MỤC LỤC
Tra
ng
MỞ ĐẦU
Chương 1
QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
02
07
MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
1.1
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
07
1.2
Minh về vấn đề dân tộc
Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
17
hiện nay
Chương 2
60
63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm có 54 dân tộc anh em. Các dân
tộc đoàn kết gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Đảng
ta luôn coi vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng
nước ta. Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc, hoạch định và thực hiện có
hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có
những diễn biến phức tạp, vừa mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia, vừa
mang tính toàn cầu. Vấn đề dân tộc luôn là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch
tìm mọi cách lợi dụng để chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc của nhân dân ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi việc hoạch định và thực hiện chính
sách dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam. Quá trình thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong mấy thập kỷ qua đã đạt được nhiều
thành tựu lớn trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng vào thắng lợi của từng thời kỳ
cách mạng. Điều đó khẳng định bản chất và chức năng tốt đẹp của nhà nước xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá, chính sách dân tộc và việc thực hiện chính
sách dân tộc trong thời kỳ mới cũng bộc lộ không ít hạn chế thiếu sót, chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra và sự mong đợi của các đồng bào dân tộc cả nước. Đời sống nhân
khác nhau, kể cả những người làm công tác hoạch định chính sách và quản lý. Có thể
thấy rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu về dân tộc và miền núi đều ít nhiều đề cập
đến vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc nước ta ở những mức độ khác
nhau. Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này đã được
công bố, được tiếp cận dưới các góc độ của các môn khoa học như: Dân tộc học, Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, Sử học... Trong đó, một số công trình chuyên khảo
bàn về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc đã ra đời.
Tập thể tác giả ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện
Hà Nội - Khoa Dân tộc (1995) đã xuất bản công trình: "Vấn đề dân tộc và
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước". Từ góc độ dân tộc học, cuốn
sách đã làm rõ những điều cơ bản nhất của vấn đề dân tộc và chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta trong những năm đổi mới đất nước. Trong cuốn
sách "Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay", GS Trần Quang
Nhiếp (1997) đã phân tích những đặc điểm chủ yếu và thực trạng của quan hệ
dân tộc, những yếu tố tác động, các hình thức biểu hiện quan hệ dân tộc ở
nước ta. Các tác giả Nguyễn Quốc Phẩm và Trịnh Quốc Tuấn (1999) với công
trình "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt
Nam” đã đưa ra sự lý giải về một số khái niệm liên quan đến vấn đề dân tộc
3
và trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Việt Nam hiện
nay. Cuốn sách "Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta" của Ủy
ban Dân tộc và Miền núi (2001) đã trình bày một cách hệ thống các quan
điểm lý luận về công tác dân tộc và nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác
dân tộc nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới.
Gần đây, Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và Miền núi (2002) đã công bố
ấn bản chuyên khảo: "Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và gúp phần thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước trên địa bàn xác định.
Ngoài ra, có nhiều công trình và bài viết của các nhà khoa học, các nhà quản lý
và hoạch định chính sách đánh giá về tình hình và kết quả thực hiện chính sách dân tộc.
Tuy nhiên, cho đến nay, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu nào đề
cập trực tiếp về vấn đề thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên. Với ý nghĩa
quan trọng về lý luận và thực tiễn, vấn đề này cần phải được nghiên cứu dưới góc độ
chính trị - xã hội, tìm hiểu thực trạng và đưa ra những giải pháp cơ bản để nhằm đổi
mới việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên hiện
nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận Má c - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc, khóa luận tập trung phân tích
thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên; từ đó, đề xuất một số
giải pháp nhằm góp phần thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên trong thời
gian tới.
Nhiệm vụ của đề tài
- Hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc; quan điểm, chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
- Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Nêu lên phương hướng cơ bản, những giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian
tới.
yếu nhằm đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, khóa
luận có thể là tài liệu cho các cấp, các ngành của tỉnh Thái Nguyên tham khảo
để thực hiện chính sách dân tộc có hiệu quả đối với vùng đồng bào dân tộc
của tỉnh trong thời gian tới.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu thiết thực góp phần thực hiện chức trách, nhiệm
vụ của người cán bộ chính trị quân đội nói riêng và nhiệm vụ của quân đội nói chung
trên địa bàn Thái Nguyên trong công tác dân vận, tham gia thực hiện chính sách dân
tộc.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
được kết cấu gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta
6
Chương 2: Thực trạng, phương hướng và giải pháp đổi mới việc thực hiện
chính sách dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Chương 1
QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA
ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc
việc thực hiện quyền và lợi ích giữa các dân tộc, các quốc gia dân tộc, nhất là
các quyền cơ bản của các dân tộc: quyền được tồn tại với tính cách là một tộc
người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; quyền dân tộc tự quyết,
quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát
triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa
tộc người, dân tộc.
* Quan điểm của C.Mác – Ph.Ăng ghen về vấn đề dân tộc
Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc được trình bày trong
nhiều tác phẩm nổi tiếng của các ông, nhất là trong "Tuyªn ng«n cña §¶ng Céng
s¶n". C.Mác và Ph.Ăngghen đã kêu gọi: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người
thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng
giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc
cũng đồng thời mất theo” [01, tr. 624].
Theo đó, việc giải quyết vấn đề dân tộc phải luôn gắn với vấn đề giai
cấp và vấn đề nhân loại. Trong cuộc cách mạng của giai cấp công nhân do
Đảng cộng sản lãnh đạo, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc gắn bó mật thiết
với nhau. Giải phóng dân tộc là một trong ba sự nghiệp giải phóng trong sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
giải phóng con người. Chỉ có đấu tranh thủ tiêu giai cấp mới xóa bỏ được nạn
người bóc lột người và tình trạng áp bức dân tộc. Ph.Ăng-ghen chỉ ra rằng,
công nhân tất cả các nước đều giống nhau, lợi ích của họ thống nhất, kẻ thù
8
của họ cũng giống nhau, cho nên họ cần hiệp lực đấu tranh chung và xây
dựng khối liên minh công nhân tất cả các dân tộc đối lập với liên minh giai
cấp tư sản các dân tộc.
mạng. Cho nên, đây vừa là nhiệm vụ trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài,
thường xuyên và xuyên suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì thế,
giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng xã
hội chủ nghĩa gắn liền với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Giải
quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ huy động được sức mạnh to lớn của quần
chúng nhân dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
* Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin
Lênin đã phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc
trong điều kiện mới. Khi nghiên cứu và giải quyết vấn đề dân tộc, V.I.Lê-nin
đã phát hiện hai xu hướng có tính quy luật của phong trào dân tộc. Người cho
rằng: “Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, có hai xu hướng lịch sử trong
vấn đề dân tộc. Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của
các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết
lập các quốc gia dân tộc. Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường
đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách
các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, của đời sống
kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học v.v...Cương lĩnh dân tộc của
những người mácxít chú ý đến cả hai xu hướng đó”… [08, tr.158].
Xuất phát từ quan điểm khoa học, cách mạng về vấn đề dân tộc, Lê-nin
đã đề ra Cương lĩnh dân tộc của các Đảng Cộng sản. Đó chính là linh hồn và
nội dung cơ bản của chính sách dân tộc: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;
các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó
là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh
nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân” [09, tr.375]. Đây là tư tưởng chỉ
đạo, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính sách dân tộc.
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Bình đẳng dân tộc là quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay
thiểu số, trình độ kinh tế, văn hóa cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc,
10
triển dân tộc cho "nền văn hóa dân tộc" là xác định đúng quan hệ giữa kinh tế,
chính trị và văn hóa trong xã hội tư bản chống các chiêu bài mị dân thông qua
khẩu hiệu đòi "tự trị dân tộc về văn hóa".
- Các dân tộc đều có quyền tự quyết
Mỗi một dân tộc đều có quyền tự quyết định, quyền tự chủ đối với vận
mệnh của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm: Tự quyết định về chính trị xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình. Quyền tự quyết cũng được
thể hiện ở quyền tự do phân lập thành quốc gia độc lập hay quyền tự nguyện
liên hiệp lại của các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và đáp ứng nhu
cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc vì mục tiêu phát triển hòa bình,
phồn vinh và hữu nghị.
Khẳng định lập trường của mình về vấn đề quyền dân tộc tự quyết, Lênin nhấn mạnh, các đảng xã hội chủ nghĩa chân chính không được làm đồi bại
ý thức của giai cấp vô sản, không được làm lu mờ đấu tranh giai cấp, không
được dùng những lời nói dân chủ tư sản sáo rỗng để mê hoặc giai cấp công
nhân, không được phá hoại sự thống nhất trong cuộc đấu tranh chính trị hiện
nay của giai cấp vô sản. Chỉ với điều kiện ấy, chúng ta mới thừa nhận quyền
dân tộc tự quyết. Toàn bộ thực chất của vấn đề chính là ở trong điều kiện ấy.
Lê-nin nhấn mạnh cương lĩnh dân tộc của phái dân chủ công nhân là
hoàn toàn xóa bỏ mọi đặc quyền của bất cứ dân tộc nào, dùng biện pháp hoàn
toàn tự do, dân chủ để giải quyết vấn đề tự quyết về chính trị của các dân tộc.
“Nhiệm vụ tuyệt đối của những người mácxít là bảo vệ chủ nghĩa dân chủ
kiên quyết nhất và triệt để nhất trong mọi mặt của vấn đề dân tộc. Trong khi,
nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc tư sản là sự phát triển dân tộc nói chung, do
đó mà sinh ra tính đặc biệt của chủ nghĩa dân tộc tư sản, những cuộc xung đột
dân tộc không có lối thoát” [08, tr.169].
- Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc
Để thực hiện quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc, cần phải đoàn
kết giai cấp công nhân các dân tộc, các quốc gia. Đoàn kết giai cấp công nhân
12
14
thắng lợi của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất
nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ... chính sách dân tộc
của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để
cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” [17, tr. 587].
Chính sách dân tộc phải chú ý đến tính đặc thù dân tộc.
Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận
động nhân dân phải quán triệt sâu sắc đặc thù dân tộc. Người nhắc nhở: “Một
tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với
đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp”
[18, tr.128]. Người yêu cầu trong công tác phát triển miền núi phải thật cụ thể,
và nhất là phải phù hợp với điều kiện của đồng bào. Người căn dặn: “Nếu cứ
nói nào là làm "cách mạng xã hội chủ nghĩa", nào là "tiến lên chủ nghĩa xã
hội", nào là "xây dựng chủ nghĩa xã hội", đồng bào các dân tộc thiểu số khó
hiểu, ít người hiểu. Phải nói rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội là làm cái gì? Nói
nôm na để cho người ta dễ hiểu, hiểu để người ta làm được” [18, tr.130].
Chính sách dân tộc phải hướng vào sự phát triển toàn diện miền núi
Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới yêu cầu phát triển của đồng bào miền
núi. Theo Người, đi lên chủ nghĩa xã hội phải đi bằng hai chân, công nghiệp và nông
nghiệp, ở miền núi, tiềm năng, thế mạnh là đất và rừng. Người đã chỉ ra một số nhiệm
vụ cụ thể: đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; phát triển giao thông đến từng
làng bản; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất; xây dựng đời sống văn
hóa - xã hội cho đồng bào các dân tộc, cải tạo dần những phong tục tập quán lạc hậu...
Tuy nhiên, Người cũng lưu ý phải làm một cách dần dần, không chủ quan, nóng vội
được.
Chính sách dân tộc phải chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát
vấn đề dân tộc trong thời kỳ mới. Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh:
“Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu,
tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [05, tr.244]. Trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các
16
dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống
tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính
sách kinh tế – xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc,
nhất là các dân tộc thiểu số” [05, tr.81].
Trong thời kỳ mới, Đảng ta đã đề ra các quan điểm về công tác dân tộc
trong Nghị quyết Hội nghị trung ương VII khóa IX (2003) như sau:
Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,
lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt
Nam.
Trước sau, Đảng ta luôn khẳng định vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc
trong sự nghiệp cách mạng. Hiện nay, một lần nữa, Đảng ta khẳng định việc
giải quyết tốt vấn đề dân tộc, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết dân
tộc là vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, những thành tựu quan trọng đã đạt được
trong sự nghiệp đổi mới cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta đã có
tầm cao mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho
Hiện nay giữa các vùng, miền và các dân tộc nước ta vẫn còn tồn tại sự
chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển trên nhiều mặt, nhất là giữa miền núi,
vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số với miền xuôi, đồng bằng và đô thị;
giữa dân tộc thiểu số và đa số. Do vậy, cần phải có sự quan tâm giúp đỡ nhiều
hơn nữa của Nhà nước, của các địa phương cho các vùng khó khăn, vùng dân
tộc. Nhà nước cần tạo điều kiện tốt nhất cho đồng bào dân tộc thiểu số để tranh
thủ được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương,
phát huy tối đa nội lực để phát triển theo kịp sự phát triển chung của cả nước.
Lĩnh vực trọng tâm là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển các ngành nghề
tạo ra nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời giải quyết tốt các
vấn đề xã hội như chăm sóc y tế, giáo dục, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đẩy lùi các tệ
nạn xã hội…Cần quan tâm chăm lo phát triển nguồn nhân lực bằng nhiều biện
pháp thiết thực như: tăng cường đầu tư, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo
dục, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, ưu tiên đào tạo
18
xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Về văn hoá, mỗi dân tộc có bản sắc
văn hoá đặc sắc riêng cần được giữ gìn, bảo tồn và phát triển để tạo lên sự đa
dạng, phong phú của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Bốn là, ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền
núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói,
giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng, đi
đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự
lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm
hỗ trợ của trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
Các vùng dân tộc và miền núi do điều kiện tự nhiên khó khăn (xa xôi,
hẻo lánh, giao thông liên lạc khó khăn) nên sự phát triển kinh tế - xã hội còn
rất lạc hậu. Vì vậy, trong thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước cần phải có các chính sách ưu tiên để cho các vùng này
của nước ta, của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa và
hội nhập với thế giới.
1.2.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thể hiện quan điểm, đường lối
giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta của Đảng, là thể chế hóa và cụ thể hóa quan điểm
dân tộc của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu trước
đây, chính sách dân tộc trong thời kỳ mới ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu
trong tình hình mới. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay có tính toàn
diện và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng
an ninh.
* Về kinh tế
Chính sách phát triển kinh tế vùng dân tộc miền núi là nội dung quan
trọng hàng đầu của chính sách dân tộc trong thời kỳ mới nhằm phát huy tiềm
năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển
chung của cả nước, cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Trong đó, tập trung vào những nội dung sau đây:
Đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi.
Cơ cấu kinh tế lạc hậu, không hợp lý dựa vào nông nghiệp là chính ở
vùng miền núi dân tộc trước đây chuyển dịch sang cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện
20
đại thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhằm phát huy thế mạnh và tiềm
năng kinh tế của các tộc người nước ta. Cơ cấu kinh tế vùng miền núi dân tộc
từng bước chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm của từng vùng,
tiểu vùng, từng tộc người, phát huy các thế mạnh về lâm nghiệp, cây công
nghiệp dài ngày, cây ăn quả, lương thực, chăn nuôi đại gia súc, phát triển
công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, du lịch.
xã là nòng cốt. Kinh tế cá thể, tiểu chủ với hình thức chính là hộ gia đình có
vị trí quan trọng ở các tộc người. Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích
phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh. Chính
quyền các cấp tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào làm ăn
thuận lợi, hướng vào các sản phẩm xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội. Tập trung xây dựng kinh tế hộ gia đình, tạo ra sức mạnh mới trong
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Phát triển kinh tế trang trại, góp phần khai
thác diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá. Sắp xếp, chuyển đổi các
nông, lâm trường quốc doanh về tổ chức quản lý và phương thức hoạt động
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Đẩy mạnh nền kinh tế thị trường để tạo sự chuyển biến quan trọng
trong tư duy, nhận thức và thực tiễn đời sống kinh tế các dân tộc, phá vỡ nền
kinh tế tự cung tự cấp khép kín, tạo ra các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu
của thị trường, khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của
từng dân tộc, từng vùng, từng địa phương.
Ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật, thay đổi qui mô sản xuất để phát
triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Điều
chỉnh quan hệ sản xuất một cách hợp lý và đổi mới quản lý để giải phóng sức
sản xuất, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế ở miền núi.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: điện, đường, trường,
trạm, cơ sở công nghiệp.
Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm mở rộng giao lưu, phát
triển kinh tế giữa miền núi với miền xuôi và với nước ngoài. Triển khai thực
hiện các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội làm cho kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống vùng đồng bào dân tộc được cải thiện.
Khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và các nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng ở miền núi, đặc biệt
22
23
thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…để tập hợp,
đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Thực
hiện bình đẳng, đoàn kết, phát triển dân tộc phải gắn liền với việc đấu tranh
làm thất bại mọi âm mưu, hành động thù địch, chia rẽ dân tộc.
Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân, đổi mới công
tác dân vận.
Nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động nhân dân, góp phần nâng
cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh
của cả hệ thống chính trị làm công tác dân vận. Đề cao và phát huy có hiệu
quả vai trò của người có uy tín trong tôn giáo và đồng bào dân tộc thiểu số;
tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân làm công tác dân vận, thúc đẩy phong
trào thi đua yêu nước; tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã
hội. Các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị kịp thời giải quyết những bức
xúc từ cơ sở, giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đặc
biệt đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, làm cho quần chúng không
nghe, không tin, không làm theo các luận điệu xuyên tạc, kích động bọn phản
động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết và gây mất ổn định về chính trị, xã hội;
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
* Về văn hóa – xã hội
Đẩy mạnh các chính sách an sinh xã hội
Trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính
sách lớn về an sinh xã hội đối với vùng dân tộc miền núi về xóa đói giảm
nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn văn hóa... thông qua hàng loạt chương trình
dự án quốc gia như: chương trình 133, chương trình 134, chương trình 135,
chương trình 30a vv... Các chính sách phát triển an sinh xã hội tập trung nâng
học bán trú và học sinh mẫu giáo vùng đặc biệt khó khăn, tăng cường cơ sở
vật chất trường học thông qua Chương trình 135, Quyết định số
25