ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MA THỊ TUYỀN
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG Ở TỈNH CAO BẰNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MA THỊ TUYỀN
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG Ở TỈNH CAO BẰNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. HOÀNG HỒNG
2.2.2. Chỉ đạo thực hiện các chính sách, dự án xóa đói giảm nghèo ........ 84
2.2.3. Chỉ đạo các tổ chức đoàn thể tham gia hoạt động xóa đói giảm
nghèo ....................................................................................................... 95
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ................... 109
3.1. Một số nhận xét ............................................................................. 109
3.1.1. Ưu điểm của Đảng bộ Cao Bằng trong quá trình lãnh đạo thực hiện
xóa đói giảm nghèo ................................................................................ 109
3.1.2. Hạn chế của Đảng bộ Cao Bằng trong quá trình lãnh đạo thực hiện
xóa đói giảm nghèo ................................................................................ 114
3.2. Một số kinh nghiệm ...................................................................... 118
KẾT LUẬN........................................................................................... 130
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................ 133
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.2: Kết quả giảm nghèo qua các năm theo chuẩn nghèo giai đoạn
2001-2005…………………………………………………………………65
Bảng 2.2: Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu của chương trình 135
giai đoạn II tỉnh Cao Bằng……………………………………………...106
NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCĐ:
Ban chỉ đạo
BCH:
Ban chấp hành
Lao động thương binh và xã hội
QĐ - TTg:
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
QĐ - UBND:
Quyết định của ủy ban nhân dân
UBND:
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghèo đói là vấn đề được quan tâm ở tất cả các quốc gia trên thế
giới. Xóa đói giảm nghèo và tiến tới đẩy lùi nghèo đói là mục tiêu chung
của nhân loại hướng tới tương lai. Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu
dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo như một thứ “giặc”,
cùng với “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm” đều cần phải diệt nhằm mang lại
hạnh phúc, cơm no, áo ấm cho nhân dân. Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta
khởi xướng cũng không có mục đích nào khác hơn điều mong ước giản dị
đó của Bác Hồ.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của nhiệm
vụ xóa đói giảm nghèo. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng đã
đề ra chủ trương xóa đói, giảm nghèo. Chủ trương của Đảng đã trở thành
đồng thời đúc kết những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn mới. Do
đó, tôi chọn “Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở
tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đói nghèo và xóa đói giảm nghèo ở nước ta là vấn đề được Đảng,
Nhà nước và nhiều cơ quan, cán bộ nghiên cứu ở các cấp, các ngành cũng
như toàn xã hội quan tâm. Nhất là từ năm 1998 khi Chính phủ phê duyệt
mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, nhiều hội thảo đã được tiến hành,
nhiều công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã được xuất
bản như: Hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn, từ cách tiếp cận vĩ
mô do viện Dân tộc học, Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Ba Lan tổ
chức tại Đà Nẵng (tháng 5/2002); Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu
2
số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp của tác giả Hà Quế Lâm,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Kỷ yếu hội thảo xóa đói giảm nghèo - vấn
đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam (2004), NXB
Nông nghiệp; Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam (2001) của tác
giả Chu Tiến Quang, NXB Nông nghiệp; Một số chính sách quốc gia về
việc làm và xóa đói giảm nghèo (2002) của tác giả Lê Quyết, NXB Lao
động; Báo cáo: Nghèo của Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam năm
2003; Đánh giá Chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và
Chương trình 135 (2004) của Bộ LĐTB&XH và UNDP; Một số vấn đề
giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam (2003), của tác giả Bùi Minh
Đạo, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội; Chính sách xóa đói giảm nghèo thực trạng và giải pháp (2012) của PGS.TS. Lê Quốc Lý, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội…
với đói nghèo, tạp chí lao động và xã hội, số tháng 6B/2002; Nguyễn Mạnh
Tuấn (2006), Cao Bằng hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững,
tạp chí lao động và xã hội, số tháng 11B/2007. Bên cạnh đó còn có các báo
cáo tổng kết về công tác xóa đói giảm nghèo của Ủy ban nhân dân tỉnh, các
ban ngành đoàn thể như: Sở lao động thương binh và xã hội, Ban dân tộc
và tôn giáo, Mặt trận tổ quốc tỉnh Cao Bằng… tuy nhiên đến nay chưa có
một công trình chuyên khảo nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về công tác
xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng quán triệt và vận dụng
những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào lãnh đạo, chỉ đạo
4
thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên thực tiễn của tỉnh Cao Bằng từ
năm 2001 đến năm 2010.
- Chỉ ra các thành tựu, hạn chế và rút ra các bài học kinh nghiệm về
quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ
tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh
tế-xã hội đối với sự phát triển của tỉnh Cao Bằng, khái quát tình hình thực
hiện xóa đói giảm nghèo của tỉnh Cao Bằng trước năm 2001.
- Trình bày khái quát các quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về xóa đói giảm
nghèo.
- Mô tả quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng
bộ tỉnh Cao Bằng và đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm
và kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo các năm, giai đoạn của Sở
LĐTB&XH tỉnh Cao Bằng và các ban, ngành, đoàn thể có liên quan; các
công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo…Những tư liệu này được
khai thác từ phòng lưu trữ của Tỉnh ủy Cao Bằng, Trung tâm lưu trữ thuộc
Sở nội vụ Cao Bằng, thư viện tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh Cao Bằng, Sở
LĐTB&XH, Ban Dân tộc và tôn giáo tỉnh Cao Bằng, thư viện trường Đại
học khoa học xã hội và nhân văn…
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu khoa học,
các chuyên luận, luận văn, luận án, các bài báo của các nhà khoa học có
liên quan đến đề tài luận văn.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp
lịch sử, phương pháp logic kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp,
phương pháp phân tích. Đồng thời tác giả tiến hành phương pháp khảo sát
6
thực tế việc thực hiện các dự án, chính sách xóa đói giảm nghèo ở một số
xã trên địa bàn tỉnh.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Cao Bằng về xóa đói giảm nghèo.
- Phục dựng một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ Cao Bằng lãnh
đạo, tổ chức thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2010.
- Luận văn là nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập
Lịch sử Đảng địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo xóa đói giảm nghèo giai
chiếm 18% diện tích đất tự nhiên. Địa bàn này bị chia cắt mạnh, có độ dốc
lớn và bị xói mòn cao. Tiểu vùng đồi núi thấp là vùng chuyển tiếp giữa
vùng núi cao với vùng đất bằng, ở độ cao trung bình 200 - 600 m và chiếm
38% đất tự nhiên. Đặc trưng của vùng đất này là thung lũng hẹp nằm xen
kẽ giữa các dãy núi cao và có độ dốc lớn. Tiểu vùng bồn địa bao gồm thị
8
xã Cao Bằng và huyện Hòa An chay dọc sông Bằng, chiếm 12% diện tích
đất tự nhiên, đây là vùng lúa lớn nhất của tỉnh.
Khí hậu của Cao Bằng thuộc đới khí hậu gió mùa chí tuyến á nhiệt
đới. Ngoài ra Cao Bằng còn là cửa ngõ đón gió mùa Đông Bắc vào mùa
đông và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam vào mùa hè. Khí hậu
Cao Bằng chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt
đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm. Mùa này thường có gió
mùa Đông Nam và chịu ảnh hưởng một phần nhỏ của gió mùa Tây Nam và
gió mùa Đông Bắc. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3
năm sau, khí hậu ôn đới mát mẻ, giá lạnh, hay có sương mù, có vùng còn
xuất hiện sương muối. Gió mùa Đông Bắc thường xuyên thổi đến gây khô
và rét. Cao Bằng có lượng mưa tương đối thấp, trung bình hàng năm dao
động trong khoảng 1.500 - 2.000 mm và phân bổ không đều. Lượng mưa
có chiều hướng tăng theo độ cao, giảm ở các thung lũng bị chắn gió. Nhiệt
độ trung bình 28 - 29 độ C, tháng cao nhất lên đến 40 độ C.
Cao Bằng có mạng lưới sông, suối, hồ tương đối phong phú và đa
dạng, hướng dòng chảy chủ yếu theo hai hướng: tây bắc - đông nam hoặc
bắc - nam. Mật độ sông, suối thường tập trung ở các vùng lòng máng, các
thung lũng lớn. Các dòng sông đều bắc nguồn từ Trung Quốc và các vùng
núi cao như dãy núi Phja Dạ (huyện Bảo Lạc), Phja Oắc (huyện Nguyên
Bình). Lưu lượng nước của các con sông, suối không ổn định, thường thay
sến, tô mộc, lát… và các cây đặc sản như sa nhân, cây dược liệu quý
(bạch truật, ba kích, hà thủ ô…) cùng nhiều động vật như gấu, hươu, nai
và các loài chim. Đặc biệt, tài nguyên rừng ở Phja Oắc (huyện Nguyên
Bình) có thể hình thành và phát triển khu du lịch sinh thái.
Tài nguyên khoáng sản: thiên nhiên ưu đãi cho Cao Bằng nguồn tài
nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng. Nơi đây quy tụ 142
mỏ vàng và điểm quặng với 22 loại khoáng sản như: quặng sắt, quặng
10
mangan, quặng thiếc, vàng,.. có trữ lượng tương đối lớn và chất lượng tốt.
Trong đó có những khoáng sản mang tầm chiến lược trong nền kinh tế
quốc dân bao gồm thiếc, vàng, chì, kẽm, uran, mangan, vonfram, atimon,
các loại nguyên liệu phục vụ cho ngành sản xuất phân bón, gốm sứ và vật
liệu xây dựng…
Điều kiện xã hội
Cao bằng có 13 huyện, thị xã với 194 xã, phường, thị trấn. Trong đó
tỉnh lị là thị xã Cao Bằng. Đến năm 2005 dân số Cao Bằng có khoảng
512,5 nghìn người, mật độ dân số 75 người/km2. Tỉnh Cao Bằng có 9 dân
tộc sinh sống. Trong đó Tày chiếm 43%, Nùng chiếm 32%, Dao chiếm
10,6 %, Mông chiếm 6,8%, kinh chiếm 4,2%, một số dân tộc ít người khác
chiếm 3,4% trong cơ cấu dân số của tỉnh. Dân số Cao Bằng tương đối trẻ,
số người trong độ tuổi lao động khoảng 324,1 nghìn người chiếm 63% dân
số. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm khoảng 17%. Lực lượng lao động
tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm trên 85%, trong khi lĩnh vực dịch vụ
chỉ chiếm 4% dân số.
Giao thông - vận tải: hệ thống giao thông còn nhiều hạn chế về tuyến
và chất lượng giao thông. Hệ thống giao thông duy nhất chỉ có đường bộ,
gồm 4 tuyến quốc lộ (quốc lộ 3, 4A, 34 và 4C) với chiều dài 360 km và các
thiết yếu, đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tại chỗ
cho nhân dân.
Điều kiện kinh tế
Dựa trên cơ sở nguồn lực của địa phương Cao Bằng xác định cơ cấu
kinh tế của tỉnh là: nông - lâm - công nghiệp, thương mại và du lịch.
Nông nghiệp: Cao Bằng có 85% dân số hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiêp, do đó vấn đề phát triển nông nghiệp được chú trọng. Sản
lượng lương thực bình quân đầu người đạt 340 kg/năm (năm 2001). Vấn đề
12
gắn sản xuất với chế biến được tỉnh quan tâm và bước đầu có hiệu quả. Các
mô hình sản xuất vườn - rừng, trại - rừng đã được chú ý nhân rộng. Trong
cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn giữ vai trò quan trọng,
chăn nuôi chiếm tỷ lệ khá nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong ngành trồng trọt chủ yếu trồng các loại cây lương thực như lúa, ngô,
khoai sắn, trồng các cây ăn quả như mít, bưởi dứa, mận… bên cạnh đó đặc
biệt chú trọng phát triển các cây công nghiệp hàng năm như cây mía, cây
thuốc lá, đậu tương, lạc, bông. Trong chăn nuôi chủ yếu là nuôi bò, trâu,
lợn, gia cầm, ngoài vấn đề phục vụ cho sản xuất nông nghiệp còn hướng tới
cung cấp thực phẩm và hàng hóa.
Lâm nghiệp: Lâm nghiệp được coi là một thế mạnh của tỉnh Cao
Bằng, so với năm 1991, giá trị sản xuất của ngành năm 2000 đã tăng gấp
5,8 lần, nhưng lâm nghiệp vấn giữ vị trí khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế của
tỉnh. Diện tích rừng trồng tập trung từ 476 ha năm 1996 đã tăng lên 3.966
ha năm 2000. Diện tích trồng cây phân tán cũng tăng tương ứng từ 594 ha
lên 685 ha. Rừng được khoanh nuôi và bảo vệ , diện tích rừng bị thiệt hại
giảm từ 1.977 ha năm 1998 đến năm 2000 xuống chỉ còn 47 ha. Từ chương
trình 327, dự án PAM, do diện tích trồng rừng, bảo vệ rừng, độ che phủ
Pác Bó, suối Lênin, núi Các Mác, lán Khuổi Nặm… Khu rừng Trần Hưng
Đạo - nơi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân...Thắng
cảnh Thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen có sức hấp dẫn
du khách. Những thắng cảnh này không chỉ là cảnh đẹp tự nhiên mà còn là
tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái.
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Cao
Bằng
Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng là
những nhân tố quan trọng tác động đến phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế
việc đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế, khó khăn mà các yếu tố này mang lại
14
có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề cơ bản để các cấp, các ngành tỉnh Cao
Bằng có thể hoạch định quy hoạch phát triển trước mắt và lâu dài. Trên cơ
sở phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng tỉnh Cao
Bằng có thể khái quát những lợi thế cơ bản trên các lĩnh vực sau:
Là tỉnh biên giới Cao Bằng có 3 cửa khẩu lớn (Tà Lùng, Hùng Quốc,
Sóc Giang). Đây là lợi thế nổi bật nhất của tỉnh Cao Bằng trong hiện tại và
tương lai, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển thương mại và mở rộng thị
trường.
Là một tỉnh miền núi vùng cao có vị trí quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng, Cao Bằng là địa bàn
được Chính phủ ưu tiên về vốn và chính sách nhằm đẩy mạnh quá trình
phát triển kinh tế -xã hội. Đặc biệt việc cải tạo nâng cấp quốc lộ 3, quốc lộ
4A với quy mô cấp IV miền núi sẽ tạo điều kiện cho kinh tế Cao Bằng phát
triển, thế mạnh về khai thác chế biến khoáng sản, du lịch sẽ được khai thác
tốt hơn.
Với tiềm năng khoáng sản phong phú về chủng loại, trữ lượng và
1.1.2.1. Quan niệm chung về nghèo đói và tình hình nghèo đói ở Việt
Nam
Để tìm hiểu thực trạng nghèo đói và tìm ra các nguyên nhân đói
nghèo của mỗi người, mỗi cộng đồng cư dân, cần thiết phải có quan niệm
chung về đói nghèo từ đó hình thành các chủ trương, chính sách nhằm xóa
đói giảm nghèo phù hợp với từng nhóm người, từng vùng, từng địa
phương.
Tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9.1993 tại Bangkok
(Thái Lan) lần đầu tiên bàn đến khái niệm thế nào là nghèo đói và phương
pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói sao cho có hiệu quả. Hội nghị đã
16
thống nhất khái niệm nghèo đói: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà
nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập
quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [7, tr.20]. Các
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống bao gồm nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao
tiếp, vệ sinh, y tế, giáo dục đào tạo, giải trí, văn hóa tinh thần. Khái niệm
nghèo đói của ESCAP được đông đảo các nước trên thế giới thừa nhận và
sử dụng làm tiêu chí đáng giá, nhận diện nghèo đói.
Khái niệm nghèo khổ nêu trên cũng nói lên rằng sẽ không có chuẩn
nghèo chung cho tất cả các quốc gia và khu vực vì nó phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước và phong tục tập quán của từng
vùng, đó là sự thay đổi theo không gian. Mặt khác chuẩn nghèo cũng sẽ
thay đổi theo thời gian chứ không phải là một đại lượng bất biến.
Chuẩn nghèo đói (ngưỡng nghèo) là thước đo mức độ nghèo đói để
làm căn cứ xác định mục tiêu phát triển xã hội hoặc là xác định kế hoạch,
Căn cứ vào điều kiện riêng của đất nước, Việt Nam đã đưa ra chuẩn
để xác định nghèo, có điều chỉnh theo từng vùng miền và từng thời điểm.
Giai đoạn 1998 - 2000
Theo quy định tại Thông tư số 1751/LĐTB&XH ngày 22 tháng 5
năm 1997 của Bộ LĐTB&XH. Hộ đói là hộ không dủ cơm ăn, không đủ áo
mặc, con cái thất học, không có tiền để chữa bệnh, nhà ở rách nát; qui đổi
bằng gạo thì hộ này có mức thu bình quân đầu người dưới 13kg/tháng, qui
thành tiền là 45.000 đồng. Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa,
không đủ áo lành và áo ấm, không có khả năng phát triển sản xuất; tính
theo thu nhập thì ở vùng nông thôn miền núi và hải đảo bằng dưới 15kg
gạo/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; đối với vùng nông thôn, đồng
bằng và trung du là dưới 20 kg gạo/người/tháng, tương đương 70.000 đồng;
đối với thành thị là dưới 25 kg gạo/người/tháng, tương đương 90.000 đồng.
Giai đoạn 2001 - 2005
18
Theo Quyết định 1134 - 2000/QĐ - LĐTB&XH ngày 01 tháng 11
năm 2000 của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, hộ nghèo ở vùng nông thôn miền
núi, hải đảo có thu nhập 80.000 đồng/người/tháng; tương tự, ở vùng đồng
bằng là 100.000 đồng/người/tháng và ở thành thị là 150.000
đồng/người/tháng.
Giai đoạn 2006 - 2010
Theo Quyết định 170 - 2005/QĐ - Ttg ngày 8 tháng 7 năm 2005 của
Thủ tướng Chính phủ quy định hộ nghèo ở khu vực nông thôn có thu nhập
đầu người một tháng từ 200.000 đồng trở xuống; ở khu vực thành thị là
260.000 đồng trở xuống.
Các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của
Bộ LĐTB&XH cũng đưa ra các khái niệm “xã nghèo”, “vùng nghèo”.