LUẬN văn THẠC sĩ LỊCH sử ĐẢNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc TRÊN địa bàn TỈNH BÌNH PHƯỚC từ năm 1997 đến năm 2005 - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có 54 thành phần dân tộc sinh sống. Mỗi
thành phần dân tộc có lối sống, tập tục và bản sắc riêng, tạo nên sự phong
phú, đa dạng về văn hoá tộc người.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và quan hệ dân tộc, đề ra chính
sách nhằm đoàn kết các dân tộc anh em trong cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Vấn đề dân
tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách
mạng nước ta” [45, trang. 121].
Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế
giới, các thế lực thù địch đang tìm đủ mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn
giáo, nhân quyền để chống phá cách mạng nước ta, vì thế, cần có sự nhận
thức đầy đủ, sâu sắc hơn về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện tốt công tác
dân tộc nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như mục tiêu Nghị quyết
Đại hội X của Đảng đề ra.
Bình Phước là tỉnh miền núi, thuộc khu vực Đông Nam Bộ, là vùng
đệm giữa Tây Nguyên với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ. Tỉnh
có 240 km đường biên giới tiếp giáp với Campuchia, nên có vị trí địa lý,
chính trị, kinh tế và quân sự rất quan trọng đối với khu vực và cả nước.
Bình Phước là nơi cư trú của cư dân 40 thành phần dân tộc. Các tộc
người có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đồng đều. Đồng bào dân


tộc thiểu số đa phần đi theo các tôn giáo khác nhau nên đời sống tinh thần
cũng rất đa dạng và phức tạp.
Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Đảng bộ
tỉnh Bình Phước luôn quan tâm đến việc thực hiện chính sách dân tộc, coi

Đảng cộng sản Việt Nam, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Quá trình thực hiện
chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ năm 1997 đến 2005”
làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xung quanh vấn đề về dân tộc, chính sách dân tộc đã có khá nhiều công
trình, đề tài khoa học đề cập đến ở những góc độ, những hướng tiếp cận
khác nhau, trong đó có những công trình nổi bật như:
- Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc, do tập thể
tác giả của Hội đồng Dân tộc thuộc Quốc hội khoá X biên soạn, Nxb Văn
hoá dân tộc, Hà Nội 2000. Sách tập hợp một cách cơ bản, có hệ thống những
văn kiện của Đảng từ khi thành lập đến năm 2000, các luật và những văn
bản pháp quy của Nhà nước, những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
dân tộc và một số văn bản về hoạt động của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
- Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và
miền núi tổ chức nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 2002. Đây là
cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc của
Đảng ta và những định hướng cơ bản trong việc quy hoạch dân cư, đẩy


mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng
nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đồng thời kiến nghị những giải pháp
nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc.
- Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách đã đề cập đến những quan điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân
tộc và thực hiện chính sách dân tộc. Các tác giả cũng đã nêu ra các đặc điểm
nổi bật của dân tộc Việt Nam và công tác dân tộc cần thực hiện trong sự

địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước”(2001), Luận án Tiến sĩ triết học,
chuyên ngành Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, của tác giả Phạm Công Tâm;
“Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc đối với đảng viên các dân tộc
thiểu số tỉnh Kiên Giang hiện nay” (2001) của tác giả Ngôn Kim Y;“Đảng
bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào
Khơme (1996-2004)” (2005), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của tác giả Nguyễn
Tấn Thời;“Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (từ thực tiễn các tỉnh miền núi phía
Bắc)” (2001) của tác giả Nguyễn Thị Phương Thuỷ; “Các Đảng bộ tỉnh khu
vực Bắc Tây Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1996
đến 2005”, Luận văn Thạc sĩ lịch sử của Phạm Văn Hồ, được bảo vệ năm
2007;“Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Điện Biên trong
giai đoạn hiện nay” (2006), Luận văn Thạc sĩ Triết học của tác giả Vũ
Quang Trọng.
Từ sự nghiên cứu và phân tích thực trạng quá trình thực hiện chính sách
dân tộc, các tác giả đã đề xuất các giải pháp, cũng như rút ra những kinh
nghiệm để thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc trong thời gian tới.


Ngoài ra còn có các báo khoa học nghiên cứu về dân tộc và chính sách
dân tộc của nhiều tác giả được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tạp chí
Lịch sử Đảng, Nghiên cứu lý luận, Cộng sản, Sinh hoạt lý luận, Dân tộc
học… như:
- “Chính sách dân tộc của Đảng đối với các dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Văn Nam, tạp chí Dân tộc số
69, 2006. Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc
trên địa bàn Tây Nguyên, tác giả đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị
nhằm thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc trong thời gian tới.
- “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ở các vùng dân tộc và miền núi, cải
thiện đời sống nhân dân” của Đặng Vũ Liêm trong Tạp chí Quốc phòng

+ Đánh giá những thành tựu và hạn chế, thiếu sót; từ đó, rút ra những
kinh nghiệm thực tiễn có ý nghĩa chỉ đạo trong quá trình thực hiện chính
sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách
dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ năm 1997 đến 2005.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ trung nghiên cứu sự lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng bộ tỉnh Bình Phước đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh Bình Phước từ năm 1997 đến năm 2005.


5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Để thực hiện đề tài, luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng về dân tộc và quá trình thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn
của Đảng bộ tỉnh Bình Phước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgíc. Ngoài ra, còn kết hợp các phương pháp khác như: thống kê, đối
chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp và phương pháp tổng kết thực tiễn.
5.3. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính để thực hiện đề tài là các Nghị quyết của Đảng và
văn bản của Nhà nước về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hoá việc
tổ chức thực hiện các chính sách trên ở Bình Phước. Tham khảo và tiếp thu
có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ việc vận dụng sáng tạo chính sách dân tộc của
Đảng bộ tỉnh Bình Phước, từ đó rút ra những kinh nhiệm có ý nghĩa thực

tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Từ đó cho
đến hết thời Pháp thuộc, bộ máy hành chính cơ bản không thay đổi [32,
trang 8]. Sau năm 1954, trải qua hàng chục năm chiến tranh, vùng đất Bình
Phước bị chia cắt, sáp nhập nhiều lần tùy vào nhu cầu cai trị của thực dân, đế


quốc trong từng thời kỳ lịch sử. Đến ngày 30/01/1971, Trung ương Cục
Miền Nam quyết định thành lập Phân khu Bình Phước. Cuối năm 1972,
Phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập
[32, trang 9].
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, để đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế – xã hội, ngày 2/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ra quyết định thành lập tỉnh Sông Bé bao gồm tỉnh Thủ Dầu
Một, Bình Phước và ba xã thuộc huyện Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh).
Tháng 2/1978, huyện Lộc Ninh được thành lập từ một số xã của huyện
Phước Long và Bình Long; năm 1988, huyện Bù Đăng được thành lập từ
một phần của huyện Phước Long. Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Phước được
tái lập, gồm 5 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé: Đồng Phú, Bình Long, Phước
Long, Bù Đăng, Lộc Ninh, trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài.
Ngày 01/01/2000, thị xã Đồng Xoài chính thức được thành lập và đi vào
hoạt động.
Về điều kiện tự nhiên, Bình Phước có vùng đất đỏ bazan chiếm ½ diện
tích toàn tỉnh, đất đỏ trên đá phiến, đất xám và đất nâu vàng. Vùng đất đỏ
bazan chủ yếu tập trung ở các huyện Lộc Ninh, Bình Long, Bù Đăng và một
phần nhỏ của huyện Đồng Phú, Phước Long.
Bình Phước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa,
trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10
và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Lượng mưa bình quân hàng năm giao
động từ 2.045 đến 2.325mm, được rải đều trong nhiều tháng nên ít khi gây
ra lũ lụt; đặc biệt ở Bình Phước hầu như không bị ảnh hưởng trực tiếp của

Dung, suối Đông, suối Cát…Hệ thống hồ, đập tự nhiên và nhân tạo như hồ
Đồng Xoài, hồ Suối Lam, hồ Suối Giai, hồ Thác Mơ và nhiều bưng, bàu rất


thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, là nguồn dự trữ nước tưới rất lớn cho
mùa khô.
Mặc dù là phụ lưu của sông Đồng Nai nhưng Sông Bé là con sông lớn
nhất chảy trong lãnh thổ của tỉnh, với chiều dài hơn 200km. Ở phía đầu
nguồn, nơi chảy qua vùng cư trú của đồng bào Xtiêng, M’nông, người ta gọi
là sông Đaklung, xuôi về phía Nam đồng bào Kinh gọi là Sông Bé. Ở phía
thượng nguồn sông Bé có một số nhánh sông quan trọng như sông Đakquyt,
ĐakRlap bắt nguồn từ vùng đất đỏ Nam Tây Nguyên và miền Đông Bắc
Campuchia. Sông Bé có độ dốc lớn, hai bên bờ thường dựng đứng, dưới đáy
có nhiều dải đá ngầm nên không thuận lợi cho việc phát triển giao thông
đường thủy, mà chỉ phù hợp cho việc xây dựng các công trình thủy điện, đến
nay trên địa bàn tỉnh đã có 3 nhà máy thủy điện được xây dựng trên Sông
Bé, đó là: thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Sork Phú Miêng.
Do những đặc thù về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu nên trong lòng đất
Bình Phước khá giàu về tiềm năng khoáng sản, đa số là khoáng sản phi kim
loại trong lớp trầm tích phù sa cổ, dễ khai thác, có chất lượng cao và trữ
lượng lớn. Tài nguyên khoáng sản được phân bố rải rác chủ yếu ở vùng phía
Tây và một ít ở trung tâm. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 91
mỏ, điểm quặng, điểm khoáng với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển
vọng khác nhau thuộc 4 nhóm: nguyên liệu phân bón, kim loại, đá quý và
bán đá quý [24, Niên giám thống kê điện tử 2004]. Hiện nay tỉnh mới chỉ
khai thác được một số mỏ đá vôi, đá xây dựng, cát, sỏi, sét gạch ngói nhằm
đáp ứng một phần cho ngành công nghiệp vật liệu xây dựng trong tỉnh, còn
lại các mỏ khác đang tiếp tục được tiến hành thăm dò để có cơ sở đầu tư
khai thác.
Với những lợi thế đó, Đảng bộ tỉnh Bình Phước đã lãnh đạo các cấp,


Tuy có những thuận lợi nêu trên, nhưng Bình Phước cũng đang đứng
trước những khó khăn và thử thách trong quá trình phát triển. Hiện nay,
Bình Phước vẫn là tỉnh nghèo trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, thu
nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung của cả nước; sự
tăng trưởng kinh tế thật sự chưa bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên và thị trường. Cơ cấu kinh tế chưa được cải thiện rõ nét, nông nghiệp
phát triển chưa cân đối, vẫn chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của tỉnh;
công nghiệp, dịch vụ tuy có bước phát triển nhanh nhưng do xuất phát điểm
thấp nên vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ; thu hút đầu tư chưa được nhiều. Tình
trạng di dân tự do, chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng còn diễn biến phức tạp
chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả. Lĩnh vực văn hóa - xã hội còn có mặt
bức xúc như tệ nạn ma túy, mại dâm, tai nạn giao thông, khiếu kiện đông
người… Đời sống của nhân dân vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới và
đồng bào DTTS còn rất khó khăn. Công tác xây dựng Đảng vẫn còn một số
mặt chưa đạt yêu cầu đề ra; tinh thần đấu tranh, phê bình, tự phê bình và sức
chiến đấu của một số tổ chức đảng chưa cao. Trình độ lãnh đạo và năng lực
quản lý của cán bộ còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới.
Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng những thành tựu mà Đảng
bộ, quân và dân Bình Phước đạt được trong thơi gian qua là rất cơ bản và
quan trọng, là tiền đề vững chắc để Bình Phước tiến bước đi lên trên con
đường phát triển và hội nhập của cả nước.
1.2. ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ DÂN TỘC Ở BÌNH PHƯỚC
1.2.1. Sự đa dạng về dân tộc và dân cư
Bình Phước là địa bàn có nhiều thành phần dân tộc sinh sống. Tính đến
năm 2005, toàn tỉnh có cư dân của 41 thành phần dân tộc sinh sống. Ngoài


người Kinh chiếm số lượng đông nhất, còn có hai nhóm dân cư khác: nhóm

với nhiều thú giữ. Đó là địa bàn cư trú của những người Inđônêdiêng cổ đại
nói tiếng Môn-Khơme, họ là tổ tiên của các dân tộc Xtiêng, Mnông, Mạ….
Vì thế, ngôn ngữ của người Xtiêng có nhiều nét gần gũi với ngôn ngũ
Mnông, Cơ Ho, Mạ. Trong số các dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Môn-khơme ở
Tây Nguyên thì Xtiêng là nhóm cư dân có dân số đông hàng thứ ba, sau Ba
na và H’rê và là DTTS đông nhất ở Bình Phước.
Người Xtiêng ở Bình Phước còn có tên gọi là Xơdiêng hay Xa Chiêng.
Đó là một cộng đồng người thống nhất, có ý thức rõ rệt về thành phần tộc
người của mình. Trong tộc người Xtiêng còn có nhiều nhóm địa phương
khác nhau, mỗi nhóm thường cư trú ở một địa bàn nhất định và có những
đặc điểm khác nhau thể hiện ở ngôn ngữ, tập quán và phương thức canh tác..
người Xtiêng có 4 nhóm chính: Bù lơ, Bù đek, Bù Biêk, Bù Lập. Nhưng,
hiện nay chỉ còn tồn tại hai nhóm chính là Bù lơ và Bù đek.
Người Xtiêng Bù lơ thường sống ở miền trên (vùng cao), phân bố ở hầu
khắp các vùng núi rừng xã Đak Ơ, Đak nhau (huyện Phước Long), Thọ Sơn,
Thống Nhất, Đồng Nai (huyện Bù Đăng). Trước đây người Xtiêng Bù lơ
sống ở vùng rừng núi và tách biệt hẳn với người Kinh. Họ cư trú gần gũi và
xen kẽ với người Mnông, người Mạ. Do đó, trong những vùng này đã diễn
ra quá trình hòa nhập giữa người Xtiêng, người Mnông và người Mạ qua
hôn nhân hỗn hợp và trao đổi văn hoá lẫn nhau.
Người Xtiêng Bù đek là người Xtiêng miền dưới, phân bố ở các vùng
đất bằng thuộc huyện Lộc Ninh, Bình Long, Chơn Thành, Đồng Phú, họ đã
biết làm ruộng nước và sử dụng trâu bò, cày bừa để làm ruộng từ trước năm
1945. Người Bù đek sống xen kẽ với người Kinh, người Khơme nên có


những quan hệ lẫn nhau về văn hoá, ngôn ngữ và hôn nhân với hai dân tộc
này [50, trang 47].
Về tiếng nói, hai nhánh Xtiêng này cũng có nhiều khác biệt, có đến
40% từ ngữ của hai nhánh này không giống nhau. Về kiến trúc nhà ở và

trò chi phối nông thôn. Trong xã hội tiểu nông Khơme vào cuối thế kỷ XIX,
ở mỗi làng đều có một vài gia đình thương nhân mà phần lớn thuộc giai cấp
địa chủ. Họ có voi và dùng voi để chuyên chở hàng hóa đi các nơi và vượt
biên giới để buôn bán. Nếu người Xtiêng nuôi trâu là chủ yếu thì người
Khơme nuôi bò chiếm phần lớn. Những đàn bò của người Khơme nuôi
không phải để ăn thịt mà điều chính nhất là để kéo xe. [50, trang 37 - 38].
Đồng bào Khơme ở Bình Phước có hai nguồn lợi chính, đó là buôn bán và
canh tác ruộng nước. Đây là những đặc trưng xã hội của người Khơme đã
tồn tại trước khi người Pháp đặt chân lên vùng đất Bình Phước. Sau khi thực
dân Pháp xâm lược nước ta, chúng đã thực hiện các chính sách ngăn cản sự
buôn bán giữa các vùng của những người Khơme trong nông thôn, làm cho
xã hội Khơme ngày càng mất đi công việc buôn bán, nhất là công việc buôn
bán xa bằng voi đã bị xóa bỏ. Người Khơme chỉ còn biết làm ruộng và khi
ruộng bị Pháp chiếm làm đồn điền thì số đông phải trở lại việc canh tác trên
rẫy, là hình thức canh tác mà lịch sử của họ đã từng trải qua từ xa xưa.
- Dân tộc Tà Mun: Là một nhóm người đặc biệt về những đặc trưng xã
hội và tộc người. Tà Mun, trước hết là một vùng đất cổ giáp giới giữa vùng
Tây Ninh và Sông Bé. Nơi đây, xưa kia có những nhóm Xtiêng sinh sống.
Nhóm Xtiêng này chịu ảnh hưởng sâu sắc lối sống và văn hoá của người
Khơme. Họ đã cùng người Khơme chống thực dân Pháp liên tục và quyết
liệt để bảo vệ vùng đất sinh sống cổ xưa của mình. Để khuất phục ý chí đấu
tranh và bình định nhóm người này, thực dân Pháp đã sử dụng đến tôn giáo.


Vào năm 1927, đạo Cao Đài Tây Ninh đã du nhập vào nhóm người Tà Mun
gốc Xtiêng. Từ những năm 1930 trở đi, một số nông dân Châu Ro làm thuê
ở các đồn điền cao su Biên Hòa, vì chống lại bọn chủ đồn điền nên bị thực
dân Pháp truy nã. Họ đã chạy về phía Tây Ninh nhập vào nhóm Tà Mun và
sống dưới sự che chở, bảo trợ của tòa thánh Cao Đài ở Tây Ninh. Trong
những năm kháng chiến chống Pháp, một số trong những người Châu Ro

thường xuyên. Do địa bàn cư trú biệt lập và ở vùng sâu, vùng xa nên họ ít bị
ảnh hưởng trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
Xã hội người Mạ ở Bình Phước thực sự bị biến đổi (ở một mức độ nhất
định) là kể từ khi có sự tiếp xúc với người Kinh trong hai cuộc kháng chiến,
đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, tính chất cổ sơ của một
xã hội chưa phát triển trong vùng người Mạ vẫn còn được bảo lưu cho đến
những năm 80 của thế kỷ XX.
Xã hội người Mạ được kết cấu trên cơ sở cộng đồng của các dòng họ và
chế độ hôn nhân phụ hệ. Mọi sinh hoạt dân cư trong làng đều tập trung trong
một hoặc vài ngôi nhà dài, là nơi cư trú chung cho tất cả các thành viên
trong làng.
1.2.2.2. Dân tộc Kinh và các dân tộc khác
Dân tộc Kinh hiện nay chiếm khoảng 80% dân số Bình Phước. Những
người Kinh đầu tiên đến cư trú ở Bình Phước là nông dân nghèo, những
người chống đối bọn cường hào, địa chủ ở nông thôn Nam bộ và Nam Trung
bộ, họ bị mất đất canh tác hoặc không chịu nổi sưu cao thuế nặng của triều
đình nhà Nguyễn và sau này là thực dân Pháp nên đã đến vùng đất này để
sinh sống.
Dân tộc Kinh có mặt ở Nam bộ từ thế kỷ XVII, nhưng đến cuối thế kỷ
XVIII, sự tiếp xúc giữa người Kinh và người Xtiêng ở Bình Phước mới diễn


ra tương đối thường xuyên hơn thông qua những binh lính lưu đồn nhà
Nguyễn và gia đình của họ. Những người Kinh này phần đông là dân cư
vùng Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Đầu thế kỷ XIX,
người Kinh đã cư trú tập trung thành từng làng ở khu vực phía Nam của
tỉnh, từ năm 1832 đến 1889, sự gia tăng dân số người Kinh ở Bình Phước
ngày càng rõ rệt.[32, trang 14].
Đến thời thực dân Pháp xâm lược, bọn tư bản Pháp đã cướp những
vùng đất màu mỡ của đồng bào dân tộc thiểu số, lập nên các đồn điền cao

nghiệm cho dân sở tại học tập, là nguồn nhân lực dồi dào, góp phần khai
thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội.
Tuy nhiên, những dân tộc mới đến cũng có những hạn chế nhất định: đa
số họ đều có đời sống rất khó khăn, sinh sống rải rác ở những vùng sâu,
vùng xa, vùng rừng núi, điều kiện đi lại, sản xuất và phát triển kinh tế - xã
hội không thuận lợi; trình độ sản xuất và văn hoá của nhân dân còn rất thấp;
nơi ăn, chốn ở, trường học, cơ sở y tế và giao thông đi lại còn nhiều khó
khăn, thiếu thốn; không có điều kiện được chăm sóc y tế; con em ít có điều
kiện được đến trường, tỷ lệ thất học và mù chữ cao; nhiều hủ tục lạc hậu vẫn
còn tồn tại, tình trạng du canh du cư và phá rừng làm rẫy vẫn còn tiếp diễn;
số hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ lớn…. Đấy cũng chính nơi kẻ thù lợi dụng vấn
đề dân tộc, vấn đề tôn giáo, để dụ dỗ, kích động, lôi kéo nhằm gây chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng nước ta, gây mất ổn định
chính trị, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.


1.3. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở TỈNH
BÌNH PHƯỚC TRƯỚC NĂM 1997
1.3.1. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trong cách mạng dân
tộc dân chủ (trước 30-4-1975)
1.3.1.1. Khơi dậy và củng cố truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc
trong thời kỳ đầu có Đảng lãnh đạo (1930-1945)
Mở đầu cho truyền thống đoàn kết giữa các DTTS và người Kinh ở
Bình Phước là sự tham gia tích cực của họ vào cuộc khởi nghĩa của Trương
Công Định vào nửa cuối thế kỷ XIX. Năm 1862, khi Thực dân Pháp đánh
chiếm 3 tỉnh miền Đông và ráo riết xúc tiến đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây.
Chúng kéo quân về Thủ Dầu Một, Tây Ninh và Biên Hòa hòng áp đặt quyền
thống trị của chủ nghĩa thực dân trong vùng đồng bào Thượng ở địa phương.
Nhưng chúng đi đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của đồng bào

cứu trợ cho những người bị tai nạn… nhờ vậy mà tình đoàn kết Kinh Thượng ngày càng được xây dựng và củng cố vững chắc thêm.
Cuối năm 1929, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở
đồn điền cao su Phú Riềng, ngay từ khi mới thành lập, Chi bộ đã tích cực
hoạt động trong công nhân và đồng bào DTTS, bản thân đồng chí Trần Từ
Bình - Bí thư Chi bộ cũng đã kết nghĩa anh em với một số chủ làng người
dân tộc để vận động họ tham gia chống Pháp. Do đó, cuộc đấu tranh đầu tiên
do Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Phú Riềng lãnh đạo đã giành được
những thắng lợi to lớn.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, ngay
từ những năm đầu mới ra đời, Đảng ta đã rất chú ý đến vấn đề đoàn kết dân
tộc, coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, có ảnh hưởng to lớn đến
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong bản Chương trình hành


động của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 6/1932), Đảng ta đã đề cập
tới những yêu cầu của các DTTS; kêu gọi nhân dân các DTTS hãy đoàn kết
đấu tranh chống lại âm mưu và chính sách chia rẽ dân tộc của đế quốc Pháp.
Trong những năm 1939-1945, Đảng ta đề ra nhiệm vụ phát triển phong trào
cách mạng ở miền núi và xây dựng miền núi trở thành căn cứ địa của cách
mạng cả nước. Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng
11/1939), lần thứ 8 (tháng 5/1941) đều khẳng định tầm quan trọng của công
tác vận động đồng bào các DTTS tham gia cách mạng; chú trọng xây dựng
khối đại đoàn kết các dân tộc, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân
Pháp.
Thực hiện những chủ trương đó, chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng
Phú Riềng đã xây dựng nên các tổ chức đoàn hội như Công hội đỏ, Nông hội
đỏ, Thanh niên xích vệ, hội đá banh… đi sâu vào các buôn, sóc vận động
quần chúng và đồng bào các dân tộc đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong
cuộc sống và trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhờ làm
tốt công tác vận động quần chúng, số đồng bào các DTTS đi theo Đảng, theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status