Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh thái nguyên từ năm 1997 đến năm 2011 - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU HƯƠNG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

THÁI NGUYÊN - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU HƯƠNG

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2016


ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ ............................................................................. vi
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 2
3. Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ........................................... 7
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................................. 7
5. Đóng góp của đề tài .................................................................................................. 9
6. Cấu trúc của đề tài .................................................................................................... 9
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU.................................................................................................................... 10
1.1. Lí luận chung về an sinh xã hội ........................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm ASXH ......................................................................................... 10
1.1.2. Nội dung của ASXH ..................................................................................... 14
1.1.3. Vai trò hệ thống ASXH ................................................................................ 19
1.2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................................. 21
1.2.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ ...................................................................... 21
1.2.2. Đặc điểm môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ............................ 23
1.2.3. Đặc điểm dân cư và xã hội ........................................................................... 26
1.2.4. Tình hình kinh tế .......................................................................................... 28
1.2.5. Cơ sở hạ tầng ................................................................................................ 30
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................................... 32

PHỤ LỤC

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH

:

An sinh xã hội

BHXH

:

Bảo hiểm xã hội

BHYT

:

Bảo hiểm y tế

ĐHSP

:

Đại học Sư phạm


Ths

:

Thạc sĩ

TP

:

Thành phố

Tr

:

Trang

TS

:

Tiến sĩ

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.



Bảng 2.3.

Tỷ lệ xã/ phường/ thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế phân theo
huyện/ thành phố/ thị xã ở tỉnh Thái Nguyên ......................................... 42

Bảng 2.4.

Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo tính đến 31/12 hàng năm trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2010 ......................................... 57

Bảng 2.5.

Số lao động được tạo việc làm trong năm trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 1997 - 2011 ................................................................ 61

Bảng 3.1.

Năng suất lao động các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ...... 64

Bảng 3.2.

Mức độ hiểu biết về các chính sách ASXH của các đối tượng đang
thụ hưởng chính sách .............................................................................. 76

Bảng 3.3.

Trình độ chuyên môn của các cán bộ làm công tác ASXH .................... 79

v

lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế, tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã hội
giữa các vùng, giới tính và nhóm dân cư ngày càng tăng. Trong khi các vùng đô thị
được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách, tăng trưởng kinh tế và hệ thống
an sinh xã hội, thì tình trạng nghèo vẫn giai dẳng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam
và ở mức độ cao. Cùng với việc nỗ lực trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
sự nghiệp giảm nghèo. Cùng với tăng trưởng kinh tế, điều hết sức quan trọng là phải
tạo ra các mạng lưới ASXH nhằm giúp các nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất khỏi
bị đẩy trở lại tình trạng nghèo đói do yếu sức khoẻ, tàn tật hay chi phí giáo dục gia
tăng cho con em họ.

1


Những năm qua, hệ thống ASXH của tỉnh Thái Nguyên cũng được hình thành
và phát triển. Được tái lập từ ngày 1-1-1997 trên cơ sở tách tỉnh Bắc Thái thành hai
tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn (theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX),
Thái Nguyên trên cơ sở vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa
phương đã lãnh đạo thực hiện chính sách ASXH đạt được nhiều thành tựu trên các
lĩnh vực: xoá đói giảm nghèo; lao động và việc làm; chính sách đối với người có
công với cách mạng; chính sách bảo hiểm, bảo trợ xã hội… Tuy nhiên, bên cạnh các
thành tựu, còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu: “Quá
trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến
năm 2011” để thực hiện luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng UN thông qua ngày 10/12/1948 viết:
“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã
hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần

Đinh Công Tuấn làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008) đã phân tích tổng
quan về hệ thống ASXH của châu Âu nói chung (khái niệm, quá trình hình thành và
phát triển; nhu cầu và thách thức trong việc cải cách hệ thống ASXH của châu Âu hiện
nay) và một số quốc gia điển hình như: Hệ thống ASXH theo mô hình “thị trường xã
hội” của Đức; hệ thống ASXH theo mô hình “xã hội dân chủ” của Thuỵ Điển; hệ thống
ASXH theo mô hình “thị trường tự do” của Anh. Ngoài ra, công trình còn chỉ ra những
thành công, hạn chế, xu thế cải cách hệ thống ASXH của một số nước châu Âu và đưa
ra nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay. Mặc dù còn một khoảng cách
không nhỏ giữa trình độ phát triển KT-XH của các nước châu Âu với nước ta, song
những kinh nghiệm trong đảm bảo ASXH hơn một thế kỷ qua vẫn là thực tiễn sinh
động, cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho Nhà nước xây dựng và thực hiện chính
sách ASXH phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay. Công trình “Mô hình phát
triển xã hội của một số nước phát triển châu Âu: Kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011) do tác giả Nguyễn Quang Thuấn và Bùi Nhật Quang
biên soạn lại chỉ ra cách thức nhà nước cung cấp các dịch vụ ASXH cho người dân ở
một số quốc gia phát triển ở châu Âu.
Trong các đánh giá về chính sách ASXH của Việt Nam không thể không
đề cập đến các công trình nghiên cứu của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới
(WB), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),... Chẳng hạn, trong khuôn khổ dự án
3


đối thoại chính sách, Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam đã công
bố các tài liệu liên quan như “Khuôn khổ hệ thống ASXH quốc gia hợp nhất ở
Việt Nam” (2005); “An sinh Việt Nam luỹ tiến đến mức nào?”; “Về bảo trợ và thúc
đẩy xã hội: Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả” của nhóm tác
giả thuộc WB,...
2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu về chính sách xã hội, hệ thống chính sách ASXH

điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về tiến bộ xã hội; một số quan
điểm hiện đại về tiến bộ xã hội; những vấn đề đạo đức và văn hoá của tiến bộ xã hội,...
Để thực hiện chính sách ASXH, nhà nước cần phải thể chế hoá và hình thành
hệ thống pháp luật về ASXH. Điển hình cho cách tiếp cận này là giáo trình “Luật
ASXH” của Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005). Công trình
này đã trình bày một cách toàn diện các vấn đề cơ bản như: Luật ASXH trong hệ
thống pháp luật Việt Nam; Quan hệ pháp luật ASXH và tranh chấp ASXH. Ngoài ra,
từ góc nhìn luật học, cuốn sách còn đề cập khá chi tiết đến các quy định của pháp
luật Việt Nam về các BHXH, ƯĐXH, cứu trợ xã hội.
Cuốn sách “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam hiện
nay” (Nxb Chính trị quốc gia, 2009) do tác giả Mai Ngọc Cường làm chủ biên trong
khuôn khổ đề tài “Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách
ASXH ở nước ta giai đoạn 2006 - 2015” là công trình nghiên cứu có hệ thống về chính
sách ASXH ở Việt Nam hiện nay. Công trình này đã khái quát, phân tích và đánh giá
thực trạng chính sách ASXH ở Việt Nam trong những năm gần đây và đề xuất nhiều giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH, tiến tới xây dựng mô hình ASXH phù
hợp với điều kiện KTTT định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Tác giả Nguyễn Văn Nhường trong cuốn “Bàn về chính sách ASXH với người
nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp: Nghiên cứu tại Bắc
Ninh” (Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2011) cũng đã đưa ra những khuyến
nghị nhằm hoàn thiện chính sách đảm bảo ASXH đối với nông dân trong diện thu hồi
đất để phát triển các khu công nghiệp.
Cuốn “ASXH ở Việt Nam hướng tới 2020” (Nxb Chính trị quốc gia, 2012)
do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên là tập hợp các bài viết trình bày về:1) Những vấn
đề lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về ASXH; 2) Những vấn đề về thực
tiễn ASXH ở nước ta.

5




6


3. Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về ASXH, đặc điểm địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đề
tài phân tích, tìm hiểu về quá trình thực hiện ASXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Từ
đó, đánh giá đúng thực trạng ASXH, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả việc thực hiện hệ thống chính sách ASXH trên địa bàn tỉnh thời gian tới.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện chính sách ASXH của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến
năm 2011 với các trụ cột chính, đó là bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế
(BHYT), trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội và xóa đói giảm nghèo.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát cơ sở lý luận về ASXH và địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Phân tích quá trình triển khai chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011 với bốn trụ cột chính.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách an sinh xã
hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Thái Nguyên theo đơn vị hành chính từ năm 1997 đến nay.
- Về thời gian: Các số liệu thống kê, phân tích chủ yếu từ năm 1997 đến năm 2011.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu chung: Các công trình nghiên cứu về chính sách ASXH của
các nhà khoa học trong và ngoài nước đã công bố xuất bản.
- Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Địa chí tỉnh
Thái Nguyên, Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2011),
Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên các năm, Báo cáo tổng kết các giai đoạn phát

dụng phổ biến trong quá trình thực hiện. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê để thu
thập số liệu các lĩnh vực và số liệu việc huy động các điều kiện cho việc thực hiện
ASXH. Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các lĩnh vực, điều kiện khác nhau để
rút ra sự khác nhau giữa những số liệu thống kê. Từ đó, rút ra được những kết luận
quan trọng, tìm ra nguyên nhân, đưa ra giải pháp cho vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
Phương pháp điền dã: Trong nghiên cứu đề tài, tác giả vâ ̣n du ̣ng phương pháp
nà y để khảo sá t thư c̣ tế quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn
tỉnh. Thực hiê ̣n đề tà i nà y, tá c giả đã tiế n hà nh quan sát, ghi chép, mô tả, chụp
ảnh, trao đổi với một số Sở, Ban, ngành, các lãnh đạo, các chuyên gia, ... về nhữ ng
8


vấn đề liên quan đến quy trình hoạt động và cách thức tổ chức, đánh giá hiệu quả
của chính sách an sinh xã hội.
5. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về ASXH và quá trình thực hiện ASXH
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Từ đó, khẳng định rõ bản chất, đặc điểm, mối quan hệ,
nội dung và những điều kiện quá trình thực hiện ASXH.
- Phân tích quá trình, đánh giá kết quả việc thực hiện ASXH trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
- Chỉ ra những tồn tại trong hệ thống ASXH của tỉnh; từ đó, tìm ra giải pháp
góp phần phát triển bền vững KT-XH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Các trụ cột của chính sách an sinh xã hội và quá trình thực hiện ở
tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2011)
Chương 3: Đánh giá quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của tỉnh
Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2011

cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự
hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc
làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của
những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải
đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn
10


lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ
tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp
bảo đảm cuộc sống cho họ.
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu
cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó,
xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các
hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn
tật. Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới. Sự
tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước
cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ
lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người
khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp.
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh,
rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi
và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội
cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những
người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không
may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng
tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo
vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính
trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH được hình thành

Theo nghĩa hẹp, Social Sec urity được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện
sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu
nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già
cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị
thiên tai, dịch hoạ… Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu
theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này. Bên cạnh khái niệm này, từ những
cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác
nhau về ASXH, chẳng hạn: Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người
Anh (1879 -1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và
bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.
Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo
đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho
con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ.
12


Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng:
“ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế
và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngưng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm
đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong;
sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản tiền trợ cấp giúp cho các gia đình
đông con” [65, tr. 11].
Đảm bảo ASXH là một yêu cầu của sự phát triển bền vững, là mục tiêu hướng
tới của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức rất sớm về
chính sách ASXH và tiếp cận nó từ góc độ quyền con người.
Hiến pháp năm 1946 đã xác định: “Người lao động được bảo đảm quyền việc
làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…”. Hiến pháp năm
1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo xã hội cho mọi người.

Thứ hai là Trợ giúp xã hội
Thứ ba là Ưu đãi xã hội
Thứ tư là Chính sách xóa đói giảm nghèo
BHXH, Bảo hiểm y tế
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại
bộ mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước. Cùng với sự phát triển kinh tế là
sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống ASXH, đặc biệt là chính sách BHXH (BHXH),
bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò trụ cột trong hệ thống ASXH, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có BHXH
thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc
cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho
những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm
đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập. Tuy nhiên, cũng do tính
lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn
toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH. Khi đề cập
đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là
BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ
SOCIAL INSURANCE. Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ
này là một. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là “sự bảo đảm thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp rủi ro hoặc sự kiện bảo
hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử
dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia
đình họ góp phần đảm bảo ASXH”. [65, tr. 19].
14


BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi
ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo
nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ

15


Đặc điểm của trợ giúp xã hội là: Tính pháp lí luôn bị hạn chế do đối tượng rộng,
nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước; chính sách trợ giúp
xã hội có liên quan tới tất cả cộng đồng xã hội không phân biệt vùng miền, tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc hay địa vị xã hội… Hoạt động để thực hiện chính sách trợ giúp xã hội
rất phong phú đa dạng. Hoạt động này không chỉ được thực hiện bởi Nhà nước, mà còn
được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế - xã hội, các đoàn thể và từng cá nhân trong
cộng đồng. Đồng thời hoạt động trợ giúp xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc
gia mà nó còn được thực hiện trên phạm vi quốc tế; Nhà nước thực hiện chính sách trợ
giúp xã hội chủ yếu thông qua chính sách thuế để huy động sự đóng góp của các cá
nhân, các tổ chức vào ngân sách này để trợ giúp cho những người có hoàn cảnh khó
khăn, không may gặp thiên tai, địch họa hoặc lâm vào hoàn cảnh yếu thế không tự lo
liệu được cuộc sống của mình.
Ưu đãi xã hội
Đất nước ta trải qua thời kỳ đấu tranh giữ nước chống giặc ngoại xâm kéo dài
vì thế khi thống nhất đất nước, ưu đãi người có công là một vấn đề chính trị, xã hội,
kinh tế văn hóa đặc biệt. Đến năm 2010, cả nước còn 1,5 triệu người hưởng ưu đãi
thường xuyên. Ngân sách nhà nước chi trả trợ cấp ưu đãi hàng tháng gần 20 tỷ
đồng/năm. Ưu đãi người có công trong hệ thống ASXH ở Việt Nam luôn là mối quan
tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Là chính sách đặc thù dành cho những người hoặc thân nhân những người đã
cống hiến, hi sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế. Chính sách ưu đãi xã hội về bản chất là ghi nhận, trân
trọng tôn vinh, đền ơn đáp nghĩa với người có công, chăm lo, bù đắp bằng vật chất,
tinh thần đối với những cống hiến, đóng góp, hi sinh của người có công cho sự
nghiệp cách mạng.
Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội là một việc làm tất yếu bởi vì bất kì chính
sách nào xây dựng cũng dựa trên nền tảng được xã hội công nhận. Đối với chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status