1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ổn định chính trị - xã hội là một yêu cầu tất yếu trong sự tồn tại và phát
triển của mọi xã hội. Lịch sử thế giới và Việt Nam đã minh chứng rõ điều đó.
Trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, ở mỗi giai đoạn lịch sử, khi nào giai
cấp thống trị, Đảng phải cầm quyền đưa ra được những chủ trương, giải pháp
đúng, phù hợp quy luật và thâu phục được lòng dân, thì ở đó sẽ tạo ra được
sức mạnh để bảo vệ và xây dựng quốc gia, dân tộc hòa bình - ổn định và phát
triển, và ngược lại, sẽ gây ra sự bất ổn định. Bất ổn định, chiến tranh và các
cuộc xung đột sẽ đẩy lùi sự phát triển của quốc gia, dân tộc trong mỗi thời kỳ
so với xu thế chung của thế giới. Những bất ổn định chính trị - xã hội Liên Xô
và Đông Âu trong cuối những năm 80, đầu 90 đã đẩy các nước này đến đổ vỡ,
chôn vùi thành quả của nhân dân trong mấy mươi năm. Vì vậy, ổn định tình
hình chính trị - xã hội là mong muốn của mọi xã hội, của nhân dân.
Ở Việt Nam, qua mấy ngàn năm lịch sử, ngay cả trong các xã hội
phong kiến, khi nào vua sáng, tôi hiền, lòng dân hòa thuận, đất nước yên bình,
ổn định thì xã hội phát triển, nhân dân hòa mục, đời sống ấm êm, thái bình.
Dân tộc ta đã từng trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giặc
nội xâm và đã thấm đau bao cảnh tương tàn, tang tóc, mất mát, hy sinh, sức
người, sức của. Vì vậy ngày nay, dân ta rất khát khao độc lập tự do, mong
muốn mãi mãi được sống trong hòa hình, ổn định để xây dựng một đất nước
có dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Điều đó chỉ
thực hiện được trong tình hình xã hội ổn định. Đó không phải chỉ là mong
muốn của Đảng ta, của Nhà nước ta, mà còn của cả dân tộc ta. Công cuộc đổi
mới do Đảng ta khởi xướng, đất nước ta đã và đang thu được những thành tựu
rất to lớn. Đó là việc Đảng ta đã đưa ra được đường lối chính trị đúng đắn,
lãnh đạo Nhà nước và nhân dân ta giữ được ổn định chính trị - xã hội để xây
3
trương, chính sách của Nhà nước đã trở thành cơ sở lý luận cho việc nghiên
cứu ổn định chính trị - xã hội.
Ở nước ta, đã có một số công trình, bài viết về vấn đề ổn định (bất ổn
định) chính trị - xã hội, nhất là từ sau khi xảy ra các điểm nóng chính trị ở
nhiều nơi, đặc biệt ở Thái Bình, trong đó một số luận văn tốt nghiệp cao cấp
lý luận, cử nhân, hoặc luận văn thạc sĩ.
Liên quan đến đề tài điểm nóng, mất ổn định chính trị - xã hội đã có
một số tác phẩm tiêu biểu như:
- "Tổng kết thực tiễn về xử lý điểm nóng chính trị - xã hội" do GS. Lê
Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm, GS. Lưu Văn Sùng làm phó chủ nhiệm.
- GS. Hoàng Chí Bảo: "Bước đầu khái quát lý luận về điểm nóng,
điểm nóng chính trị -xã hội".
- Viện Khoa học Chính trị đã có tập bài giảng về "Xử lý tình huống
chính trị" giành cho hệ cử nhân và hệ cao học.
- Các bài viết của GS. TS Lưu Văn Sùng, GS.TS Hoàng Chí Bảo trên
"Thông tin chính trị học" có nội dung khái quát lý luận về điểm nóng chính trị xã hội, liên quan đến việc mất ổn định chính trị - xã hội ở địa bàn một số tỉnh
ở nước ta.
- Nguyễn Thị Mai Anh: "Điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn
đồng bằng sông Hồng - Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm", Luận
văn thạc sĩ Chính trị học.
- Lê Văn Đính: "Vấn đề điểm nóng tôn giáo ở Thừa Thiên - Huế với
việc giữ vững ổn định chính trị trong công cuộc đổi mới hiện nay" - Luận văn
thạc sĩ chính trị học, năm 1998. Tác giả đã từ cơ sở lý luận và thực trạng mà
tổng kết một số kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm ngăn ngừa, xử
lý một cách có hiệu quả "điểm nóng" tôn giáo để giữ vững ổn định chính trị
trong công cuộc đổi mới hiện nay.
5
b) Nhiệm vụ
Đề tài nhằm làm rõ nội dung ổn định chính trị - xã hội với tư cách là
phạm trù khoa học chính trị và vai trò của nó trong hoạt động của hệ thống
chính trị, đặc biệt là ở cơ sở. Cụ thể:
- Làm sáng tỏ nội dung, cấu trúc của khái niệm ổn định chính trị - xã
hội và vai trò của nó trong đời sống xã hội.
- Làm rõ thực trạng tình hình chính trị - xã hội ở Thái Bình trong
những năm sau khi xảy ra điểm nóng (sau 1997 - 1998). Tìm những nguy cơ
tiềm ẩn gây mất ổn định.
- Đưa ra hệ thống những giải pháp nhằm giữ vững ổn định chính trị
-xã hội, từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhằm ổn định tình hình chính
trị - xã hội để phát triển kinh tế - xã hội nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới
trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề ổn
định chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình có đặc trưng sản xuất nông
nghiệp là chính, kinh tế kém phát triển đang vận động đi lên trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng của việc giữ vững ổn
định chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Bình sau khi xảy ra "điểm nóng"
chính trị - xã hội (1997 - 1998) đến nay. Từ đó nêu những giải pháp cơ bản để
tiếp tục giữ vững ổn định chính trị - xã hội hiện nay và những năm tiế theo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG
GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở NƯỚC TA
1.1. NỘI DUNG PHẠM TRÙ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Phạm trù "chính trị - xã hội" được sử dụng phổ biến trong nhiều văn
kiện chính trị. Tuy nhiên chưa có mấy các nhà khoa học bàn đến nội dung
khái niệm này một cách đầy đủ. Theo tôi, để tiếp cận với khái niệm "chính trị
- xã hội", cần tiếp cận nội dung các thuật ngữ chính trị và xã hội.
1.1.1. Nội dung chính trị
a) Nội dung chính trị
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện khi xã hội phân
chia thành các giai cấp, và sự xuất hiện nhà nước.
Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung chính trị. Có học giả xem
chính trị là một "nhà hát". Trong "nhà hát" này có vở diễn, nghệ sĩ, người xem,
sự bài trí sân khấu và nhà phê bình. Vì thế, Platon coi chính trị là vấn đề mang
tính nghệ thuật, giống như nghệ thuật là tính vốn có của nhà hát nói chung. Mặt
khác, vì là "nhà hát chính trị" nên ngoài những đặc điểm mang tính phổ biến, nó
còn có những điểm riêng biệt của mình. Học giả Max Weiber xem chính trị là
khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực
giữa các tập đoàn người trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Cũng có
một số học giả lại xem chính trị chỉ là thủ đoạn, là những mưu đồ nhằm đạt
tới quyền lực của cá nhân, của phe nhóm. Những quan điểm này có chứa đựng
một số nhân tố hợp lý, nhưng chưa làm rõ những nội dung căn bản của chính
trị.
8
9
giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị là biểu hiện tập trung của
kinh tế, được quy định bởi những lợi ích cơ bản của giai cấp, của các lực
lượng chính trị, là vấn đề công việc chính quyền. Chính trị theo nguyên nghĩa
của nó, là những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những
quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là
vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.
Cái quan trọng nhất của chính trị, theo Lênin là "tổ chức chính quyền
nhà nước". Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước,
các định hướng của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt
động của nhà nước... Bất kỳ vấn đề xã hội nào cũng mang tính chính trị vì
việc giải quyết nó, trực tiếp hay gián tiếp đều gắn với lợi ích giai cấp, với vấn
đề quyền lực.
b) Cấu trúc chính trị
Để hiểu được nội dung của chính trị, cần thiết phải tìm hiểu các nhân
tố cấu thành của chính trị.
Cho đến nay, trong lý luận chính trị hiện đại, khi xác định cấu trúc
chính trị còn có nhiều ý kiến khác nhau. đáng chú ý là quan điểm cho rằng
cần xem xét cấu trúc chính trị trên hai phương diện:
Phương diện thứ nhất - Coi chính trị với tư cách là những quan hệ
đặc biệt, thì cấu trúc chính trị bao gồm:
- Quan hệ giữa công dân với nhà nước.
- Quan hệ giữa các tập đoàn, các giai cấp khác nhau với vấn đề nhà
nước.
- Quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với nhà nước.
- Quan hệ giữa các quốc gia khác nhau thông qua nhà nước.
Phương diện thứ hai - Coi chính trị với tư cách là một hoạt động xã
hội đặc thù - Cấu trúc của chính trị sẽ bao gồm:
- Mục tiêu hoạt động chính trị của các chủ thể.
quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các lực lượng trong xã hội quy định.
11
Bà là, các quan hệ chính trị được hình thành do sự tác động qua lại
giữa các chủ thể chính trị (nhóm, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc
gia...). Các quan hệ chính trị phản ánh các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã
hội khác, nhưng có vai trò chi phối các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội
khác. Các quan hệ chính trị có thể hình thành dưới hình thức liên minh hợp
tác đấu tranh, hoặc xung đột xung quanh các công việc chính quyền.
Sự vận động của các quan hệ chính trị là sự vận động liên tục, thể hiện
thông qua những sự kiện, những biến cố chính trị trong từng giai đoạn khác
nhau, khi thì sôi động quyết liệt, khi thì trầm lắng êm ả. Thời kỳ mà đời sống
chính trị êm ả là thời kỳ ổn định, và ngược lại thời kỳ có nhiều biến cố xung
đột, mâu thuẫn gay gắt là thời kỳ bất ổn định. Thực trạng chính trị ổn định
hay bất ổn định do nhiều yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội chi phối. Điều đó
tùy thuộc trước hết bởi chính thể chế chính trị đương thời, bởi hệ thống chính
trị, bởi phẩm chất, năng lực, bản lĩnh của các chủ thể chính trị cầm quyền.
Trên ý nghĩa đó, Lênin cho rằng: "Chính trị là khoa học và nghệ thuật".
1.1.2. Nội dung vấn đề xã hội
Xã hội là những cộng đồng người. Con người là tổng hòa các quan hệ
xã hội. Do đó, xã hội là một khái niệm để chỉ rõ:
Thứ nhất: Xã hội trước hết nói đến một cộng đồng dân cư sống trong
một phạm vi ranh giới địa lý - lãnh thổ.
Thứ hai: Nói xã hội không thể không nói đến các hoạt động của con
người liên quan tới các quá trình sản xuất (sản xuất theo nghĩa rộng, bao gồm
tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất và các hoạt động dịch vụ, nghiên cứu
khoa học). Các hoạt động đó lại gắn liền với các hoạt động văn hóa, tinh thần,
tâm linh của con người, của cộng đồng người.
Xã hội với tư cách là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người
và người cũng được hình thành một cách khách quan và tất yếu. Sự vận động,
biến đổi và phát triển của xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại vốn có
của nó, trước tiên là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào trình độ
13
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, làm cơ sở cho một chế độ chính
trị nhất định [20, tr. 401].
Từ những lý giải trên, có thể quan niệm về xã hội như sau: Xã hội,
theo nghĩa rộng nhất là một khái niệm phản ánh các hoạt động và các mối
quan hệ giữa con người với con người trên mọi lĩnh vực ở một giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử. Một xã hội xác định vận động, phát triển theo
những quy luật nội tại, trước tiên là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng phù hợp
với cơ sở hạ tầng.
Theo nghĩa rộng khái niệm xã hội rộng bao quát các hoạt động của
con người, bao trùm cả khái niệm chính trị. Nhưng theo nghĩa hẹp, khái niệm
xã hội dùng chỉ một lĩnh vực của hoạt động của con người. Khái niệm này
ngang cấp với khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa... đó là khái niệm xã hội
theo nghĩa hẹp, phản ánh những quan hệ, những hoạt động, những mặt cụ thể
hơn của đời sống xã hội, như vấn đề việc làm và thu nhập, giáo dục và đạo
đức, y tế và sức khỏe, giàu và nghèo, phong tục và tập quán, công bằng và
bình đẳng xã hội, dân tộc và tôn giáo...
Do vậy, hiểu quan niệm về xã hội cần phải hiểu theo cả nghĩa rộng (gồm
nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa...) và cả là vấn đề xã hội theo
nghĩa hẹp. Ở luận văn này, khái niệm xã hội sử dụng cả theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp khi đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội và ổn định chính trị - xã
hội.
quyền, chính trị - xã hội nhằm phục vụ củng cố quyền lực của số ít, và phục
vụ cho lợi ích của số ít người. Trái lại trong chủ nghĩa xã hội, chính trị - xã
hội nhằm củng cố quyền lực của nhân dân lao động và phục vụ cho lợi ích của
đa số nhân dân.
Từ việc phân tích trên, ta có khái niệm như sau: Chính trị - xã hội là
khái niệm phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa mặt xã hội nói chung với vấn
đề chính trị. Khái niệm chính trị- xã hội vừa chỉ một xã hội với tổng thể các
mối liên hệ của xã hội, vừa biểu thị một chế độ chính trị - xã hội.
15
1.2. QUAN NIỆM VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1. Quan niệm về ổn định
Thuật ngữ ổn định được dùng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội như ổn định đời sống, ổn định gia đình, ổn định thu nhập, ổn định
kinh tế... Nó được xác định trong một hoàn cảnh nhất định về trạng thái của
sự vật.
Dưới góc độ triết học, thuật ngữ ổn định phản ánh trạng thái trong quá
trình vận động của sự vật. Thế giới vật chất luôn vận động không ngừng,
trong đó bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối. Sự vật tồn tại trong sự
đứng im tương đối. "Trong vận động của các thiên thể, có sự vận động trong
cân bằng và có cân bằng trong vận động (một cách tương đối). Nhưng bất kỳ
vận động tương đối, riêng biệt nào cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự
đứng yên tương đối - sự cân bằng tương đối. Khả năng đứng yên tương đối
của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự
phân hóa vật chất" [32, tr. 740].
Ăngghen đã chỉ rõ: Mọi sự cân bằng chỉ là "tương đối" và "tạm thời"
Như vậy, ổn định và biến đổi vừa là tiền đề, là điều kiện cho nhau,
vừa là nhân và quả cho nhau, là thể hiện mối quan hệ giữa vận động và đứng
im.
Ta có thể rút ra kết luận: ổn định chỉ một trạng thái của tự nhiên, xã
hội, tư duy trong quá trình vận động và phát triển của sự vật. Xétcả về thực
tiễn và lý luận thì ổn định mang tính tương đối vì nó chính là sự vận động
trong những mâu thuẫn, trong sự thống nhất của các mặt đối lập và cũng là
sự thống nhất tương đối.
Ổn định chính trị - xã hội, cũng vậy, không phải là trạng thái đứng
yên, trì trệ mà là trạng thái động, phát triển. Đó là trạng thái của quá trình
17
thường xuyên giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh về chính trị - xã hội, về
kinh tế, văn hóa trong nội bộ nhân dân và trong hệ thống chính trị.
Trong xã hội, quy luật lực lượng sản xuất luôn quy định quan hệ sản
xuất. Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vào
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc
thượng tầng chính trị, giữa kinh tế với văn hóa trong sự phát triển đều mang
ý nghĩa tương đối. Nó luôn có xu hướng bị phá vỡ bởi sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Chính sự phát triển khách quan, liên tục của lực lượng sản
xuất đã làm cho mọi sự phù hợp của các nhân tố xã hội sẽ phá vỡ sự cân
bằng, sự phù hợp trước đó để tạo ra sự cân bằng mới, tức là sự ổn định ở
mức độ cao hơn. Với từng lát cắt ở bình diện ổn định tư tưởng, ổn định các
quan hệ chính trị xã hội, ổn định hệ thống chính trị của xã hội chúng ta sẽ
thấy điều này rõ hơn.
Trong xã hội có các giai cấp, các tầng lớp khác nhau, nhưng chịu sự
chi phối của hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nếu tư tưởng của giai cấp
Theo tôi, có thể đánh giá trên các tiêu chí sau đây:
- Tiêu chí thứ nhất: Sự ổn định của hệ thống chính trị (political system).
Đối với các thể chế có tính lịch sử, tức là nó xuất hiện và biến mất thì
tính ổn định có thể đơn giản được đo bằng khoảng thời gian nó tồn tại. Nhưng
đối với một chế độ xã hội (một chế độ xã hội - một thể chế "Liên tiến" như xã
hội tư bản Mỹ, Pháp, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...) thì vấn đề
không giản đơn như vậy. Ngay cả khi chúng ta đo lường tính ổn định của một
chế độ xã hội theo cách lấy thước đo sự tồn tại của chế độ đó được bao lâu
theo những thông số xác định nào đó, thì chúng ta vẫn thấy rằng tất cả các chế
độ xã hội đều tồn tại lâu hơn sự tồn tại của tất cả các hệ thống chính trị của
mỗi chế độ xã hội.
19
Như vậy, tốt nhất là coi khái niệm "ổn định chính trị - xã hội" như là
một khả năng mà một thể chế có thể kéo dài sự tồn tại của mình. Cũng có một
khuynh hướng nghiên cứu khác coi khái niệm "ổn định chính trị" như là một
khái niệm đa chiều, được tổng hợp lại từ những tư tưởng thường được sử
dụng trong chính trị học so sánh như: Sự duy trì hệ thống, trật tự công dân,
tính chính thống và tính hiệu quả. Điều chắc chắn là, khi bạo lực gia tăng ở
mức độ cao, tính chính thống của thể chế đó bị hạ thấp và bộ máy nhà nước
vận hành kém hiệu quả thì ít có khả năng duy trì một sự ổn định. Do vậy, có
thể dùng tiêu chí này làm tiền đề để so sánh tính ổn định chính trị của mỗi xã
hội và giữa các xã hội.
Cũng có trường hợp hiệu lực của một thể chế ở mức thấp, nhưng bạo
lực có thể ở mức cao, mặc dầu vậy chế độ chính trị - xã hội vẫn bền vững.
Điều này xảy ra khi nhà nước có một tiềm năng thúc đẩy được những mối liên
hệ mạnh mẽ giữa những nhóm quyền lực trong xã hội, hoặc khi những nhóm
chính trị, kinh tế, xã hội cơ bản không coi sự thay đổi thể chế là có lợi cho họ.
Trong những năm gần đây, việc đánh giá tính ổn định chính trị - xã
hội về mặt vận hành của hệ thống chính trị đã trở thành một luận đề cơ bản
trong việc nghiên cứu tính ổn định chính trị - xã hội. Những nhân tố chủ yếu
quyết định tính ổn định trong sự vận hành hệ thống chính trị, đó là:
- Sự ổn định của chính phủ (ở Trung ương), hay của các cơ quan
công quyền địa phương.
Có hai cách đo lường tính ổn định của chính phủ hay các cơ quan
công quyền địa phương.
Thứ nhất: Khoảng thời gian tồn tại.
Thứ hai: Mức độ kiểm soát của ngành hành pháp, được đo bằng việc
chính phủ có hay không có một đa số trong ngành lập pháp, tức sự ủng hộ của
cử tri (dân). Chính sách có được dân đồng tình, có được thực thi tốt không.
21
Một chính phủ (hay các cơ quan quyền lực công ở địa phương và cơ
sở) đương nhiệm chỉ trong một thời gian ngắn sẽ rất khó có thể đảm bảo trách
nhiệm đối với kết quả của chính sách. Mặt khác, nếu một chính phủ không có
được một đa số ủng hộ trong ngành lập pháp cũng có thể làm mờ đi tính trách
nhiệm của mình bằng cách lập luận rằng, những chính sách của chính quyền
thiếu hiệu quả vì không có sự ủng hộ của đa số lập pháp, đây chính là một
biểu hiện về tính ổn định chính trị.
- Bạo lực chính trị.
Một trong những dấu hiệu căn bản của một hệ thống chính trị hoạt
động tốt là sự hạn chế những bất đồng chính trị và sự thừa nhận những phản
kháng hợp pháp. Trong một chế độ dân chủ, cần thiết phải tạo ra những
khoảng rộng cho sự phản kháng chính trị bằng cách áp dụng những biện pháp
ít hà khắc về những hành động đối với những người bất đồng chính kiến.
Trong trường hợp đó, quy mô của những phản kháng có thể tăng lên.
người ta phải chấp nhận một sự vận hành tồi (hoặc phải đi đường vòng) trong
một thời gian ngắn để vươn tới một sự vận hành tốt hơn trong một thời gian
dài.
Các cuộc đình công, khiếu kiện đông người là một vấn đề đặc biệt
phản ánh sự vận hành kinh tế - chính trị. Một mặt nó chỉ ra một bức tranh rối
loạn trong sự vận hành kinh tế - chính trị, mặt khác, nó không đơn giản chỉ là
sự phản ánh tình trạng kinh tế (chẳng hạn như vấn đề thất nghiệp).
Cần phải nhấn mạnh rằng: Các kết quả kinh tế - chính trị của một hệ
thống chính trị nào đó không chỉ là sự phản ánh thực trạng bên trong hệ thống
đó, mà nó còn có ảnh hưởng lan tỏa rộng ra các vùng lân cận (các quốc gia,
các vùng...) và nếu không có giải pháp kịp thời, ảnh hưởng đó như một phản
ứng dây chuyền, rất khó giới hạn (như phản ứng Domino).
Khi nghiên cứu sự vận hành của hệ thống chính trị, cần phải tập trung
vào nghiên cứu những kết quả của sự vận hành hệ thống và coi đó như là
những kết quả đo lường sự vận hành của hệ thống.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến ổn định chính trị - xã hội
a) Nhân tố kinh tế
23
ổn định chính trị - xã hội là trạng thái xã hội mà ở đó có sự phù hợp
giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, giữa
kiến thức thượng tầng và cơ sở hạ tầng của xã hội, tạo nên sự vận động theo
hướng phát triển của chính trị - xã hội.
Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của Mác và Ăngghen chỉ rõ: xã
hội là một chỉnh thể các yếu tố hợp thành bao gồm: lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Các yếu tố này có
quan hệ biện chứng với nhau. C.Mác đã nêu ra quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự liên hệ
Giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xã hội cũng thường xuất
hiện sự phát triển cùng chiều của chính trị và văn hóa. Chính trị phát triển
cùng chiều với văn hóa sẽ mở đường cho văn hóa phát triển. Văn hóa phát
triển sẽ thúc đẩy cả chính trị, kinh tế phát triển.
Như vậy, tổng hợp sự phù hợp và phát triển cùng chiều của các nhân
tố chính trị, kinh tế, văn hóa sẽ tạo ra trạng thái ổn định chính trị - xã hội.
b) Những nhân tố trên lĩnh vực chính trị
- Nhân tố tư tưởng
ổn định tư tưởng chính trị của xã hội thực chất là giữ vững sự thống
trị về hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong xã hội, nền tảng tư tưởng, tinh
thần của xã hội. Xét đến cùng, tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền là
định hướng cho lợi ích của giai cấp ấy. Các cuộc đấu tranh giai cấp trước hết
diễn ra trên mặt trận tư tưởng. Sự rối loạn tư tưởng trở thành nhân tố của bất
ổn định chính trị - xã hội.
- Những nhân tố về hệ thống chính trị và các thể chế chính trị - xã hội
Vấn đề chính trị, cái cốt yếu là công việc nhà nước, là giải quyết mối
quan hệ giữa công dân với nhà nước, giữa các lực lượng chính trị, giữa các
dân tộc, giữa các tôn giáo với nhà nước.
25
Tuy nhiên, các mối quan hệ đó trước hết lại được giải quyết thông qua
hai hình thức: 1- Thông qua các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội đại diện,
2- Thông qua cơ quan quyền lực dân cử các cấp.
- Một trong những tổ chức chính trị quan trọng là các đảng chính trị,
đặc biệt là đảng cầm quyền. Trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội lợi ích của
giai cấp công nhân, của nhân dân và Đảng Cộng sản là thống nhất. Do vậy
trạng thái ổn định của các quan hệ chính trị đặc biệt đó trở thành nhân tố có