ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THỊ CÚC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THỊ CÚC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lâm Bá Nam
Hà Nội - 2014
Nguyễn Thị Cúc
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................11
1. Tính cấp thiết của đề tài ...........................................................................11
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu...............................................................33
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................10
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................10
7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ...............................................10
7
6. Đóng góp của luận văn .............................................................................11
11
7. Kết cấu của luận văn.................................................................................11
11
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC, CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI.....................
12
1.1. Các khái niệm chung....................................................................
12
1.1.1. Khái niệm dân tộc, chính sách, chính sách dân tộc, công tác
dân tộc....................................................................................................
12
34
Tiểu kết chương 1..................................................................................
37
Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
HIỆN NAY...........................................................................................
38
2.1. Các dân tộc ở Đồng Nai - Những nhân tố ảnh hưởng tới việc
thực hiện chính sách dân tộc...............................................................
38
2.2. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai...............................................................................................
41
2.2.1. Những kết quả đạt được...............................................................
41
2.2.2. Những hạn chế và vấn đề đặt ra...................................................
PHỤ LỤC ẢNH...................................................................................
97
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong mỗi bước
đi của cách mạng Việt Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số đã luôn cùng đồng
bào cả nước một lòng thủy chung, son sắt theo Đảng và Bác Hồ, cống hiến
công sức, xương máu cho sự nghiệp cách mạng và giành được nhiều thắng lợi
vĩ đại.
Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc với dân số 85.846.997 người, trong
đó dân tộc Kinh có 73,594 triệu người (chiếm 85,7%) và các dân tộc còn lại
có 12,253 triệu người (chiếm 14,3%) [53]. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính
thống, đồng thời là phương tiện gắn kết cộng đồng quốc gia dân tộc. Các dân
tộc thường cư trú đan xen, không có lãnh thổ riêng, không đồng đều về dân
cư và dân tộc đều có ngôn ngữ, bản sắc văn hóa riêng, cùng nhau tạo dựng
nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, phong phú và đậm đà bản
sắc dân tộc. Các dân tộc đều có truyền thống đoàn kết, gắn bó với nhau lâu
đời trong quá trình dựng nước và giữ nước, với truyền thống yêu nước nồng
nàn, ý chí kiên cường, bất khuất.
Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta với nỗ lực của các cấp,
các ngành và đồng bào các dân tộc trong cả nước, đặc biệt là từ khi triển khai
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, Khóa IX về công tác dân tộc, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng thể hiện trên mọi
lĩnh vực của đời sống - xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế và trong
nước hiện nay, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ
hào hùng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ suốt trong các cuộc kháng chiến
của dân tộc đã góp phần làm cho Đồng Nai anh hùng trong kháng chiến và
năng động trong thời kỳ đổi mới. Vì vậy, việc thực hiện chính sách dân tộc là
2
một vấn đề được các cấp, các ngành quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Đồng
Nai, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội
và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số.
Trong những năm qua, việc chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số thông qua việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nguồn lực Nhà nước đầu
tư trên các lĩnh vực tăng, nhiều chủ trương chính sách được thực hiện và đạt
được những kết quả đáng phấn khởi trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã
hội, an ninh quốc phòng, góp phần làm chuyển biến đời sống đồng bào các dân
tộc thiểu số. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh, đời sống kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khoảng cách nhất định, còn gặp
nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp. Việc thực hiện chính sách dân tộc
trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của
việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm đảm bảo
nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển [34].
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính trị
học, nhằm làm sáng tỏ những thành công, hạn chế, rút ra những bài học kinh
nghiệm trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở Đồng Nai hiện nay, đề xuất
những giải pháp chủ yếu để tiếp tục việc thực hiện chính sách dân tộc tốt hơn
nữa trong thời gian tới.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn được
dân cư, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm
từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời kiến nghị
những giải pháp sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc.
4
+ Lê Ngọc Thắng (2005), “Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết các dân
tộc”. Cuốn sách đã trình bày hệ thống tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, qua đó giúp người đọc nắm vững nguyên tắc cơ bản của Người về
trong thực hiện chính sách dân tộc đó là đại đoàn kết dân tộc, đồng thời vận
dụng một cách có hiệu quả về tư tưởng đoàn kết các dân tộc trong gia đoạn
hiện nay- thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (2006), Những vấn đề cơ bản về
chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay”. Cuốn sách giúp người đọc nắm được
những vấn đề cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc; có cái nhìn hệ thống
về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ từ 1930 đến
nay; tổng kết, phân tích sâu sắc những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện
chính sách dân tộc như sự tranh chấp nguồn lợi và sự xung đột dân tộc, vấn đề
nghèo đói, hoạt động của các thế lực thù địch… Đặc biệt là, từ những kiến
giải về thực tiễn, các tác giả đã bước đầu đưa ra những quan điểm, giải pháp
góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc ở nước ta.
+ Hoàng Chí Bảo (2009) Đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác
giữa các dân tộc. Nội dung cuốn sách nêu rõ những lý luận mới về dân tộc,
quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, qua đó đánh giá thực trạng tình hình
kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giải
quyết các vấn đề dân tộc, các quan hệ dân tộc, tạo sự công bằng, bình đẳng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta hiện nay.
+ Lê Đại Nghĩa, Dương Văn Lượng (2010), Dân tộc và chính sách dân
tộc ở Việt Nam, Cuốn sách cung cấp cho người đọc những thông tin: Khẳng
thực trạng và đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm cải thiện đời sống cho
đồng bào dân tộc thiểu số.
+ Vụ Chính sách dân tộc- Ủy ban Dân tộc (2009), Xây dựng và tổ chức
thực hiện chính sách dân tộc”, Cuốn tài liệu tham khảo cho cán bộ công tác
dân tộc. Tài liệu này rất hữu ích cho những cán bộ nghiên cứu, hoạch định và
quản lý thực hiện chính sách dân tộc và những người quan tâm đến công tác
6
dân tộc. Qua cuốn tài liệu, cung cấp cho người đọc những thông tin cập nhật
về xây dựng, tổ chức triển khai, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện chính
sách dân tộc được trình bày dưới dạng hệ thống theo quy trình.
+ Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc (2010), Các chuyên đề nghiên cứu
khoa học năm 2007 - 2008 của Viện Dân tộc. Cuốn sách bao gồm các chuyên
đề nghiên cứu của các tác giả về các lĩnh vực khác nhau trong việc xây dựng,
thực hiện chính sách dân tộc, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, phát
triển bề vững và các vấn đề mới đang đặt ra ở vùng dân tộc thiểu số. Cuốn
sách là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong lĩnh vực công tác dân tộc.
+ Bùi Minh Đạo (2012), Thực trạng phát triển các dân tộc ở Trung bộ
và một số vấn đề đặt ra. Tác giả trên cơ sở khảo sát thực địa từ năm 2007 2010 tại các tỉnh Trung Bộ làm sáng tỏ thực trạng phát triển các dân tộc của
vùng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần phát triển bền vũng các dân tộc
Trung bộ.
+ Nguyễn Văn Nam chủ biên (2010), Vấn đề giao đất, giao rừng và
định canh, định cư vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Cuốn
sách góp phần phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những
thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng
và định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, từ
đó đề ra phương hướng và các giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm tiếp tục thực
hiện có hiệu quả hơn chính sách giao đất, giao rừng và định canh, định cư
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
+ Nguyễn Đăng Thành (2011), Một số vấn đề phát triển nguồn nhân
lực dân tộc thiểu số cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
+ Thanh Bình (2012), Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Cao Bằng,
Tạp chí Dân tộc, số 143.
+ Nguyễn Quang Hải, Hoàng Phương Liên (2012), Một số đề xuất thực
hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu
số, Tạp chí Dân tộc, số 143.
8
- Những công trình nghiên cứu có liên quan đến Đồng Nai:
+ Huỳnh Văn Tới (1999), Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai. NXB.
Đồng Nai. Cuốn sách là tập hợp các bài viết về các vấn đề liên quan đến việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai, trong đó có đồng
bào dân tộc thiểu số.
+ Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng, Phan Xuân Biên (2005), Văn hóa
Đồng Nai (Sơ thảo), NXB. Đồng Nai.
+“35 năm cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân Đồng Nai (1975 2010): Diện mạo mới trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số” của tác giả
Quỳnh Anh.
+“Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Để Đồng
Nai phát triển bền vững” của tác giả Phương Hằng (Báo Đồng Nai).
+ “Mức sống dân cư những xã đặc biệt khó khăn tỉnh Đồng Nai năm
2004” NXB. Đồng Nai, 2005.
+ Địa chí Đồng Nai.
Ngoài các công trình, bài nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý
về chính sách dân tộc của nước ta, còn có rất nhiều báo cáo về việc thực hiện
chính sách dân tộc của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai và của các
Sở, Ban ngành có liên quan. Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào
nghiên cứu trực tiếp về Thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh
chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2003 đến nay (sau khi
có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh về thực hiện chính sách dân tộc, những chủ trương chính sách của Đảng
bộ và UBND tỉnh Đồng Nai về thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn.
10
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp chuyên ngành của
Chính trị học như phân tích hệ thống chính trị, phân tích cấu trúc, chức năng,
phân tích chính sách,… và các phương pháp liên ngành khác: tổng hợp, thống
kê, so sánh…
+ Đặc biệt là phương pháp phân tích hệ thống chính trị. Nghiên cứu
chính sách với tư cách là đầu ra của hệ thống chính trị, trong trường hợp một
chính sách có tính ưu tiên đối với một đối tượng đặc thù. Nghiên cứu việc
thực hiện chính sách dân tộc đối với các tộc người thiểu số là nghiên cứu một
quá trình chính trị, đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của các thể chế nhà nước
và thể chế chính trị, năng lực của các cơ quan công quyền trong việc thực
hiện chính sách dân tộc và năng lực thu hút sự tham gia của người dân và các
quá trình chính sách.
6. Những đóng góp của luận văn
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành công và hạn chế, các nguyên
nhân trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở Đồng Nai, qua đó có đề xuất,
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc.
- Kết quả đạt được của luận văn có thể có ý nghĩa gợi ý cho việc nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc
người, như người Thái hay dân tộc Thái, người Ê đê hay dân tộc Ê đê, người
Khmer hay dân tộc Khmer … Tuy nhiên, từ người còn có ý nghĩa rộng lớn
hơn, chỉ cư dân của một quốc gia dân tộc như người Việt Nam, người Pháp,
người Đức, người Nga…
12
Khái niệm dân tộc, theo nghĩa cộng đồng tộc người, không phân biệt
trình độ phát triển, đa số hay thiểu số, sống ở phạm vi quốc gia nào, bao gồm
các đặc điểm lớn nhất, đó là: chung ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa và ý thức tự
giác tộc người. Với tộc người, không có vấn đề lãnh thổ tộc người nhưng lại
nổi lên vấn đề tâm lý, tính cách, ý thức tự giác tộc người, nó gắn liền bền chặt
với tính đặc thù của văn hóa tộc người [5, tr.51].
Theo nghĩa rộng, dân tộc chỉ cộng đồng người cùng sinh sống trong
một quốc gia, một nước, như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức,
dân tộc Nhật, dân tộc Nga… nhằm chỉ cộng đồng cư dân của một quốc gia
nhất định, bao gồm nhiều dân tộc, nhiều tộc người. Ngày nay, hầu như tất cả
các quốc gia trên thế giới đều là quốc gia đa dân tộc.
Như vậy khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là
cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc
gia. Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết hữu
cơ với nhau. Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân
tộc (tộc người) đang sinh sống ở nước ta hoặc ngược lại, khi nói đến các dân
tộc ở Việt Nam, không thể không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong
phạm vi nhiên cứu của luận văn, khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ
nhất (tộc người) hay dân tộc thiểu số.
- Khái niệm chính sách:
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, chính sách (chính sách công) là
quyết định của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích,
cách thức và chế định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết
lược từ bên ngòai để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và quyền sống của mình. Đó
là sự nghiệp chung, thành quả chung của tất cả các tộc người, các thế hệ tộc
người hợp thành dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, với một lãnh thổ
thống nhất, một nhà nước thống nhất, một sự gắn bó đoàn kết giữa tộc người
Kinh (dân tộc đa số) với các tộc người thiểu số khác cùng có lợi ích chung, ý
14
chí và nguyện vọng chung, đó là tồn tại và phát triển trong độc lập, tự do,
trong bình đẳng và hợp tác.
Cộng đồng dân tộc Việt Nam ngày nay đang đổi mới để phát triển,
công cuộc đổi mới này đang có sự nhập cuộc, tham gia đóng góp của các tộc
người, tất cả mọi vùng, mọi miền trong cả nước. Thời cơ và thách thức đang
đặt ra với tất cả, từ dân tộc Kinh là dân tộc đa số đến 53 dân tộc thiểu số khác.
Mục tiêu của đổi mới “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
đã quy tụ mọi nỗ lực và khả năng sáng tạo của từng tộc người, lợi ích của
từng tộc người nằm chung trong lợi ích của cả quốc gia - dân tộc.
Do đó có thể thấy, chính sách dân tộc ở nước ta phải là chính sách có
đủ sức tạo ra sự tương tác xã hội để giải quyết có hiệu quả các mối quan hệ
dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người, giữa cái chung và những cái riêng,
giữa tính chung - phổ biến với những cái riêng - đặc thù [5, tr.89]. Dân tộc
Việt Nam có phát triển mạnh mẽ, có chấn hưng mạnh mẽ thì mỗi tộc người
thiểu số mới có được triển vọng và môi trường cho sự phát triển của riêng
mình, không chỉ tồn tại mà còn sống và sáng tạo, nhất là bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa tộc người. Cũng do đó, thực tiễn lịch sử và thực tiễn phát
triển dân tộc được lấy làm cơ sở cho tư duy về chính sách dân tộc đòi hỏi phải
thấu hiểu đặc điểm tộc người và giá trị truyền thống, đồng thời thấu hiểu
những đòi hỏi, những vấn đề đặt ra trong hiện tại, mà bức xúc hiện nay là đưa
đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, hỗ trợ phát triển, thúc đẩy sự
dân cảm nhận được rõ hơn tính triển vọng trong phát triển, rằng chính sách vì
mình, làm lợi cho mình - đó là tính cần thiết phải đạt tới của chính sách, từ
khi cân nhắc, trù tính đến khi thực hiện và đánh giá.
Chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số chỉ có tác dụng khi người
dân thấy được kết quả của nó, mà lợi ích và nhu cầu của người dân được đáp
ứng. Một khi, qua cuộc sống thực tế với những sự kiện, hiện tượng có thể so
sánh được, nếu người dân cảm thấy mình và cộng đồng của mình bị thua thiệt
16
trong phát triển thì đó là đầu mối của những diễn biến tâm lý tự ti, mặc cảm,
thậm chí có thể phản ứng và xung đột ở những tộc người thiểu số. Từ cái nhìn
đa chiều, các vấn đề kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội, tâm lý - ý thức, đạo
đức - văn hóa mà nội dung chính sách bao chứa, có thể thấy rõ, chính sách
dân tộc dường như là cả một tập hợp lớn các chính sách và giải pháp, các
nguyên tắc và chuẩn mực ứng xử, sự đan xen giữa cái bức xúc, cấp thiết với
cái cơ bản lâu dài, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong thụ hưởng lợi ích với sự
tham gia đóng góp vào hoạt động chung, công việc chung để cùng làm ra
những vật phẩm, sản phẩm, giá trị tạo thành lợi ích, nhờ đó mà từng thành
viên và cả cộng đồng tồn tại và phát triển [5, tr.92].
Có thể nói, vấn đề dân tộc là vấn đề chính trị lớn, đòi hỏi việc giải
quyết phải vừa chuẩn xác vừa tinh tế, bởi đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm,
nó liên quan tới quan hệ dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người. Tùy thuộc
chính sách dân tộc đúng hay sai, việc thực hiện chính sách đó tốt hay xấy,
thuận lòng dân hay không thuận lòng dân mà vấn đề dân tộc được giải quyết
sẽ thúc đẩy ổn định và phát triển hay dẫn tới những hệ quả, tình huống xấu có
thể tiềm tàng hoặc bộc lộ ra.
Vậy thực chất của chính sách dân tộc là gì?
Chính sách dân tộc (politique nationale) thực chất là chính sách phát
loại chính sách tổng hợp, bao quát trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, bảo vệ
môi trường sinh thái. Chính sách dân tộc đúng đắn không những thúc đẩy
kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa của đồng bào các dân
tộc thiểu số, mà còn là một phương hướng tích cực nhất, chủ động nhất, có
hiệu quả nhất đối với các âm mưu, hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc, củng cố thế trận an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ.
18
1.1.3. Vai trò của chính sách, chính sách dân tộc
- Vai trò của chính sách
Nhà nước thực thi chức năng quản lý không chỉ bằng pháp luật mà còn
bằng chính sách, cơ chế và các quy định thành văn mang tính thể chế và các
chế tài tương ứng khác nhằm đạt được những mục tiêu phát triển, vì lợi ích
chính đáng, hợp pháp của công dân và của cộng đồng xã hội nói chung. Do
đó, chính sách là một trong những công cụ, phương tiện cần thiết của quản lý
nhà nước. Việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách vừa phản ánh nội
dung hoạt động quản lý nhà nước, vừa nói lên trình độ, năng lực cũng như
hiệu lực thực tế của nhà nước.
Mặt khác, những mục tiêu chính sách đạt tới, kết quả thực hiện và hiệu
quả thụ hưởng chính sách của các đối tượng nhất là đối với dân chúng, đó là
những căn cứ quan trọng để để đánh giá một cách thực tế bản chất của nhà
nước, của chế độ xã hội nói chung. Thông qua chính sách và thực hiện chính
sách có thể đo lường được không chỉ trách nhiệm chính trị - xã hội của nhà
nước đối với các công dân và cộng đồng nhân dân, cộng đồng dân tộc của
mình mà còn thấy rõ trình độ phát triển của dân chủ, vị thế và năng lực làm
chủ của dân - đối tượng quan trọng bậc nhất mà nhà nước phục vụ.