quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của đảng bộ tình vĩnh phúc tu nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA
ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH
PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn: PGS.TS. Hồ Khang

1.2.2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo (1997 – 2005) ............................................................... 34

1


Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 –
2010 ................................................................................................................. 58
2.1. Những thuận lợi và khó khăn đối với việc thực hiện chính sách
giảm nghèo ở Vĩnh Phúc và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010........................................................... 58
2.1.1. Những thuận lợi và khó khăn đối với việc thực hiện chính sách
giảm nghèo ở Vĩnh Phúc (2006 – 2010) ....................................................... 58
2.1.2. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện giảm
nghèo giai đoạn 2006 – 2010 ......................................................................... 60
2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chính sách
giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 ............................................................... 62
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về thực hiện giảm
nghèo giai đoạn 2006 – 2010 ......................................................................... 62
2.2.2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện
chính sách giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 ............................................. 65
Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ........... 80
CHỦ YẾU....................................................................................................... 80
3.1. Nhận xét chung ....................................................................................... 80
3.1.1. Những thành tựu cơ bản ..................................................................... 80
3.1.2. Một số tồn tại, hạn chế ......................................................................... 97
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu và một số vấn đề đặt ra ...................... 102
3.2.1. Những kinh nghiệm chủ yếu ............................................................. 102
3.2.2. Một số vấn đề đặt ra ........................................................................... 110


: Cựu chiến binh

ĐBKK

: Đặc biệt khó khăn

GD - ĐT

: Giáo dục - Đào tạo

HĐND

: Hội đồng nhân dân

KHHGĐ

: Kế hoạch hóa gia đình

KHKT

: Khoa học kỹ thuật

KHXH & NV : Khoa học xã hội và nhân văn
LHPN

: Liên hiệp phụ nữ

MTTQ



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài ngƣời, cùng với sự
phát triển liên tục của lực lƣợng sản xuất, loài ngƣời đã lần lƣợt đi qua các xã
hội khác nhau với những trình độ phân hoá giàu nghèo khác nhau. Đến xã hội
đƣơng đại, phân biệt giàu nghèo không còn là giữa những ngƣời cầm roi vọt
đứng trƣớc vài ngàn nô lệ trƣớc đây, mà là những nhà tƣ bản kếch xù, những
trùm tài phiệt có khi không hề biết đến đám dân đen nghèo khổ mà họ đang
bóc lột cụ thể là ai. Tác động của nền kinh tế thị trƣờng khiến cho sự phân
biệt đó ngày càng lớn. Trong xã hội hiện nay, nghèo đói đã và đang tồn tại
nhƣ là một thách thức lớn, một trở lực lớn đối với sự phát triển của kinh tế và
xã hội loài ngƣời. Trong khi các nền kinh tế siêu cƣờng vẫn liên tục phát triển
với tốc độ cao thì một phần tƣ dân số thế giới vẫn đang phải sống trong sự
cùng cực của nghèo khổ, không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản
của con ngƣời; hàng triệu ngƣời khác cũng có cuộc sống ngấp nghé ranh giới
của sự tồn tại tình trạng nghèo đói. Nghèo đói là một vấn đề xã hội nhƣng giải
quyết nghèo đói lại mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc, liên quan đến con
ngƣời và sự phát triển của con ngƣời. Giải quyết vấn đề nghèo đói xét đến
cùng chính là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng
xã hội. Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo đã và đang trở thành một chiến dịch
lớn “tấn công vào nghèo đói” trên toàn cầu; đƣợc coi là một trong những
“cuộc chiến thiên niên kỷ”, diễn ra với những quy mô, mức độ, hình thức
khác nhau ở nhiều quốc gia, khu vực.
Ở Việt Nam, nhận thức rõ hậu quả của vấn đề đói nghèo đối với sự phát
triển nền kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn việc thực hiện xóa
đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia, dân tộc,
đặc biệt là từ khi đất nƣớc bƣớc vào thời kì chuyển đổi nền kinh tế. Đây chính
là sự thể hiện quan điểm, đƣờng lối của Đảng ta về phát triển kinh tế thị


nghiên cứu, đánh giá, tổng kết lại quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo

6


thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo là một việc làm có ý nghĩa thiết
thực, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu và từ đó đƣa ra đƣợc
những giải pháp ngày càng hiệu quả hơn cho giai đoạn tiếp theo.
Với mong muốn tìm hiểu về vấn đề đói nghèo, về chủ trƣơng, chính
sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nƣớc, cũng nhƣ mong muốn có
một đóng góp nhỏ thể hiện tấm lòng tri ân với quê hƣơng, sau một thời gian
khảo sát thực tế tại địa phƣơng, tôi quyết định chọn đề tài “Quá trình thực
hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
1997 đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề xóa đói, giảm nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu nên
trong vòng khoảng 20 năm trở lại đây, trên thế giới đã có không ít các cuộc
hội thảo, hội nghị bàn về vấn đề này, ví dụ nhƣ: Hội nghị chống đói nghèo
khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái
Lan) vào tháng 9 - 1993; Hội nghị về phát triển xã hội do Liên Hợp Quốc tổ
chức tại Coopenhaghen (Đan Mạch); Hội nghị Thƣợng đỉnh thiên niên kỷ của
Liên Hợp Quốc vào năm 2000;…Các hội nghị đã đƣa ra các khái niệm về đói
nghèo, các quan điểm về chuẩn mực đói nghèo và một số giải pháp chung về
xóa đói, giảm nghèo trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam, trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây cũng đã có nhiều
công trình nghiên cứu về đề tài này, tiêu biểu nhƣ: tác phẩm Vấn đề xóa đói,
giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của Nguyễn Thị Hằng (1997)
nghiên cứu vấn đề đói nghèo ở các chế độ xã hội ở nƣớc ta, nghiên cứu quan
điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về mục tiêu lý

sự kiện lịch sử và cũng cung cấp những gợi ý cần thiết để phân tích và so sánh
trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Với đề tài đã chọn, luận văn nhằm làm sáng tỏ
một cách khách quan và toàn diện nhất quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của

8


Đảng bộ Vĩnh Phúc trong thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo (1997 2010); khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế trong quá trình lãnh
đạo, chỉ đạo thực tiễn; đúc kết những kinh nghiệm trên cơ sở đó bƣớc đầu đƣa
ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả hơn việc tổ
chức thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh trong những
giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn có nhiệm vụ trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo (1997 2010).
- Đánh giá bƣớc đầu những tựu và hạn chế của quá trình thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2010.
- Tổng kết những kinh nghiệm chủ yếu và trên cơ sở đó bƣớc đầu đƣa
ra một số kiến nghị, giải pháp thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở
Vĩnh Phúc cho giai đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trƣơng, chính sách và quá trình triển khai thực hiện chính
sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ Vĩnh Phúc (1997 – 2010).
- Thực tiễn quá trình thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của
Vĩnh Phúc (1997 - 2010).
- Những kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ Vĩnh Phúc qua thực tiễn lãnh
đạo thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trong những năm 1997 - 2010.

nghèo và các bài viết trên wedside của tỉnh Vĩnh Phúc, Báo Vĩnh Phúc.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã tập hợp đƣợc một khối lƣợng tƣ liệu khá phong phú, đầy
đủ về việc lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 – 2010

10


- Có những đánh giá mang tính khái quát, tổng hợp, đồng thời bƣớc
đầu rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu về quá trình thực hiện chính sách xóa
đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong hơn 10 năm tái lập tỉnh
(1997 – 2010). Đây sẽ là nguồn tƣ liệu có ý nghĩa giúp cho việc đề ra những
chủ trƣơng, biện pháp thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ
tỉnh trong những giai đoạn tiếp theo.
- Kết quả của luận văn có thể làm nguồn tƣ liệu tham khảo cho những
bài viết liên quan đến đề tài.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo trong những năm 1997- 2005
Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện
chính sách giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010
Chƣơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu

11


Chƣơng 1: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÖC LÃNH ĐẠO

Còn đối với ngƣời dân thì quan niệm của họ rất đơn giản và thực tế:
“Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi
ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi
mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân”[38, 17].
Nhƣ vậy, có thể hiểu và đƣa ra một khái niệm chung về nghèo đói nhƣ
sau: Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một
nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người
mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn xã hội đã được thừa nhận.
Chuẩn nghèo (hay ngƣỡng nghèo, tiêu chí nghèo) là công cụ để phân
biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo, là chuẩn mực tối thiểu cho một cá
nhân đáp ứng đƣợc nhu cầu cơ bản của họ về lƣơng thực thực phẩm và yếu tố
phi lƣơng thực thực phẩm. Những ngƣời đƣợc coi là ngƣời nghèo khi mức
sống của họ đƣợc đo qua thu nhập thấp hơn một mức sống tối thiểu chấp nhận
đƣợc, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những ngƣời có thu nhập ở trên chuẩn
này là ngƣời không nghèo hoặc đã vƣợt nghèo, thoát nghèo.
Chuẩn nghèo là một khái niệm “động”, thay đổi theo không gian và
thời gian. Ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi giai đoạn khác nhau thì chuẩn
nghèo lại khác nhau. Ở Việt Nam, do xuất phát từ một nƣớc nông nghiệp, nên
chuẩn nghèo đói ở Việt Nam, thời gian từ năm 1996 về trƣớc tính theo mức
chi tiêu bằng lƣơng thực (quy gạo) là chính, về sau mới đƣợc tính theo giá trị
bằng tiền. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tế, Bộ Lao động - TB&XH đã
công bố chuẩn nghèo đói quốc gia nhƣ sau:
Thời kỳ trƣớc năm 1997: Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu
ngƣời trong một hộ trong một tháng quy ra gạo là dƣới 13kg, tính cho mọi
vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập dƣới 15kg/ngƣời/tháng đối với vùng nông
thôn, miền núi, hải đảo; dƣới 20kg/ngƣời/tháng đối với nông thôn vùng đồng
bằng trung du; dƣới 25kg/ngƣời/tháng đối với thành thị.

13


14


- Các yếu tố xã hội chƣa đạt mức tối thiểu, dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ và
thất học trên 60%, tập tục lạc hậu,..
- Điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu thốn, sản xuất mang tính tự nhiên,
hái lƣợm, chủ yếu là phát rừng làm nƣơng rẫy, du canh du cƣ
- Số hộ nghèo đói trên 60% số hộ của xã. Đời sống khó khăn, nạn đói
thƣờng xuyên xảy ra.
Mức quy định xã nghèo và xã ĐBKK áp dụng chung cho các giai đoạn
từ 1997 đến nay.
Nhƣ vậy, theo từng giai đoạn, chuẩn nghèo ở nƣớc ta đã đƣợc điều
chỉnh sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc
trong từng giai đoạn đó. Chuẩn nghèo tăng theo từng giai đoạn chứng tỏ nền
kinh tế - xã hội đất nƣớc ngày một phát triển và đã bƣớc đầu phát triển với tốc
độ tăng trƣởng cao, đồng thời cũng chứng tỏ những thành công rất lớn của
nƣớc ta trong công tác xóa đói giảm nghèo sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới
đất nƣớc.
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phân hóa giàu nghèo bị
chi phối bởi chính các qui luật phổ biến của quá trình trao đổi hàng hóa, trong
đó có vai trò quyết định là qui luật giá trị. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định:
với sự mở rộng thƣơng mại, với tiền và cho vay nặng lãi,.., sự tập trung của
cải vào tay giai cấp ít ngƣời đã diễn ra nhanh chóng, cùng một lúc sự bần
cùng hóa ngày càng tăng của quần chúng và sự tăng thêm của đám đông dân
nghèo. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Lênin đã nhấn mạnh
cần phải xóa bỏ sự chênh lệch ấy, bởi lẽ cuộc sống độc lập, tự do và không bị
đói nghèo, dốt nát là những quyền cơ bản nhất của con ngƣời: Hãy xóa bỏ nạn
ngƣời bóc lột ngƣời, nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.
Quan điểm trên đây đồng thời cũng là niềm trăn trở suốt đời của Chủ

đổi mới, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn
quan tâm đến chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.Việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm

16


nghèo thực chất chính là quá trình đƣa các chủ trƣơng, chính sách của Đảng
và Nhà nƣớc vào việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân, đặc biệt
là xã nghèo, hộ nghèo trên cả nƣớc, nhằm tiến tới thực hiện mục tiêu “dân
giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Luôn quán triệt đƣờng lối: cùng với quá trình tăng trƣởng kinh tế phải
tiến hành xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa
giàu nghèo vƣợt quá giới hạn cho phép, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI của Đảng (tháng 12 - 1986), vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã đƣợc
đề cập đến và tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 1991), xóa đói, giảm nghèo đã đƣợc đƣa lên thành một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong quá trình trình phát triển kinh tế - xã hội nƣớc ta trong giai
đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ “xóa nạn đói,
giảm số người nghèo khổ…cải thiện đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần
của nhân dân” [9, tr. 340]. Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Đảng ta nêu rõ “khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm
số người nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với phát triển kinh tế” [6,
tr. 9]; đồng thời “thực hiện chính sách toàn dân đóng góp để đền ơn trả nghĩa
với thương binh,..chính sách cứu hộ những vùng gặp thiên tai, rủi ro và
những gia đình quá nghèo khổ” [6, tr. 34-35]. Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nƣớc (1996 - 2000), khi nền kinh tế đất nƣớc bắt đầu
có bƣớc phát triển, đồng thời cũng bắt đầu bộc lộ những mặt trái của nền kinh
tế thị trƣờng thì vấn đề xóa đói, giảm nghèo ngày càng đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc ta quan tâm hơn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng
(tháng 6 -1996), vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã đƣợc Đảng đƣa lên thành một
trong 11 chƣơng trình trọng điểm của kế hoạch 5 năm (1996 - 2000): “khuyến

tế - xã hội các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu, vùng xa. Ngày 15/3/1999, liên
Bộ Kế hoạch và đầu tƣ - Tài chính - LĐ - TB&XH có Thông tƣ hƣớng dẫn kế
hoạch hóa việc lồng ghép các chƣơng trình, dự án tham gia thực hiện xóa đói,
giảm nghèo. Nhƣ vậy, từ đây, chính sách xóa đói, giảm nghèo từ một phong
trào đã thực sự trở thành một Chƣơng trình mục tiêu quốc gia (gọi tắt là

18


Chƣơng trình 133). Sự ra đời của chƣơng trình mục tiêu quốc gia xóa đói,
giảm nghèo một mặt là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của Chủ nghĩa
Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đƣờng đi lên CNXH.
Đồng thời, đó cũng là sự đòi hỏi khách quan từ thực tiễn xã hội nƣớc ta, là sự
tiếp nối thực hiện và phát triển ở mức cao hơn những thành quả đã đạt đƣợc
trong phong trào xóa đói, giảm nghèo những thập kỷ trƣớc. Đây thực sự là
một bƣớc tiến quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nƣớc ta
trong cuộc chiến đấu chống đói nghèo và là bƣớc đột phá quan trọng trong sự
phát triển của công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong cả nƣớc cũng nhƣ tại các
địa phƣơng.
Sau 5 năm thực hiện chủ trƣơng xóa đói, giảm nghèo theo Nghị quyết
Đại hội VIII của Đảng, 10 năm thực hiện chiến lƣợc ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội 1991 – 2000, đặc biệt là sau 2 năm thực hiện chƣơng trình
mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, việc thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo của nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều kết quả tích cực, song, đó mới chỉ
là những thành tựu bƣớc đầu. Bƣớc vào thiên niên kỷ mới, đói nghèo vẫn là
một trong những thách thức to lớn của toàn Đảng, toàn dân ta cũng nhƣ của
toàn nhân loại. Tại Hội nghị thiên niên kỷ cuối năm 2000 của Liên Hiệp Quốc
tổ chức tại Oa - sinh - tơn (Mỹ), Chủ tịch nƣớc Trần Đức Lƣơng - trƣởng
đoàn đại biểu Việt Nam, đã đề nghị lấy thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI làm
thập niên dành ƣu tiên cho xóa đói, giảm nghèo trên phạm vi toàn thế giới và

Để cụ thể hóa những chủ trƣơng, chính sách của Đảng vấn đề xóa đói,
giảm nghèo trong giai đoạn 2001 - 2005, Nhà nƣớc đã ban hành các văn bản
pháp lý về chƣơng trình xóa đói, giảm nghèo. Ngày 4/5/2001, Thủ tƣớng
Chính phủ ra Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg về các Chƣơng trình mục tiêu
quốc gia giai đoạn 2001 - 2005, trong đó chƣơng trình mục tiêu quốc gia
chính sách xóa đói, giảm nghèo và việc làm đƣợc đặt ở danh mục đầu tiên
trong 6 chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Ngày 27/9/2001, Thủ tƣớng Chính
phủ ban hành Quyết định số 143/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình

20


mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005. Đặc
biệt, ngày 21/5/2002, Thủ tƣớng Chính phủ ra Công văn số 2685/VPCP,
QHQT phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm
nghèo. Có thể nói, đây là một minh chứng nổi bật và đầy thuyết phục về bƣớc
phát triển tƣ duy mới, toàn diện của Đảng và Nhà nƣớc ta về xóa đói, giảm
nghèo: từ một “chƣơng trình mục tiêu quốc gia” đã phát triển lên thành một
“chiến lƣợc phát triển”, gắn chặt với chiến lƣợc phát triển đất nƣớc. Từ đây,
xóa đói, giảm nghèo không chỉ là một công việc nhất thời, trƣớc mắt nữa mà
là một nhiệm vụ chiến lƣợc lâu dài. Trƣớc là mắt là xóa sổ hộ đói, giảm hộ
nghèo; lâu dài là xóa nghèo nói chung, giảm khoảng cách giàu nghèo, phấn
đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Nhƣ vậy,
xóa đói, giảm nghèo có mục tiêu kép là: vừa xóa đói, giảm nghèo cho bản
thân ngƣời nghèo, hộ nghèo; vừa xóa đói, giảm nghèo cho cả nƣớc nói chung.
Ngoài những văn bản pháp lý trên, Nhà nƣớc còn ban hành nhiều văn
bản pháp lý khác quy định một cách cụ thể các chính sách hỗ trợ đối với
ngƣời nghèo nhƣ: Nghị định số 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày
4/10/2002 về tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác;
Quyết định số 199/2001/QĐ - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về việc miễn,

Vị trí địa lý và địa hình: Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc đồng bằng sông
Hồng, thuộc khoảng giữa miền Bắc Việt Nam, là một trong 8 tỉnh, thành phố
thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; tiếp giáp với 5 tỉnh: phía Bắc giáp tỉnh
Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh
Phú Thọ, phía Đông giáp Thủ đô Hà Nội. Là khu vực chuyển tiếp giữa miền
núi và đồng bằng,Vĩnh Phúc có đầy đủ cả 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung
du và miền núi; trong đó vùng đồng bằng có diện tích là 389,49 km2, vùng
trung du là 433,05 km2, vùng núi là 558,97 km2.
Điều kiện khí hậu và sông ngòi: Cũng nhƣ các tỉnh khác thuộc Bắc Bộ,
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Khí hậu trong năm
chia thành 4 mùa, trong đó có hai mùa rõ rệt là mùa mƣa và mùa khô. Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 24°C, lƣợng mƣa trung bình hàng năm 1400 mm,

22


độ ẩm trung bình là 84%. Chảy qua đất Vĩnh Phúc có bốn dòng chính: sông
Hồng, sông Lô, sông Phó Ðáy và sông Cà Lồ.
Tài nguyên thiên nhiên: Về Tài nguyên đất, theo số liệu năm 2002, tỉnh
Vĩnh Phúc có 219.200 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó: diện tích đất nông
nghiệp là 66.781 ha, chiếm 48,69%; diện tích đất lâm nghiệp là 30.433 ha,
chiếm 22,18%; diện tích đất chuyên dùng là 18.693 ha, chiếm 13,63%; diện
tích đất ở là 5.158 ha, chiếm 3,76%; diện tích đất chƣa sử dụng và sông suối
đá là 16.071 ha, chiếm 11,71%. Tài nguyên rừng: Toàn tỉnh có 30.439 ha
rừng, trong đó: diện tích rừng tự nhiên là 9.592 ha, diện tích rừng trồng là
20.847 ha. Tài nguyên khoáng sản: Vĩnh Phúc là một tỉnh nghèo về các loại
khoáng sản, chủ yếu là nguyên vật liệu xây dựng (đất sét, đá xây dựng) và
nguyên vật liệu làm sứ (đá cao lanh). Ngoài ra, Vĩnh Phúc là một tỉnh có tiềm
năng du lịch lớn với nhiều khu du lịch nổi tiếng đã và đang đƣợc khai thác
nhƣ Tam Ðảo; hồ Ðại Lải; chùa Tây Thiên;…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status