5
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay loài người đang bước vào nền văn minh mới với những
biến đổi sâu sắc, trực tiếp tác động tới từng dân tộc, từng quốc gia cả bề
rộng lẫn chiều sâu, làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, ảnh hưởng đến tình
cảm, tâm lý và đời sống của từng dân tộc.
Việt Nam là nước đa dân tộc, vì vậy chính sách dân tộc (CSDT) là
một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước
để tạo nên sự ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển. Cho nên việc xây dựng
và thực hiện CSDT đúng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc củng cố
khối đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển.
Các dân tộc ở Việt Nam có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực,
trong quá trình cùng tồn tại và phát triển. Từ khi ra đời và suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng thực hiện
chính sách bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ giữa các dân tộc cùng phát triển.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, tồn tại, song những thành tựu do cách
mạng đem lại cho đồng bào các dân tộc trong mấy chục năm qua là không
thể phủ nhận. Các dân tộc đã thoát khỏi thân phận người dân nô lệ, bị áp
bức, bóc lột, chia rẽ, khinh miệt, thậm chí có dân tộc bị nguy cơ đẩy đến bờ
diệt vong dưới thời đế quốc, phong kiến trước đây. Nạn đói rách, mù chữ,
bệnh tật trong cuộc sống thường ngày của nhân dân từng bước được khắc
phục và chăm lo tốt hơn. Đời sống đồng bào nhiều vùng được cải thiện rõ rệt.
Những thành tựu đã đạt được ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
mấy chục năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng. Song,
trên thực tế những thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với vị trí chiến lược
của miền núi và vùng dân tộc, chưa đạt được những mục tiêu cách mạng
mà Đảng đã đề ra.
sử hình thành, phát triển và đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
trong quá trình dựng nước và giữ nước, tình hình kinh tế, xã hội vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số, những vấn đề về thực hiện CSDT của Đảng nhằm
xây dựng phát triển củng cố khối đoàn kết bình đẳng dân tộc. Đã có những
công trình đi sâu nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo
dục, y tế, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, như:
"Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia - dân tộc" của GS Đặng
Nghiêm Vạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993; "Các dân tộc thiểu số
trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi" do GS Bế Viết Đẳng (chủ
biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; "Phát triển quan hệ dân tộc ở
Việt Nam hiện nay" của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà nội, 1997; "50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1995)", do
GS Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; "Bình
đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp" do GS.TS Trịnh
Quốc Tuấn (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; "Phát triển
kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa" của Lê Dụ Phong và Hoàng Văn Hoa, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1998; "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ
dân tộc ở Việt Nam" của TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS.TS Trịnh Quốc
Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đề tài khoa học 04-05:
"Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến dân tộc, sắc tộc
ở nước ta và trên thế giới, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta",
8
do GS Phan Hữu Dật làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2000... và nhiều công trình
nghiên cứu quan trọng khác có liên quan, do khuôn khổ của luận án tác giả
không thể thống kê đầy đủ. Những công trình khoa học này dưới nhiều góc
độ và mức độ khác nhau đã phân tích, làm rõ tình hình đặc điểm dân tộc ở
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới thực hiện CSDT ở
Bình Dương, Bình Phước hiện nay.
4. Cái mới của luận án
Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án làm rõ những vấn đề về
CSDT, thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước, rút ra những bài học kinh
nghiệm về vấn đề này. Trên cơ sở đó làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn đổi
mới thực hiện CSDT nói chung, ở tỉnh Bình Dương, Bình Phước nói riêng.
Đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể, thích hợp đổi mới thực hiện
CSDT làm tăng thêm tính hiệu lực, hiệu quả đối với đồng bào các dân tộc
thiểu số.
5. Cơ sở lý luận, và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu thực hiện đề tài là những nguyên
lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và CSDT. Đồng thời tác giả kế
thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân
văn có liên quan.
Cơ sở thực tiễn của luận án là kết quả điều tra nghiên cứu thực tế đời
sống xã hội và kết quả thực hiện CSDT ở Bình Dương, Bình Phước hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu của tác giả là sử dụng phương pháp lôgic
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp với điều tra, phỏng vấn tại địa bàn.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận án
10
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho việc xây dựng các nghị quyết, chủ trương về công tác dân
tộc và thực hiện CSDT ở Bình Dương, Bình Phước, cũng như những địa
phương có đặc điểm tình hình tương tự. Đồng thời, luận án có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chính
nở một nền văn học toàn thế giới. Hai ông cho rằng:
12
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các
phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản
lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn
minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn
thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người
dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục.
Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư
sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du
nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản [64, tr. 602].
Từ lập luận trên đây, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã đi tới khẳng định
về quá trình hình thành dân tộc:
Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán về
tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập
trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số
ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung
về chính trị. Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như
chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ,
chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành
một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất một luật
pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai
cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất [64, tr. 602-603].
13
- Tính chất, hình thức, quy luật của sự hình thành dân tộc trong sự
phát triển xã hội đều liên quan tới quá trình hình thành phát triển của
CNTB và tính chất lịch sử của các cộng đồng dân tộc.
- Vai trò quyết định của những nhân tố kinh tế, đặc biệt tính cộng
đồng của đời sống kinh tế trong sự hình thành và tiến bộ của các dân tộc,
trong sự phát triển các mối quan hệ dân tộc.
- Tác động to lớn của các nhân tố giai cấp của chủ nghĩa quốc tế vô
sản và chủ nghĩa dân tộc tư sản ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển các quá
trình dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc.
- ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành dân tộc của cộng đồng
ngôn ngữ và cộng đồng lãnh thổ.
- ảnh hưởng to lớn của văn hóa dân tộc, ý thức dân tộc và tính cách
dân tộc đối với sự phát triển của các dân tộc và những mối quan hệ qua lại
của họ trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng.
Dựa vào học thuyết của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đã cụ
thể, bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc về dân tộc, quan hệ dân tộc và
chính sách của Đảng Bôn-sê-vich về vấn đề dân tộc.
15
Lê-nin cho rằng, dân tộc là sản phẩm hợp quy luật của hình thái xã
hội TBCN, đồng thời cũng là hình thức phát triển tất yếu của đời sống xã
hội. Xuất phát từ cơ sở đó, Lê-nin làm sâu sắc thêm quan niệm mácxít về
mối quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp và dân tộc, cũng như giữa Nhà
nước và dân tộc, xác định vai trò ngôn ngữ trong đời sống dân tộc và tính
chất giai cấp của nền văn hóa dân tộc. Qua các tác phẩm của Lê-nin, dân
tộc là một hiện tượng xã hội có tính chất phức tạp; có cơ sở từ những quan
hệ kinh tế. Những quan hệ kinh tế này giúp cho việc đoàn kết dân cư của
sống trong một khu vực, có chung huyết thống, có chung ngôn ngữ, văn
hóa, phong tục tập quán, tâm lý tư tưởng và trình độ phát triển.
17
Trong tiếng Việt, từ dân tộc thiểu số chỉ có nghĩa phân biệt số đông
và số ít, hoàn toàn không có nghĩa là phân biệt đối xử trong quan hệ xã
hội. Trên thế giới, trước đây từ này chỉ những nhóm người sống ở vùng xa
xôi hẻo lánh, bị đối xử không bình đẳng. Ví dụ người Do Thái ở châu Âu,
một thời gian dài, bị phân biệt đối xử chỉ vì họ là thiểu số và theo một tôn
giáo riêng. Người Ba Lan ở Đức và người Ai-rơ-len ở Anh trước đây cũng
từng chịu cảnh ngộ tương tự.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhận
thức của con người đối với đặc trưng văn hóa và giá trị nhân văn của các
dân tộc đã được nâng cao. Quyền bình đẳng dân tộc đã được thừa nhận
rộng rãi. Một nền văn hóa dân tộc này không được phép thống trị, đồng hóa
hoặc thay thế một nền văn hóa dân tộc khác, dù đó là dân tộc lớn hay nhỏ.
Sự phân biệt đối xử và kỳ thị dân tộc đang bị lên án khắp nơi. Trong điều
kiện đó, khái niệm dân tộc thiểu số (ethnic group) không còn có ý nghĩa
phân biệt đối xử.
18
Theo một nghĩa rộng hơn, khái niệm dân tộc còn có thể hiểu:
1- Những cộng đồng người được hình thành qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau, có trình độ phát triển khác nhau: dân tộc nguyên thủy, dân tộc cổ đại,
dân tộc cận hiện đại; 2- Những cộng đồng người có chung văn hóa, ngôn
ngữ và sinh sống trong những vùng rộng lớn vượt qua biên giới quốc gia như
chức của quần chúng.
Trên phương diện khái quát nhất, dân tộc là một cộng đồng người
đã được hình thành về mặt lịch sử, dân tộc là sự kế thừa phát triển của bộ
lạc và bộ tộc, nhưng tất cả những dấu hiệu của dân tộc đều khác nhau về
chất so với những dấu hiệu của các cộng đồng tiền dân tộc. Việc nghiên
cứu bản thân dân tộc cũng như toàn bộ tập hợp những hiện tượng và
những quá trình có liên quan với nó xét trong sự thống nhất biện chứng cả
hai phương diện xã hội và tộc người. Điều đó có thể suy nghĩ sâu sắc hơn
về một loạt vấn đề của thời đại hiện nay có tính chất cấp bách về mặt tư
tưởng và chính trị liên quan tới vấn đề dân tộc.
Trong lịch sử, dân tộc xuất hiện trước hết như là dân tộc TBCN và
sau đó, do kết quả của những chuyển biến cách mạng, khi CNXH thay thế
CNTB thì dân tộc TBCN được cải tạo thành dân tộc XHCN. Sự hình thành
dân tộc XHCN nói chung khác về cơ bản với sự xuất hiện và hình thành
dân tộc TBCN. Dưới CNXH, dân tộc được cải tạo và phát triển từ những
loại hình dân tộc trước đó. Kể cả những bộ tộc trước đây chưa phát triển
thành dân tộc cũng được cải tạo thành dân tộc XHCN. Các dân tộc XHCN
thường xuất hiện do kết quả của việc cải tạo cách mạng đối với các dân tộc
TBCN. Quá trình cải tạo này, có thể phân biệt hai giai đoạn: a) Sự hình
thành dân tộc XHCN, bắt đầu từ việc thiết lập nền chuyên chính của GCVS
20
và hoàn thành về cơ bản việc xây dựng xã hội XHCN. b) Sự phát triển hơn
nữa dân tộc XHCN theo hướng củng cố nó, làm cho nó phồn thịnh và xích
lại gần với các dân tộc XHCN khác. Sự phát triển này hoàn thành với việc
xây dựng xã hội CSCN và việc chuyển các dân tộc XHCN thành các dân
tộc CSCN.
Các dân tộc XHCN được hình thành do kết quả của việc cải tạo dân
quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc theo quan điểm, ý thức hệ của giai
cấp mình. Các phương thức giải quyết thường được gọi là "chính sách dân
tộc". Như vậy, CSDT thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền thống trị xã
hội, nắm quyền lãnh đạo và quản lý xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất
định. Mục đích của chính sách đó nhằm điều chỉnh các mối quan hệ dân
tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia theo quan điểm của giai
cấp thống trị tại quốc gia đó. CSDT cũng là cơ sở để giải quyết mối quan
hệ giữa các quốc gia dân tộc trong khu vực và quốc tế.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt như đã nêu, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác-Lênin rất quan tâm đến CSDT. Trong "Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản", Mác và Ăng-ghen khẳng định rằng: "Hãy xóa bỏ tình trạng
người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị
xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn
nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo" [64, tr. 624].
Để giải quyết vấn đề dân tộc phải luôn gắn với vấn đề giai cấp, chỉ
có đấu tranh thủ tiêu giai cấp, mới xóa bỏ được nạn người bóc lột người và
tình trạng áp bức dân tộc. Ph. Ăng-ghen kết luận, công nhân tất cả các nước
đều giống nhau, lợi ích của họ thống nhất, kẻ thù của họ cũng giống nhau,
cho nên họ cần hiệp lực đấu tranh chung và xây dựng khối liên minh công
nhân tất cả các dân tộc đối lập với liên minh GCTS các dân tộc.
Tư tưởng đoàn kết GCCN toàn thế giới, đấu tranh chống áp bức bóc
lột, thủ tiêu chế độ TBCN đi đến thủ tiêu giai cấp, thủ tiêu tình trạng người
22
bóc lột người vừa là nguyên tắc lý luận, đồng thời cũng là nền tảng của
CSDT mácxít của GCCN trong cuộc đấu tranh chống GCTS. Điều đó thể
hiện tập trung thái độ chính trị của những người cộng sản, thái độ của
GCCN nói chung trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm đánh đổ CNTB.
thành phổ biến trên thế giới. Khi nghiên cứu và giải quyết vấn đề dân tộc,
V.I. Lê-nin đã phát hiện hai xu hướng có tính quy luật của phong trào dân
tộc. Người cho rằng:
Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, có hai xu hướng
lịch sử trong vấn đề dân tộc. Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnh
của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh
chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc.
Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ
quan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách
các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, của
đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học v.v...
Cương lĩnh dân tộc của những người mácxít chú ý đến cả
hai xu hướng đó [60, tr. 158].
Xuất phát từ quan điểm khoa học, luận chứng về vấn đề dân tộc như
vậy, Lê-nin đề ra Cương lĩnh dân tộc của các Đảng Cộng sản, đó chính là
linh hồn và nội dung cơ bản của CSDT. "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;
các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại:
đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và
kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân" [61, tr. 375]. Đây chính là
tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về CSDT.
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:
Bình đẳng dân tộc là quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa số
hay thiểu số, trình độ kinh tế, văn hóa cao hay thấp, không phân biệt chủng
tộc, mầu da... Quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh
24
vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đây cũng là cơ sở
pháp lý chung giải quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong các khu
hiện bình đẳng về chính trị, những người mácxít phải đấu tranh không
khoan nhượng chống chủ nghĩa dân tộc dưới mọi mầu sắc. Lê-nin chỉ rõ:
"Chủ nghĩa Mác không thể điều hòa được với chủ nghĩa dân tộc, dù là chủ
nghĩa dân tộc "công bằng", "thuần khiết", tinh vi và văn minh đến đâu đi
nữa [60, tr. 167].
Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa - xã hội có tầm quan trọng đặc
biệt và liên quan đến nhiều yếu tố dân tộc. Cương lĩnh về vấn đề dân tộc do
Lê-nin soạn thảo đã vạch trần mưu đồ chính trị của những kẻ cơ hội khi
nêu khẩu hiệu "tự trị dân tộc về văn hóa". Lê-nin chỉ rõ rằng: đòi "tự trị dân
tộc về văn hóa" chính là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tinh vi nhất, độc
hại nhất - thứ chủ nghĩa này là hệ tư tưởng của GCTS, hoàn toàn thù địch
với chủ nghĩa Mác. Lê-nin khẳng định:
Đối với những người mácxít, vấn đề khẩu hiệu "văn hóa
dân tộc" có một ý nghĩa to lớn, chẳng những vì nó xác định nội
dung tư tưởng của toàn bộ công tác tuyên truyền và cổ động của
chúng ta về vấn đề dân tộc, là công tác khác với công tác tuyên
truyền tư sản, mà còn vì toàn bộ cái cương lĩnh về tự trị dân tộc
về văn hóa trứ danh đều dựa trên khẩu hiệu đó [60, tr. 166].
Vấn đề bình đẳng trong văn hóa xã hội phải luôn luôn gắn liền với
bình đẳng về kinh tế, chính trị. Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và các
hình thức tinh vi xảo quyệt của chủ nghĩa dân tộc núp dưới chiêu bài "tự trị
dân tộc về văn hóa" hoặc đấu tranh cho mọi sự phát triển dân tộc cho "nền
văn hóa dân tộc" là xác định đúng quan hệ giữa kinh tế, chính trị và văn
hóa trong xã hội tư bản chống các chiêu bài mị dân thông qua khẩu hiệu đòi
"tự trị dân tộc về văn hóa". Lê-nin viết: "Tách lĩnh vực trường học riêng ra, trước hết đó là một điều không tưởng phi lý, vì không thể nào tách trường
26
học (cũng như "văn hóa dân tộc" nói chung) ra khỏi kinh tế và chính trị
trái lại GCVS tán thành bất cứ cái gì giúp vào việc xóa bỏ sự phân biệt dân
tộc, vào việc phá hủy những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc; tán thành
bất cứ cái gì làm cho mối liên hệ giữa các dân tộc ngày càng mật thiết, bất
cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất giữa các dân tộc. V.I. Lê-nin đã phân tích và
kết luận:
29
Nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc tư sản là sự phát triển
dân tộc nói chung, do đó mà sinh ra tính đặc biệt của chủ nghĩa
dân tộc tư sản, những cuộc xung đột dân tộc không có lối thoát.
Còn cộng sản chủ nghĩa thì không những không bảo vệ sự phát
triển dân tộc của mọi dân tộc, mà trái lại nó đề phòng cho quần
chúng khỏi mắc những ảo tưởng như thế, nó chủ trương để cho
lưu thông tư bản chủ nghĩa được tự do đầy đủ nhất, và hoan nghênh
mọi sự đồng hóa dân tộc, trừ sự đồng hóa bằng bạo lực hoặc dựa
trên những đặc quyền [60, tr. 169].
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, các tập đoàn đế quốc đã thực
hiện cuộc đấu tranh giành quyền lợi. Một mặt, bản chất phản động hiếu
chiến của các chính phủ tư sản được bộc lộ; mặt khác, bản chất ích kỷ giả
nhân giả nghĩa của GCTS cũng được phơi bày. Để đạt được mục đích giành
giật thị trường, giành quyền chi phối các lợi ích quốc tế, các tập đoàn
TBCN đã không từ một thủ đoạn bỉ ổi nào lừa bịp, lôi kéo quần chúng vào
vòng xoáy lốc chiến tranh phi nghĩa. Tránh cho GCCN không bị mắc lừa
GCTS và bọn cơ hội chủ nghĩa, năm 1915, khi viết tác phẩm "Giai cấp vô
sản cách mạng và quyền dân tộc tự quyết" Lê-nin đã chỉ rõ:
Chủ nghĩa đế quốc là sự áp bức ngày càng tăng của một dúm
cường quốc lớn đối với các dân tộc trên thế giới, là thời đại
những cuộc chiến tranh giữa các cường quốc lớn ấy để mở rộng và