1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực
tài chính đồng thời nó cũng là một công cụ tài chính quan trọng của một quốc
gia. Cùng với sự phân cấp quản lý kinh tế và hành chính thì NSNN cũng được
phân cấp quản lý. Phân cấp quản lý ngân sách là cần thiết, nó giúp quá trình
quản lý và phân bổ một cách hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực tài chính
khan hiếm của quốc gia, nó còn tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát
triển hài hòa về kinh tế xã hội. Sự phân cấp có thể là khác nhau phụ thuộc vào
điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia.
Mỗi quốc gia đều có những vùng lãnh thổ khác nhau, mỗi địa phương
đều có từng vùng miền khác nhau. Việc phân chia dân cư theo đơn vị hành
chính, lãnh thổ vùng miền, hình thành các cấp hành chính là đặc trưng của
Nhà nước. Do đó, để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển,
cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN giữa các cấp ngân sách ở địa phương,
là giải pháp quan trọng vừa động viên được các nguồn thu tiềm tàng, vừa tạo
cơ chế để các nguồn tài chính được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng yêu
cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, vừa tạo quyền tự chủ cho
các cấp chính quyền địa phương. Nguồn thu ngân sách là có hạn, trong khi
nhu cầu chi tiêu thì lớn, do vậy phân cấp quản lý ngân sách đòi hỏi phải thực
hiện đúng theo các quy định của pháp luật về NSNN.
Ngoài những thành tựu đạt được, thực tiễn cho thấy cơ chế phân cấp
quản lý ngân sách ở địa phương vẫn còn tồn tại những bất cập cần phải được
hoàn thiện, nhằm đảm bảo tính độc lập của ngân sách các cấp, tăng tính chủ
động của các cấp chính quyền ở địa phương trong khai thác các nguồn thu tại
chỗ và bố trí chi tiêu hợp lý.
2
Với mong muốn tìm những định hướng, giải pháp thích hợp để tháo gỡ
những vướng mắc của cơ chế phân cấp quản lý ngân sách, góp phần vào sự
phát triển của nền tài chính quốc gia và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
triệt trong quá trình hoach định chính sách phân cấp quản lý NSNN, đặc biệt
là các vấn đè liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp
ngân sách ở địa phương.
Về ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng cơ
chế, chính sách hiện hành trong phân cấp quản lý NSNN mà trọng tâm là cơ
chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSĐP trên địa bàn tỉnh Thái Bình để
làm sáng tỏ những ưu điểm hạn chế, tồn tại vướng mắc để rút ra bài học kinh
nghiệm, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể với những bước đi thích hợp để
hướng tới thực hiện cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp
NSĐP trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hôi
nhập quốc tế.
5. Kết cấu luận văn
Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân cấp quản lý NSNN.
Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý NSĐP trên địa bàn tỉnh Thái
Bình trong thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý NSĐP trên
địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
1.1. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
NSNN là khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài
chính công. NSNN là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách phù hợp với
hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi
tượng của quá trình thu đó. Nguồn thu thể hiện các nguồn tài chính được huy
động vào NSNN.
Chi NSNN là quá trình nhà nước, tổ chức, đơn vị có liên quan tiến hành
phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập nên để đảm bảo điều
kiện vật chất cho Nhà nước, nhằm duy trì sự tồn tại hoạt động bình thường
của bộ máy nhà nước, phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà xã hội
giao phó cho Nhà nước.
Căn cứ vào biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bản dự toán thu, chi
bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một
năm hoặc một số năm. Hàng năm Chính phủ dự toán các khoản thu vào quỹ
6
NSNN, đồng thời dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an
ninh, quốc phòng, quản lý hành chính… từ quỹ NSNN và bảng dự toán này
phải được Quốc hội phê chuẩn.
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ
tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn
tài chính luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh
tế tế xã hội. Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà
nước với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của Nhà nước chuyển dịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các
chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập
đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
Nhà nước.
1.2. PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN
1.2.1. Khái niệm về phân cấp quản lý NSNN
Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi
cấp đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định. Để thực hiện những
nhiệm vụ đó, mỗi cấp lại được phan giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự,
kinh tế, hành chính và ngân sách. Việc hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều
cấp thì việc phân cấp NSNN là một tất yếu khách quan. Bởi vì mỗi cấp NSNN
pháp hoặc các đạo luật tổ chức hành chính, từ đó định ra hành lang pháp lý
cho việc chuyển giao các thẩm quyền gắn với trách nhiệm tương ứng với
quyền lực đã được phân cấp, đảm bảo tính ổn định, tính pháp lý, không gây
sự rối loạn trong phân cấp nhà nước.
8
Theo quy định của luật NSNN, về cơ bản, nhà nước Trung ương giữ
vai trò quyết định các loại thu như thuế, phí, lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu
chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước.
Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định một số chế độ thu phí
gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý
hành chính nhà nước của chính quyền địa phương và các khoản đóng góp của
nhân dân theo quy định của pháp luật. Việc huy động vốn để xây dựng kết
cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh, được quyết định chế độ chi
ngân sách phù hợp với đặc điểm của địa phương. Riêng chế độ chi có tính
chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của
các bộ ngành, lĩnh vực.
Hai là, phân cấp về mặt vật chất, tức là phân cấp về nguồn thu và
nhiệm vụ chi:
Có thể nói đây luôn là vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, gây nhiều
bất đồng nhất trong quá trình xây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản
lý ngân sách. Sự khó khăn này bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều
giữa các địa phương, sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
giữa các vùng miền trong cả nước.
Ngân sách Trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng
không gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa phương như: Thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô…hoặc không đủ căn cứ chính xác để
phân chia như: Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn
ngành, đồng thời đảm bảo nhiệm vụ chi cho các hoạt động có tính chất, nhiệm
vụ chiến lược quan trọng của Quốc gia như: Chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế –
xã hội , chi quốc phòng an ninh, chi giáo dục, y tế, chi đảm bảo xã hội do
mặt nước, không kể tiền thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí; tiền đền bù
thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất, tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu
nhà nước, thu nhập từ vốn góp của NSĐP, tiền thu hồi vốn của NSĐP tại các
cơ sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ của cấp tỉnh, viện trợ không hoàn lại của các
tổ chức cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của
pháp luật, thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác, phần nộp ngân
sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị
do địa phương quản lý .
+ Các khoản thu khác: Huy động từ tổ chức cá nhân theo quy định của
pháp luật, đóng góp của tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước, thu từ đầu
tư xây dựng các công tình thiết kế hạ tầng, thu kết dư NSĐP, các khoản thu
phạt, tịch thu và thu ngân sách, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên, thu chuyển
nguồn từ năm trước chuyển sang.
Các khoản thu chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách Trung ương (NSTW)
và NSĐP, các khoản thu chung cả NSTW và NSĐP cùng hưởng theo tỷ lệ %
gồm 05 loại chủ yếu. Đây là những khoản có số thu lớn, có tính đàn hồi cao,
nhạy cảm với hoạt động kinh tế, có tính điều tiết cao, cụ thể là:
+ Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp không kể thuế thu nhập doanh nghiệp
hạch toán toàn ngành.
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
11
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá tiêu thụ trong nước.
+ Phí xăng dầu.
- Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương.
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo
quy định (tại khoản 03 điều 08 của luật NSNN).
Nhiệm vụ chi NSĐP gồm:
- Chi đầu tư phát triển :
+ Đầu tư xây dưng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội do
+ Các khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP, phần NSĐP được
hưởng.
- Số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới ở
địa phương được xác định theo nguyên tắc xác định số chênh lệch giữa số chi
và nguồn thu ngân sách các cấp dưới (thu 100% và phần được hưởng theo tỷ
lệ % từ các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách chính quyền địa
phương).
Ba là, phân cấp về quản lý chu trình ngân sách, tức là phân công, phân
định trách nhiệm, quyền hạn trong lập, chấp hành và quyết toán NSNN.
13
Phân cấp quản lý NSNN thể hiện mối quan hệ giữa các cấp chính
quyền nhà nước trong một chu trình NSNN gồm tất cả các chính quyền nhà
nước trong một chu trình NSNN gồm tất cả các khâu: lập ngân sách, duyệt
thông qua tới chấp hành, quyết toán, thanh tra, kiểm tra ngân sách. Yêu cầu
của nội dung này đặt ra là giải quyết mối quan hệ về mức độ tham gia, điều
hành và kiểm soát của các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý nhà nước và
các cơ quan chuyên môn trong từng khâu quản lý ngân sách.
HĐND các cấp có quyền hạn, trách nhiệm trong việc quyết định dự
toán NSĐP, phân bổ dự toán chi cho các sở, ban ngành theo từng lĩnh vực cụ
thể, quyết định bổ sung từ ngân sách cấp mình cho ngân sách cấp dưới, phê
chuẩn quyết toán ngân sách. Ngoài ra HĐND cấp tỉnh còn có nhiệm vụ :
+ Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân
sách ở địa phương.
+ Quyết định tỷ lệ % phân chia ngân sách giữa các cấp chính quyền địa
phương, đối với phần NSĐP được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa
NSTW với NSĐP và các khoản thu có phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa
phương.
Ngoài ra việc tổ chức lập ngân sách ở các địa phương được phân cấp
cho Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy
định cụ thể cho từng cấp ở địa phương. Thảo luận về dự toán với cơ quan tài
quốc gia. Một cơ chế phân cấp quản lý ngân sách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp
chính quyền nhà nước thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.
15
Ngược lại, phân cấp không hợp lý sẽ gây cản trở, khó khăn đối với quá trình
quản lý của các cấp hành chính nhà nước.
Hai là, đối với điều hành vĩ mô nền kinh tế: phân cấp quản lý NSNN
hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì phát triển
hoạt động của các cấp, chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương
mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng địa
phương trong cả nước. Nó cho phép quản lý và kế hoạch hóa NSNN tốt hơn,
điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa
các cấp ngân sách để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô NSNN.
Cơ chế phân cấp quản lý NSNN có tác động quan trong đến hoạt động
điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thông qua chính sách tài khóa, vì
mức độ phân cấp giữa Trung ương và địa phương có tác động lớn đối với mục
tiêu điều chỉnh kinh tế bằng chính sách tài khóa của nhà nước. Chính sách tài
khóa là công cụ quan trọng nhất trong tay nhà nước để điều hành kinh tế vĩ
mô. Chủ trương và định hướng thu, chi NSNN theo hướng “nới lỏng, hay thắt
chặt” là những biện pháp cốt yếu của Chính phủ để ứng phó với những diễn
biến của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, ổn định và phát
triển bền vững. Nếu mức độ phân cấp tập trung về phía Trung ương lớn thì
quá trình điều chỉnh được thực thi nhanh hơn và ngược lại nếu mức độ phân
cấp tập trung về phía địa phương nhiều hơn sẽ dẫn đến thời gian điều chỉnh
chậm hơn bởi vì khi địa phương được phân cấp mạnh thì quyền hạn trong thu,
chi NSĐP được mở rộng và linh hoạt hơn. Chính vì vậy cần xây dựng một
phương án phân cấp hợp lý để vừa đảm bảo thực hiện được mục tiêu của
chính sách tài khóa vừa tránh được việc tập trung quá cao.
1.2.5. Nguyên tắc cơ bản trong phân cấp quản lý NSNN
16
Để đảm bảo phân cấp quản lý NSNN đem lại kết quả tốt cần quán triệt
Đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW là một đòi hỏi khách quan, bắt
nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương trong việc cung cấp những
hàng hóa và dịch vụ công cộng có tính chất quốc gia. Hơn nữa, nó còn có vai
trò điều tiết, điều hòa đảm bảo công bằng giữa các địa phương.
Ngân sách trung ương tập trung đại bộ phận nguồn thu của quốc gia và
thực hiện các khoản chi chủ yếu của quốc gia.
Các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động
đến cả nước, các chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan
trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cần đối được thu, chi
ngân sách đều do NSTWđảm bảo.
NSĐP được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã
hội trong phạm vi quản lý ở địa phương mình.
Vị trí độc lập tương đối của nó được thể hiện qua cả ba khâu của chu
trình ngân sách: lập, chấp hành và quyết toán ngân sách. Trong phạm vi phân
chia nguồn thu, nhiệm vụ chi được ổn định từ ba đến năm năm, các địa
phương được chủ động tìm các biện pháp tăng thu hợp pháp để phát triển kinh
tế - xã hội, tăng khả năng tự cân đối ngân sách.
Thứ ba: Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp quản lý NSNN.
18
Để giảm bớt khoảng cách giàu ngèo giữa các vùng, các địa phương
trong quá trình phân cấp cần được sử dụng phương pháp điều hoà ngân sách
tức là quá trình điều hoà phân phối lại nguồn tài chính trong phạm vi hệ thống
ngân sách chính quyền, chuyển một phần thu của ngân sách cấp trên cho ngân
sách cấp dưới. Thông qua phương pháp bổ sung cân đối và bổ sung có mục
tiêu, đây là hai phương pháp tài trợ mà chính quyến cấp trên thường sở dụng
đối với chính quyền cấp dưới.
Ngoài ra, việc thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền qua
chi ngân sách cấp trên và đầu tư hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội cũng được sử
Trong quản lý hành chính nhà nước, chính quyền nhà nước các cấp vừa
phải đảm bảo chức năng quản lý vừa phải đảm bảo chức năng phục vụ công
cộng cho xã hội. Phần lớn các hàng hoá công cộng đều được cung cấp bởi khu
vực công (chính quyền nhà nước ở trung ương và địa phương).
Hàng hoá công cộng được cung cấp ở phạm vi quốc gia như: Quốc
phòng, an ninh, phát thanh truyền hình trung ương; ở phạm vi địa phương như
phát thanh, truyền hình, đường giao thông, khu vui chơi giải trí thể thao của
các cấp chính quyền địa phương…
Đây là yếu tố căn bản khi phân giao quyền hạn và trách nhiệm giữa các
cấp trong bộ máy chính quyền giữa trung ương và địa phương trong việc cung
cấp hàng hoá công cộng. Điều kiện vật chất để thực thi nhiệm vụ đòi hỏi phải
phân chia nguồn lực từ NSNN, đây chính là tiền đề để phân cấp nguồn thu,
nhiêml vụ chi cho từng cấp chính quyền địa phương.
1.3.1.3. Đặc điểm tự nhiên, xã hội ở địa phương
20
Đây là một nhân tố có tính đặc thù mà cần được quan tâm. Tính đặc thù
đó thường được biểu hiện ở những đặc điểm tự nhiên về địa hình, vùng có tài
nguyên, có địa thế hay có điều kiện xã hội đặc biệt. Ở những vùng, những địa
phương này có thể coi là một đối tượng đặc biệt của cơ chế phân cấp dẫn tới
những nội dung phân cấp đặc thù cho phù hợp.
Sự đa dạng về mặt xã hội tạo ra sự khác biệt về nhu cầu, sở thích đối
với hàng hóa dịch vụ công do mức thu nhập tạo ra. Khi sự khác biệt nảy sinh
thì đòi hỏi cơ chế phân cấp phù hợp sẽ mang lại hiệu quả hơn.
1.3.1.4. Mức độ phân cấp về quản lý hành chính – kinh tế - xã hội
giữa các cấp chính quyền
Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh thổ nảy
sinh yêu cầu hình thành những cấp NSNN tương ứng với từng cấp hành chính
đó. Tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần, bởi vì có nhiều cách khác nhau
trong việc chuyển giao một bộ phận trong tổng thể các nguồn tài chính cho
việc thực hiện các nhiệm vụ của mỗi đơn vị hành chính.
nhằm quản lý ngân sách một cách hiệu quả, tiết kiệm, phát huy vai trò và
chức năng của NSNN với tư cách là phương tiện vật chất để đảm bảo cho bộ
máy Nhà nước hoạt động liên tục và hiệu quả, đồng thời là công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Phân cấp quản lý NSNN là tất yếu khách quan, bởi mỗi quốc gia đều có
những vùng lãnh thổ khác nhau, mỗi địa phương đều có từng vùng miền khác
22
nhau. Việc phân chia dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ, vùng miền đã
hình thành các cấp hành chính đặc trưng của Nhà nước. Do vậy, để góp phần
thúc đẩy kinh tế xã hội địa phương phát triển, cần thiết phải phân cấp quản lý
ngân sách, mà yếu tố quan trọng là cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
NSNN. Đây là giải pháp quan trọng để động viên được các nguồn thu tiềm
tàng, vừa tạo ra cơ chế để sử dụng các nguồn tài chính tiết kiệm, hiệu quả, đáp
ứng yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, tạo quyền tự chủ
cho các cấp chính quyền. Cơ sở xây dựng cơ chế phân cấp quản lý ngân sách
ở địa phương là mô hình tổ chức bộ máy hành chính, phù hợp với phân cấp
quản lý kinh tế xã hội và trình độ năng lực của mỗi cấp chính quyền.
Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN là phải bảo đảm sự tăng cường
giữa hệ thống ngân sách với hệ thống hành chính, đảm bảo vai trò chủ đạo
của ngân sách cấp trên, phát huy tính năng động sáng tạo của ngân sách cấp
dưới; đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia; bảo đảm tính công
bằng, hiệu quả, khách quan trong toàn hệ thống.
Từ nhận thức nhu trên đã có cơ sở đề ra các nguyên tắc, các yêu cầu
trong việc xây dựng cơ chế phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Thái
Bình một cách khách quan. Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả,
thực tế nhằm đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp hiện hành.
23
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSĐP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA
Trước đây Thái Bình hầu như bị cô lập hoàn toàn bởi sông nước, giao
thông liên tỉnh chủ yếu phải sử dụng hệ thống phà, thuyền. Từ khi hệ thống
quốc lộ 10 được nâng cấp, giao thông giữa Thái Bình và các tỉnh khác trở nên
dễ dàng hơn, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.
Nền kinh tế của tỉnh có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng GDP
phát triển qua các thời kì. Về cơ cấu kinh tế thì trong thời gian qua đã có sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng của khu vực 1 (nông
- lâm - ngư nghiệp), tăng dần tỉ trọng khu vực 2 (công nghiệp - xây dựng) và
khu vực 3 (dịch vụ).
Một số chỉ tiêu kinh tế (giai đoạn 2006-2010):
- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2010 đạt gần 12.500 tỉ đồng
(chỉ số giá năm 1994), nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006 - 2010 bình
quân 11%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,3% so với năm 2009 là tỉnh có
tốc độ tăng trưởng cao ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
- Cơ cấu nông, lâm thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ phấn
đấu năm 2015: 24.7% - 40.3 % - 35%.
25
- GDP bình quân năm 2010 là 16.8 triệu/người , phấn đấu năm 2015 là
43 triệu /người.
- Giá trị sản xuât công nghiệp 2010 ước đạt trên 20.000 tỷ. Hiện nay
các khu công nghiệp trên toàn tỉnh thu hút được 127 dự án, đã có 102 dự án
hoàn thành đầu tư đi vào sản xuất với tổng số vốn thực hiện đầu tư là 4.280,3
tỉ đồng thu hút 31.514 lao động.
- Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn năm 2009 là 310 triệu USD, năm
2010 là 430 triệu USD, dự kiến năm 2015 là 818 triệu USD.
- Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tới 2010 là 27.550 tỉ đồng
- Thu ngân sách năm 2010 đạt 2043 tỷ đồng, ước tính năm 2011 thu
2.500 tỷ đồng.
- Thành lập khu kinh tế biển tại 2 huyện Tiền Hải và Thái Thụy rộng
30.000 ha, phấn đấu năm 2020 Thái Bình trở thành tỉnh công nghiệp.