ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THỊ TUYẾT
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG
Ở TỈNH TUYÊN QUANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THỊ TUYẾT
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG
Ở TỈNH TUYÊN QUANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Viết Nghĩa
Hà Nội - 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 3. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA
ĐẢNG Ở TỈNH TUYÊN QUANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 .................60
3.1. Chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng từ năm 2006 đến năm 2010 ... 60
3.2. Tuyên Quang thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ năm 2006
đến năm 2010 ............................................................................................... 62
3.2.1. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng từ năm 2006 đến năm 2010 ................................................ 62
3.2.2. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở Tuyên
Quang từ năm 2006 đến năm 2010 ........................................................... 66
3.3. Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong việc thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Tuyên Quang từ năm 2006
đến năm 2010 ............................................................................................... 79
3.3.1. Những thành tựu đạt được .............................................................. 79
3.3.2. Những hạn chế ................................................................................ 82
3.3.3. Bài học kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh t
rong lañ h đa ̣o thực
hiê ̣n chin
́ h sách dân tô ̣c của Đảng ở tin̉ h Tuyên Quang từ năm
2006
đến năm 2010 ............................................................................................ 85
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 87
KẾT LUẬN ..............................................................................................................89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................92
5
QĐ
Quyết định
6
GDP
Gross Domestic Product
STT
(Sản phẩm quốc nội)
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
TTg
Thủ tướng Chính phủ
9
TTLT
Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc là một vấn đề mang tính thời sự diễn
biến hết sức phức tạp trên thế giới. Do đó, việc tìm kiếm hướng đi giải quyết
vấn đề dân tộc luôn được các nhà chính trị và khoa học quan tâm.
Ở Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vấn đề dân tộc
chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đường lối của Đảng ở các thời kỳ.
Tính chất dân tộc là một vấn đề xã hội mang tính đặc thù thể hiện rõ quan
điểm của Đảng và nhà nước. Mức độ hiện thực hóa chính sách dân tộc trong
cuộc sống tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có năng lực cụ thể hóa và tổ
chức thực hiện của tổ chức Đảng và chính quyền từng địa phương. Do đó,
nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương sẽ cho thấy
tính lịch sử, cụ thể của quá trình chuyển tải và thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng vào thực tiễn của mỗi đơn vị hành chính lãnh thổ.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc có 22 dân tộc cùng sinh
sống, cư trú xen kẽ: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Thái,
Mông… Các dân tộc thiểu số chiếm 55,8% trong tổng số dân cư toàn tỉnh.
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh đã gắn
bó, đoàn kết với nhau tạo thành một khối thống nhất trong đa dạng về văn hóa
tộc người. Với đặc điểm kết cấu dân cư nêu trên, việc lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chức năng lãnh đạo
của Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Tuyên Quang qua các thời kì lịch sử.
Thực hiện tốt chính sách dân tộc mới củng cố được khối đại đoàn kết toàn
dân, giữ vững ổn định chính trị, phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Trong suốt tiến trình lịch sử, Đảng bộ và chính quyền các cấp trong
tỉnh Tuyên Quang rất coi trọng công tác lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
như: xóa đói giảm nghèo, định canh định cư, phát triển kinh tế, chăm lo đời
sống của nhân dân, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, củng
8
hiện nay của Phan Hữu Dật (nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)… Đây là
những nghiên cứu tổng hợp với những nhận định khái quát về đặc điểm địa lý
- văn hóa - xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam.
- Một số công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta như : Chính sách và chế độ pháp lý đối với đồng bào dân tộc và miền
núi - Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ( nxb.
Chính trị quốc gia , Hà Nội,1996). Đây là những tài liệu cơ bản cung cấp cho
cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức đúng, hiểu được những nội dung cơ
bản nhất về dân tộc và quan hệ dân tộc cũng như chính sách dân tộc đúng đắn
nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
- Những tác phẩm về dân tộc hoặc về các dân tộc ở từng địa phương
cụ thể như: Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ (nxb. khoa học , Hà Nội ,
1964), người Dao ở Việt Nam của Bế Viế t Đẳ ng (nxb. Khoa học xã hội , Hà
Nội, 1971)…
Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò to lớn và sự
đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện chính
sách đối với các dân tộc thiểu số qua các thời kì cách mạng dân tộc. Những
công trình nêu trên là những nguồn tư liệu cung cấp cơ sở thực tiễn và cách
tiếp cận về chính sách dân tộc và tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở
nước ta.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập một cách
đầy đủ, có hệ thống vấn đề “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng ở tỉnh Tuyên Quang từ năm 2001 đến năm 2010” dưới góc độ tiếp
cận của khoa học Lịch sử Đảng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn hướng tới làm rõ
quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Tuyên Quang giai đoạn 2001 - 2010
đói giảm nghèo, phát triển kinh tế); Chính sách chăm lo giáo dục, đào tạo y tế;
Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Chính sách cán bộ
dân tộc thiểu số.
11
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Các văn kiện kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, quan điểm đường lối chủ trương
của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc. Các
văn kiện Đảng, nhà nước và Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. Báo cáo của các cơ
quan ban ngành trong tỉnh, những công trình nghiên cứu của các tác giả liên
quan đến đề tài luận văn, niên giám thống kê hàng năm của trung ương và
địa phương.
- Sự tổng kết của Đảng Cộng sản Việt Nam: rút kinh nghiệm đề ra
đường lối, chủ trương chính sách dân tộc ở nước ta. Sự tổng kết đó được phản
ánh trong các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X. Một số Nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương (BCH TW): Nghị quyết BCT: về vấn đề
phát triển nông nghiệp ở miền núi số 71 - NQ/TW ngày 23-02-1963, Nghị
quyế t số 22 - NQ - TW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị (BCT) về một số
chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi, nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng khóa IX về công tác dân tộc.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp chủ
yếu là phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, tổ ng hơ ̣p, phân tích và so sánh.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Cung cấp một cách khách quan, toàn diện tình hình thực hiện chính
sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang trên tấ t cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế , văn
hóa, xã hội…
- Là tài liệu tham khảo và nghiên cứu về địa phương một cách cụ thể ,
có những nhận định khách quan, có hệ thống.
ương Đảng đã ở và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng
lợi; là Thủ đô Kháng chiến, nơi Đảng tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ II trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều tên đất, tên người
Tuyên Quang gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, gắn
liền với những hình ảnh và kỷ niệm sâu đậm về Bác Hồ kính yêu đang được
lưu giữ và sống động trong lòng nhân dân cả nước. Tuyên Quang thực sự
xứng đáng là Thủ đô khu giải phóng và Thủ đô Kháng chiến.
Ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa III) ra Nghị
quyết số 247-NQ/TW về việc bỏ khu hợp tỉnh. Thực hiện chủ trương của Bộ
Chính trị, tại kỳ họp thứ hai, ngày 27-12-1975,Quốc hội khóa V quyết định
hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên [1, 13].
Ngày 12-8-1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đã quyết định chia tỉnh
Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Từ ngày 1-10-1991 hai tỉnh
Hà Giang và Tuyên Quang chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính
mới [1, 191].
Như vậy, sau 16 năm hợp nhất với tỉnh Hà Giang, năm 1991 tỉnh
Tuyên Quang được tái lập với diện tích tự nhiên 5.800,9 ha; dân số 598.050
người, gồm 22 dân tộc, 90% dân số sống ở nông thôn. Tỉnh có 6 đơn vị hành
14
chính, gồm thị xã Tuyên Quang và các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm
Yên, Yên Sơn và Sơn Dương. Đơn vị hành chính cấp cơ sở có 3 phường, 7 thị
trấn, 135 xã (trong đó có 36 xã vùng cao). Toàn Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
có 21.002 đảng viên, sinh hoạt trong 394 tổ chức cơ sở Đảng [1, 192-193].
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có toạ độ địa lý 21030'- 22040'
vĩ độ Bắc và 104053'- 105040' kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội 165 km.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.868 km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước;
phía bắc giáp Hà Giang, phía nam giáp Phú Thọ, phía đông giáp Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc, phía tây giáp Yên Bái. Các đường giao thông quan trọng
ngữ Tày - Thái gồm các dân tộc Tày, Thái, Nùng, Giáy, Bố Y; nhóm ngôn
ngữ hỗn hợp gồm các dân tộc La Chí, Cơ Lao, Pu Péo [18, 139-142].
Kết cấu dân tộc ở Tuyên Quang : Theo kết quả điều tra ngày 1-4-1999,
tỉnh Tuyên Quang có 676.174 người. Trong đó dân số trong độ tuổi lao động
là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 22 dân
tộc cùng sinh sống. Ðông nhất là dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm
48,21%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 172.136 người, chiếm
25,45%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 11,38%; dân tộc Sán Chay có
54.095 người, chiếm 8,0%; dân tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,16%; dân
tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,90%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người,
chiếm 1,62%; các dân tộc khác chiếm 1,28%. Các dân tộc sống xen kẽ,phân
bố không đồng đều trong các bản làng, tập trung đông ở các xã miền núi,
vùng sâu, vùng xa. Toàn tỉnh còn 52 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn [34, 2].
Tuyên Quang vừa là cái nôi, điểm hội tụ văn hóa đặc sắc của các dân
tộc thiểu số trong vùng vừa là nơi giao lưu hội nhập với nền văn hóa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng.
Văn hóa tinh thần của các dân tộc phong phú với nhiều thể loại truyện cổ tích,
truyện thỏ, ca dao, tục ngữ... Mỗi dân tộc có tiếng nói, trang phục riêng,
những phong tục tập quán riêng trong việc cưới, tang, thờ cúng, lễ hội...
Tuyên Quang chính là hình ảnh thu nhỏ của vùng văn hóa Việt Bắc. Những
giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh thể hiện trong đời
sống tinh thần khá rõ nét. Đó là những quan niệm và cách giải thích về vũ trụ,
16
các nghi lễ như: Thờ cúng tổ tiên, cúng chữa bệnh, cưới hỏi... Đồng bào các
dân tộc thiểu số đã tạo dựng được một kho tàng dân ca, dân vũ hết sức phong
phú, đặc sắc như làn điệu then, cọi, quan làng (dân tộc Tày), páo dung (dân
tộc Dao), sình ca (dân tộc Cao Lan), soọng cô (dân tộc Sán Dìu)… Về lễ hội,
có nhiều sắc thái văn hóa rất đặc trưng và đa dạng, tiêu biểu là những lễ hội
của huyện Chiêm Hóa và Sơn Dương. Chăn nuôi gia súc,gia cầm của tỉnh
cũng được đẩy mạnh, Tuyên Quang là tỉnh có đàn trâu lớn của vùng, chăn
nuôi lợn được đầu tư, những trang trại gà, vịt của các hộ sản xuất có qui mô
lớn phát triển.
Lâm nghiệp: Đến năm 1996 Tuyên Quang có 220.616 ha rừng tự nhiên,
có 60.898 ha rừng trồng [1, 278]. Những năm 1997-2000, tỉnh đã tập trung
lãnh đạo tiếp tục đẩy mạnh trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện
các biện pháp quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng.
Công nghiệp: Tỉnh ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm
sản, khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển điện
lực. Tỉnh ủy đã chỉ đạo khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển,
xây dựng khu công nghiệp Long - Bình - An của tỉnh tạo điều kiện giải quyết
việc làm cho người lao động trong tỉnh nhà.
Giáo dục đào tạo của tỉnh ngày càng được quan tâm, nâng cấp với hệ
thống giáo dục từ mầm non tới phổ thông, được phổ cập trong toàn tỉnh đáp
ứng việc đến trường học của con em các dân tộc trong tỉnh. Các trường đào
tạo nghề của tỉnh được đầu tư, phát triển như: Trường cao đẳng Tuyên Quang,
trường trung cấp kinh tế, trung cấp y Tuyên Quang, trường cao đẳng nghề
Tuyên Quang. Giáo dục được đẩy mạnh đáp ứng được nguồn nhân lực có
trình độ, chuyên môn của tỉnh trong tất cả các nghành nghề.
Bước vào thời kỳ đổi mới, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân các dân tộc
Tuyên Quang phát huy những thế mạnh của tỉnh, nắm bắt thời cơ, thuận lợi,
tích cực chủ động đẩy lùi khó khăn, thách thức để xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội.
18
Tuy nhiên, Tuyên Quang cũng gặp một số khó khăn lớn: là tỉnh miền
1.2. Chính sách dân tộc của Đảng và quá trình thực hiện ở Tuyên
Quang trước năm 2001
1.2.1. Chính sách dân tộc của Đảng trước năm 2001
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống, kề vai sát
cánh với nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Các dân tộc thiểu
số nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng
về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Đồng bào các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây
dựng đất nước. Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự đa
dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc
có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên những quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,
Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ
bản là: "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển".
Bình đẳng giữa các dân tộc: Đây là nguyên tắc cơ bản trong chính sách
dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tất cả các dân tộc đều bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ. Quyền bình đẳng được đảm bảo trong mọi lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Bình đẳng là nguyên tắc, là động lực to lớn
cho khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng bền vững.
Đoàn kết các dân tộc: Các dân tộc đều là những thành viên, hợp thành
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Không phân biệt dân tộc đa số hay dân
tộc thiểu số. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam là sức mạnh đoàn kết. Đoàn kết
các dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm; chống chọi với thiên nhiên khắc
nghiệt; xây dựng và bảo vệ Chủ nghĩa xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế.
Tương trợ giúp nhau cùng phát triển: Tương trợ giúp đỡ nhau để các
dân tộc cùng phát triển, hỗ trợ, học tập để phát triển; tương trợ giúp nhau
đẻ trong giáo dục ở các địa phương thiểu số.
21
Hiến pháp năm 1959 khẳng định: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là
một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt
Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vu gìn giữ
và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi khinh miệt, áp bức,
chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm.
Trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 91960) nêu rõ: “Vấn đề xây dựng kinh tế miền núi là một bộ phận khăng khít của
chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới của cách mạng. Nó đảm
bảo cho miền núi dần dần tiến kịp miền xuôi, cho các dân tộc thiểu số tiến kịp
dân tộc Kinh, thực hiện đầy đủ sự bình đẳng và tăng cường đoàn kết giữa các
dân tộc.” Đại hội cũng đã ra Nghị quyết nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng
ta, các dân tộc đa số và thiểu số có một truyền thống đoàn kết anh em, Đảng và
Nhà nước cần phải có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn
hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến
kịp các dân tộc đa số,giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả
năng to lớn của mình. Trong cán bộ cũng như nhân dân, cần phải khắc phục tư
tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân
tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” [10, 192-193].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng đã đưa ra quan điểm về
vùng núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc trong thời
kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội chỉ rõ: Giải quyết đúng đắn
vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách
mạng Việt Nam, “chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền
bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa
bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người và
dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng
động của kẻ thù hòng chia rẽ sự đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, đồng thời
củng cố an ninh, quốc phòng nước nhà, giữ gìn thế trận chiến tranh nhân dân,
bảo vệ Tổ quốc.
Tại Đại hội VI của Đảng, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm tình hình mọi mặt và đề ra
23
đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong quá trình đi lên của cách
mạng Việt Nam. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chính
sách dân tộc của Đảng được khẳng định trong Báo cáo Chính trị của Đại hội:
“Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực
nhạy cảm. Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ thận
trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân
tộc của mỗi người. Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân
tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hep hòi” [12, 98].
Về chính sách dân tộc, Đại hội xác định: “Sự nghiệp đẩy mạnh ba cuộc
cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác
nghiên cứu về dân tộc học và điều tra xã hội học,hiểu biết đầy đủ những khác
biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hóa và
thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc, tránh những hình thức tổ chức không
phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở
những vùng dân tộc” [12, 97].
Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc
thiểu số: “Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết
hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để
khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào
dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh định cư, ổn định sản
xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng
căn cứ cách mạng và kháng chiến” [12, 97].
VII của Đảng xác định : "Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân
tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát
huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá ở các vùng dân tộc
thiểu số phải phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc; bảo
đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để
làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo về đất nước.
Tôn trọng tiếng nói và chữ viết đối với các dân tộc" [14, 77].
25
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nêu: Vấn đề dân tộc có vị
trí chiến lược lớn. Thực hiện "bình đẳng, đoàn kết, tương trợ" giữa các dân
tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: “Dành
nguồn lực thích đáng cho việc giải quyết những nhu cầu cấp bách, đặc biệt là
về kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, để những vùng còn kém phát triển, nhất
là các vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu,
vùng căn cứ cách mạng có bước tiến nhanh hơn, dần dần giảm bớt sự chênh
lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế- xã hội giữa các vùng” [15, 80].
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Khoá IX về công tác dân tộc đã
xác định: Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,
lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp
nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Phát triển toàn
diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng
dân tộc và miền núi gắn với tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã
hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn
nhân lực; chăm lo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những
của Hội đồng Chính phủ về cuộc vận động định canh, định cư kết hợp xây
dựng phong trào hợp tác hóa đối với đồng bào du canh, du cư, toàn tỉnh đã ổn
định sản xuất và đời sống cho hàng chục vạn người. Quá trình vận động định
canh, định cư kết hợp với hợp tác hóa đã tạo nên những biến đổi quan trọng
về kinh tế - xã hội ở nhiều vùng, góp phần mở mang kinh tế - văn hóa, củng
cố chính quyền cơ sở, quốc phòng, an ninh ở vùng cao của tỉnh, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, công tác định canh, định cư của
tỉnh vẫn còn những vấn đề bất cập, tình trạng du canh, du cư và định cư
nhưng du canh vẫn còn, tệ phá rừng làm nương rẫy chưa được ngăn chặn triệt
để, ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng trên
địa bàn tỉnh.
27