợc giới hạn trong tọa độđịa lý từ 22021'21" đến
23007'12" vĩ độ Bắc và từ 105016'15 kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên
của tỉnh là 6.703,42 km². Trung tâm tỉnh là Thành phố Cao Bằng cách thủ đô Hà
Nội 286 km theo đƣờng Quốc lộ 3[30, tr.30-31].
Cao Bằng với vị trí là cửa ngõ phía Bắc của đất nƣớc, lại là vùng núi cao
nhiều khoáng sản và lâm sản quý giá, có nhiều dân tộc ít ngƣời cùng chung
sống, có vai trò chiến lƣợc quan trọng về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, quân sự,
văn hóa…
Về điều kiện tự nhiên

gió nên chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phƣơng Bắc. Cao
Bằng là cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc từ Trung Quốc tràn sang vào mùa Đông
và chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Nam vào mùa hè.
Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu không rõ rệt,
thời tiết thất thƣờng; mùa xuân thƣờng có thời tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ
chịu[30, tr.34].

11


Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía Tây và sông
Bằng vùng trung tâm và phía Đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác
nhƣ sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo
hay sông Hiến.
Sông Bằng bắt nguồn từ núi Nà Vài cao 60m, cách Sóc Giang về phía Tây
Bắc 10km, chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam và nhập vào sông Tây Giang
tại Long Châu ở độ cao 140m. Sông Bằng có diện tích lƣu vực thuộc tỉnh Cao
Bằng là 3.377 km². Sông chảy qua địa phận tỉnh Cao Bằng dài 110 km với 4 phụ
lƣu là sông Dẻ Rào, Sông Hiến, sông Trà Lĩnh, sông Bắc Vọng; độ dốc lƣu vực
là 20% mật độ lƣới là 0,91 km/km², hệ số uốn khúc là 1,29. Sông Gâm chảy qua
tỉnh Cao Bằng bắt đầu ở xã Khánh Xuân (huyện Bảo Lạc) và kết thúc ở thị trấn
Pác Mầu (huyện Bảo Lâm), có diện tích lƣu vực là 2006km² (kể cả phần sông
Năng). Sông Quây Sơn: Bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua huyện Trùng Khánh
và huyện Hạ Lang với chiều dài 38 km. Các sông, suối thuộc lƣu vực lớn của
sông Quây Sơn là sông Quây Sơn Tây, sông Quây Sơn Đông, suối Bản Viết,
suối Na Vy và suối Gun. Các sông của tỉnh Cao Bằng có nhiều tiềm năng cho sử
dụng mục đích thủy điện [31; tr.36].
Tài nguyên rừng, theo số liệu thống kế năm 2013, diện tích đất lâm
nghiệp tỉnh Cao Bằng 533.384,7 ha, chiếm 79,56% diện tích tự nhiên, chủ yếu là
rừng tự nhiên, phần lớn là rừng nghèo và rừng mới phục hồi. Rừng ở Cao Bằng

13


Thời Bắc thuộc, đời Tần thuộc Tƣợng Quận; đời Hán thuộc quận Giao Chỉ; thời
Đƣờng là Châu Thang.
Thời vua Lê Thánh Tông (ở ngôi 1460 – 1497), vào năm Quang Thuận
thứ 7 (1466) đã chia cả nƣớc thành 12 đạo thừa tuyên (Thanh Hoá, Nghệ An,
Thuận Hoá, Thiên Trƣờng, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hƣng
Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng). Cao Bằng lúc đó gọi là phủ Bắc
Bình thuộc thừa tuyên Thái Nguyên.
Năm Hồng Đức thứ 3 (1472), Lê Thánh Tông đặt thêm thừa tuyên Quảng
Nam, nƣớc ta khi đó gồm 13 thừa tuyên, tổng cộng 52 phủ, 178 huyện, 50 châu,
36 phƣờng. Phủ Cao Bằng thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, có 4 châu.
Năm Hồng Đức thứ 4 (1473), thừa tuyên Ninh Sóc lại đƣợc đổi tên thành
thừa tuyên Thái Nguyên, phủ Bắc Bình đƣợc đổi thành phủ Cao Bằng vẫn trực
thuộc thừa tuyên Thái Nguyên.
Năm 1499, Cao Bằng đƣợc tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn
riêng không lệ thuộc vào Thái Nguyên nhƣ trƣớc.
Đến thời nhà Mạc, năm 1592nhà Mạc lên Cao Bằng, đóng đô ở Cao Bình
(nay thuộc xã Hƣng Đạo, thành phố Cao Bằng) đặt hiệu là Càn Thống, quản lý
cả các vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng.
Năm 1677 nhà Lê lại đặt trấn Cao Bằng, gồm có 1 phủ, 4 châu. Trấn lỵ
đóng tại Cao Bằng.
Từ thời Lê Trung Hƣng đến trƣớc khi vua Minh Mệnh cải cách hành
chính (1831 – 1832), thì cả nƣớc đã hình thành các đơn vị hành chính mới. Trấn
Cao Bằng gồm 4 châu, 27 tổng, 233 xã, thôn, phƣờng, trại, động[30; tr.29- 30].
Thời thuộc Pháp, tháng 10/1886, thực dân Pháp đánh chiếm Cao Bằng.
Năm 1888, thực dân Pháp chia Cao Bằng làm một quân khu, gồm Tiểu quân khu
Cao Bằng và các đồn binh: Cao Bằng, Sóc Giang, Nguyên Bình, Ngân Sơn, Trà
Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hoà, Nặm Nàng.

8/3/1967, hợp nhất huyện Quảng Uyên và Phục Hoà thành huyện Quảng Hoà.
Đến ngày 27/12/1975, Quốc hội nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà (khoá V) kỳ

15


họp thứ 2 quyết nghị bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính. Quyết
định tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hợp nhất thành một tỉnh là Cao Lạng, tỉnh lỵ
đặt tại thị xã Cao Bằng.
Ngày 29/12/1978, Nghị quyết Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 4 chia tỉnh
Cao Lạng thành 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Sáp nhập 2 huyện Ngân Sơn và
Chợ Rã tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng. Lúc đó, tỉnh Cao Bằng có tỉnh lỵ là thị
xã Cao Bằng và 11 huyện: Bảo Lạc, Chợ Rã, Hà Quảng, Hòa An, Ngân Sơn,
Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh.
Ngày 06/01/1996, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 phê chuẩn tách 2
huyện Ngân Sơn, Ba Bể của tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn. Tỉnh Cao Bằng
thời điểm này gồm 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị (1 thị xã, 10 huyện) và
189 xã, phƣờng, thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên là 6.724,72 km².
Ngày 25/9/2000, Thủ tƣớng Chính phủ ra Nghị định số 52/2000/NĐ-CP,
điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bảo Lạc và thành lập huyện Bảo Lâm
thuộc tỉnh Cao Bằng.
Ngày 13/12/2007, Chính phủ ra Nghị định số 183/2007/NĐ-CP, điều
chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện: Bảo Lạc,
Thông Nông, Trùng Khánh, Phục Hoà thuộc tỉnh Cao Bằng.
Ngày 18/10/2010, thị xã Cao Bằng đƣợc Bộ trƣởng Bộ Xây dựng ra
Quyết định số 926/QĐ-BXD, công nhận là đô thị loại III.
Ngày 25/9/2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 60/NQ-CP, thành lập
Thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng.Tỉnh Cao Bằngbaogồm 13 đơn vị
hành chính: 1 thànhphốvà 12 huyện, 201 đơnvịhànhchínhcấpxã, phƣờng, thịtrấn.
Hiện nay, Cao Bằng có 13 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố và

số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %), Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay
(1,4 %)... Có 11 dân tộc có dân số trên 50 ngƣời.. Các dân tộc sống xen kẽ nhau

17


trên 12 huyện, thị xã, thành phố của Tỉnh. Cơ cấu dân số vùng nông thôn chiếm
72%, thành thị chiếm 28%, nam giới chiếm 51,01%, nữ giới chiếm 49,99%.
Về lao động: Số ngƣời trong độ tuổi lao động là 361.951 ngƣời, chiếm
53,5% dân số. Số lao động có việc làm mới trong năm 2015 là 17.000 ngƣời.
Lao động tham gia trong nền kinh tế, đạt tỷ lệ khá cao, hơn 80%. Trong đó, chủ
yếu là lao động trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, chiếm 80% (lao động
giản đơn chiếm 77,6%, lao động kỹ thuật chỉ chiếm 2,5% trong tổng lực lƣợng
lao động của tỉnh).
Về văn hóa: Trong những năm qua, các lĩnh vực văn hóa, xã hội của tỉnh
Cao Bằng có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống vật chất tinh thần của các
tầng lớp nhân dân đƣợc cải thiện đáng kể.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Tỉnh có bƣớc phát triển lớn cả về quy
mô lẫn chất lƣợng: Năm 2015 tỉnh Cao Bằng có 456 trƣờng, trong đó có 131
trƣờng mầm non, 177 trƣờng tiểu học, 199 trƣờng trung học cơ sở, 22 trƣờng
trung học phổ thông và 7 trƣờng cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề.
Tỉnh Cao Bằng đã đƣợc công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu
học - xóa mù chữ năm 2005, hiện có 35 xã, phƣờng đã đƣợc công nhận đạt
chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.
Cơ sở hạ tầng đƣợc đầu tƣ khang trang và hiện đại hơn. Bệnh viện Tỉnh
có quy mô 500 giƣờng bệnh đƣợc đầu tƣ theo tiêu chuẩn hiện đại, các xã đều có
trạm y tế xã. Đội ngũ y tế không ngừng tăng về số lƣợng và nâng cao chất
lƣợng, toàn ngành y tế hiện có 1.870 cán bộ công nhân viên, trong đó có 345 bác
sỹ, thạc sỹ, có 606 y sĩ, kỹ thuật viên…
Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, làng văn hóa đƣợc

vào thiên nhiên, nhất là nguồn nƣớc, nên cuộc sống của ngƣời dân trở nên tạm
bợ do thƣờng xuyên phải du canh, du cƣ.
Đồng bào DTTS rất ít trồng lúa nƣớc, nếu có trồng cũng chỉ là lúa một vụ
vì không có hệ thống thủy lợi.

19


Trong nông nghiệp, chăn nuôi chiếm tỉ trọng rất thấp và còn rất lạc hậu.
Trƣớc kia đồng bào DTTS ở Cao Bằng chăn nuôi các loại gia súc nhƣ trâu, bò,
dê với số lƣợng đàn tập trung khá lớn, nhƣng chỉ theo hình thức thả rông nên
chất lƣợng và hiệu quả thƣờng không cao. Mặt khác, mục đích của chăn nuôi gia
súc của đồng bào không phải để phục vụ sản xuất (lợi dụng sức kéo; lấy phân
bón ruộng) mà chủ yếu để phục vụ cho lễ hội và làm của hồi môn sau này. Chăn
nuôi gia cầm cũng theo hình thức thả rông nhƣ vậy, ít đƣợc chăm sóc nên
thƣờng thất thoát, chất lƣợng giống không tốt, không vì mục đích sản xuất hàng
hóa mà chủ yếu dùng để cúng bái, tiêu dùng trong gia đình và để đổi lấy hàng
hóa khác. Cho nên chăn nuôi cũng không phát triển.
Một số hộ nghèo, nhất là các hộ DTTS có mức thu nhập thấp nhƣng lại
không chi tiêu hợp lý: lãng phí; đắt đỏ; chi nhiều vào lễ hội; vào ăn uống rƣợu
chè; mua sắm trong nhà nhƣng đồ đắt tiền mà không tốt, ít chịu đầu tƣ vào sản
xuất nhƣ mua phân bón, sắm dụng cụ lao động, cá biệt có hộ còn bán cả đất
canh tác để tiêu dùng.
Nhƣ vậy không có kinh nghiệm làm ăn, không có phƣơng pháp sản xuất
kinh doanh, chỉ biết làm mà không tính toán đƣợc lỗ lãi là đặc trƣng của trình độ
sản xuất lạc hậu, chƣa thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp là một trong các
nguyên nhân chính, quan trọng nhất dẫn đến nghèo đói ở Cao Bằng.
Hai là, thiếu các nguồn lực để sản xuất.Nguồn lực ở đây bao gồm: Đất
đai, lao động, vốn sản xuất.
Thiếu đất: Đất đai đƣợc coi nhƣ nguồn lực quan trọng nhất đối với ngƣời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status