Tiểu luận giải pháp thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh gia lai - Pdf 57

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài:..............................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:............................................3
2.1. Mục đích:....................................................................................................3
2.2. Nhiệm vụ:....................................................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:..............................................................4
3.1. Đối tượng:..................................................................................................4
3.2. Phạm vi nghiên cứu:...................................................................................4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:...................................................4

B. NỘI DUNG............................................................................................ 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC................4
1.1. Một số khái niệm liên quan:........................................................................4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI.........................................................12
2.1. Đặc điểm tình hình chung:........................................................................12

C. KẾT LUẬN.......................................................................................... 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................31
1. Hồ Chí Minh toàn tập - (Nxb. Chính trị quốc gia - 2000)............................31
2. Lê-Nin toàn tập – (Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật năm 2005)................31
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Trong suốt quá trình lịch
sử, các dân tộc Việt Nam luôn gắn bó với nhau trong các cuộc đấu tranh sinh tồn,
chống lại thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, giặc ngoại xâm, tương trợ nhau
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhận thức được sức mạnh to lớn của đoàn
kết các dân tộc ở nước ta, ngay từ khi mới ra đời, chính sách dân tộc và đại đoàn



24 phường, 14 thị trấn).


3

Dân số tỉnh Gia Lai là 1.414.424 người, với 34 dân tộc anh em cùng sinh
sống trên địa bàn tỉnh, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 632.356 người,
chiếm khoảng 44,7% dân số toàn tỉnh. Hiện nay, tỉnh có 34.873 hộ nghèo, chiếm
tỷ lệ 10,04% tổng số hộ dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó hộ nghèo DTTS là
30.441 hộ, chiếm tỷ lệ 87,29% tổng số hộ nghèo. Tổng số hộ cận nghèo 34.956
hộ, chiếm tỷ lệ 10,06 % tổng số hộ dân. Trong đó, hộ cận nghèo DTTS 26.801
hộ, chiếm tỷ lệ 76,67% tổng số hộ cận nghèo.
Trong thời gian qua, chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước và chính quyền địa phương, nhiều chính sách, chương trình dự án
nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào dân tộc
trong tỉnh đã được triển khai thực hiện như: các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng,
hỗ trợ phát triển sản xuất, nhà ở,… Qua đó đã đạt được nhiều kết quả khích lệ,
nhất là trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Diện mạo vùng đồng bào dân tộc đã
có nhiều thay đổi, kinh tế có nhiều bước phát triển, đời sống vật chất của bà con
được cải thiện…
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong những năm
gần đây cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, một số chính sách giải quyết chưa
kịp thời dẫn đến hiệu quả chưa cao. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ
cận nghèo và tái nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; chênh lệch mức
sống thu nhập trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lớn. Vì vậy, giải quyết
vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là vấn đề cấp thiết đặt ra cho
Đảng bộ và chính quyền tỉnh Gia Lai trong quá trình phát triển và hội nhập.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách dân tộc
trên địa bàn tỉnh Gia Lai” để làm tiểu luận cuối khóa, với mong muốn tìm ra
những giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
1.1. Một số khái niệm liên quan:
1.1.1. Khái niệm dân tộc
1.1.1.1.Theo nghĩa thông thường:
Dân tộc chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ với ba đặc trưng
chính là: cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng về văn hóa, ý thức tự giác tộc người.
1.1.1.2. Khái niệm dân tộc theo nghĩa rộng:


5

Dân tộc chỉ một cộng đồng người được hình thành trong quá trình phát
triển của lịch sử được sự chỉ đạo của một nhà nước, trên cơ sở có một lãnh thổ
chung ổn định, một nền kinh tế chung, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao
tiếp và một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc.
1.1.2. Khái niệm chính sách:
Có nhiều quan niệm khác nhau về “chính sách”, tuỳ theo góc độ nghiên cứu
khác nhau mà các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận chính sách khác nhau:
- Nhóm nghiên cứu của Đại học kinh tế quốc dân cho rằng: “ Chính sách là
hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp và quản lý được thể chế hoá bằng
pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước”
- Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “ Chính sách là sách lược và kế
hoạch cụ thể đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và
tình hình thực tế”.
Như vậy có thể coi, chính sách là những phương thức hành động mà chủ
thể quản lý lựa chọn thực hiện nhằm đạt một hoặc nhiều mục tiêu mà họ xác định
cho hệ thống quản lý của mình.
1.1.3. Khái niệm chính sách dân tộc:
Chính sách dân tộc là một hệ thống những quan điểm chính trị của một giai
cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước để giải quyết vấn đề dân tộc và mối quan

“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc:
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc:
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập một cách toàn diện vấn đề dân tộc và đề
ra những giải pháp triệt để giải quyết vấn đề dân tộc. Vấn đề dân tộc và vấn đề
giai cấp có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định,
sự áp bức bốc lột của giai cấp này đối với giai cấp khác là nguồn gốc áp bức dân
tộc này đối với dân tộc khác. Cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi
khi gắn liền với cách mạng vô sản. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, vấn đề dân
tộc càng trở nên quan trọng và bức thiết, mối quan hệ đấu tranh giữa giai cấp vô
sản với giai cấp tư sản và cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa chống chủ
nghĩa thực dân đế quốc càng trở nên chặt chẽ. Mác Lênin đã phát triển học thuyết
Mác về vấn đề dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm những
nội dung cơ bản: thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, thực hiện quyền
dân tộc tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại.


7

1.2.2. Quan điểm của Tư tưởng Hồ chí Minh về dân tộc:
Quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với các dân tộc thiểu số được
thể hiện nhất quán trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta mà nhiều
lần Người nhấn mạnh là “Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là:
Đoàn kết các dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam kháng chiến chống thực dân
Pháp và Đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh đã nhận thức toàn diện và sâu sắc ý nghĩa sống
còn cái khối đại đoàn kết toàn dân đối với sự tồn vong của đất nước. Trong thư gửi Đại
hội các dân tộc thiểu số miền Nam, Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xem đây là
một trong những chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của
cách mạng Việt Nam. Vì vậy tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng CS Việt Nam
(tháng 3/1935) đã thông qua Nghị quyết “Về công tác trong các dân tộc thiểu
số”, xác định rõ: “Đại hội đảng xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc
thiểu số là một lực lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ
phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ
phận của cuộc cách mạng thế giới”.
- Hiến pháp năm 1946: “ Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc
dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ
chung”.
- Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1951) đã
quyết nghị: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc. Kiên
quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây hằn thù chia rẽ
các dân tộc của đế quốc và lũ tay sai. Cải thiện đời sống cho các dân tộc thiểu
số, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng
tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ở các địa phương thiểu số”.
- Hiến pháp năm 1959: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nước
thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều
bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vu gìn giữ và phát triển
sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc
đều bị nghiêm cấm.”
- Hiến pháp năm 1992: “Nước CHXHCN Việt nam là nhà nước thống nhất
của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện
chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi
hành vi kỳ thi, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết,
giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống và
văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về


thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân
lực; chăm lo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị,
bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển
chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.”


10

- Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc
và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước
ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt nam đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng và
giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo về tổ quốc Việt Nam Xã hội
chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói
giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá,
tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,
vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng
kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn với phát triển kinh tế
với bảo đảm an ninh quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò
những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số - cán bộ công tác ở
vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng
nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị,
hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”.
- Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục xác định: “Tiếp tục
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng,
đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát
triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có

4. Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo nhất
nước (Nghị quyết 30a).
5. Các chính sách phát triển kinh tế theo vùng: Quyết định 168 - phát triển
kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực Tây Nguyên; Quyết định 173 - phát triển kinh
tế - xã hội các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long; Quyết định 186 - phát
triển kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc…
6. Hệ thống các chính sách, chương trình dự án ưu đãi cho từng lĩnh vực,
ngành:
- Chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng, vật tư thiết yếu.
- Chính sách cấp không thu tiền cho 20 ấn phẩm báo, tạp chí phát hành tại
vùng đặc biệt khó khăn.
- Chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng.
- Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường cho khu vực nông thôn,
miền núi.
- Chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình.


12

- Chương trình y tế với các mục tiêu phòng chống các dịch bệnh nguy
hiểm, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.
- Chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình cho vùng đặc biệt khó
khăn. Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá - thông tin.
- Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, đào tạo (trong đó có
chương trình dạy và học tiếng nói, chữ viết cho một số DTTS; Chương trình cử
tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường Cao đẳng, đại học...)
- Chiến lược bảo vệ môi trường miền núi và bảo vệ đa dạng sinh học...

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

theo hướng Bắc Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiện thuận lợi
để giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, cả
nước và quốc tế.
2.1.2. Tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội:
Theo số liệu thống kê của Cục thống kê đến nay tỉnh Gia Lai có
1.414.424 người, với 34 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh, trong
đó đồng bào dân tộc thiểu số là 632.356 người, chiếm khoảng 44,7% dân số toàn
tỉnh. Khi mới chia tách, Gia Lai là tỉnh thuần nông, xuất phát điểm của nền
kinh tế - xã hội rất thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, giao thông đường bộ đi
lại khó khăn, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu
người còn rất thấp so với các tỉnh trong khu vực và cả nước.
Theo thống kê đến cuối năm 2015 thu nhập bình quân đầu người
khoảng 32 triệu đồng/người/năm. Đời sống kinh tế của người dân còn rất


14

nhiều khó khăn, trong suốt thời gian qua, với quyết tâm và sự nổ lực phấn đấu
của Đảng bộ, quân và dân Gia Lai đã tập trung đầu tư xây dựng và phát triển,
tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh với nhiều chuyển biến tích cực,
đạt nhiều thành tựu đáng kể.
- Tình hình kinh tế của tỉnh đến năm 2018 vẫn tiếp tục được duy trì tăng
trưởng tốt. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 là 45,36 triệu đồng, đạt 100%
kế hoạch. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 59.788 tỷ đồng (theo giá so sánh
với năm 2015), tăng 9.4% so với cùng kỳ năm 2017. Đời sống người dân có nhiều
cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi. Đồng bào các dân tộc tập trung lao
động sản xuất, các chương trình dự án, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc triển
khai thực hiện tốt có hiệu quả, giúp đồng bào giảm bớt những khó khăn, nâng cao
đời sống, phát triển sản xuất, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Kinh tế nông nghiệp - nông thôn phát triển khá toàn diện. Cơ sở hạ tầng

dựng nhà ở cho đối tượng khó khăn. Công tác đền ơn, đáp nghĩa với đối tượng
chính sách tiếp tục được thực hiện tốt. Đời sống tín ngưỡng của đồng bào các tôn
giáo luôn được quan tâm. Chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo được
triển khai thực hiện đồng bộ, các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo được
cho phép tổ chức theo đúng quy định Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
2.1.3. Những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện chính sách dân tộc:
2.1.3.1. Thuận lợi:
Thời gian qua được sự quan tâm của Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung
ương, sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự phối hợp chặc chẽ giữa các Sở,
Ban, ngành và UBND huyện, thị xã, thành phố, cấp ủy, chính quyền cấp xã nên
các Chương trình, dự án đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phát huy
được tính hiệu quả, đã giải quyết được nhu cầu thiết yếu cho đồng bào dân tộc. Từ
đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân vùng
đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.
Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc của Đảng và Nhà nước được triển khai
ở địa phương đạt kết quả tốt, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
cho các xã đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống của hàng ngàn hộ đồng
bào dân tộc. Từ đó bà con dân tộc ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước ta. Trước tình hình đó cũng góp phần đảm bảo tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn vùng đồng bào dân tộc.
Đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn, làng từng bước được nâng cao về năng lực
quản lý, điều hành, thực hiện tốt các chính sách, chương trình, dự án tại địa
phương. Hệ thống chính trị ngày càng được tăng cường và củng cố, sức mạnh
khối đại đoàn kết của toàn dân tộc đã trở thành nhân tố quyết định trên mọi lĩnh


16

vực. Bộ mặt nông thôn vùng dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai thay đổi và có nhiều
khởi sắc.



17

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc và công tác dân tộc
thiểu số có vị trí chiến lược quan trọng, chính vì thế đã ban hành nhiều Nghị
quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, về đại đoàn kết
dân tộc, về công tác dân tộc như: Chỉ thị số 28/CT-TTg năm 2014 của Thủ Tướng
Chính phủ Về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc;
Quyết định số 1971/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về tăng cường công tác
dân tộc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để tiếp tục cụ thể hóa
đường lối chính sách của Đảng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết dân tộc, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 23 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
và Nghị quyết số 24 về công tác dân tộc.
Theo đó, Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung đẩy
mạnh phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc ở các xã, thôn, làng đặc biệt khó
khăn, thông qua 13 chương trình dự án hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, qua các chương
trình, dự án đã góp phần nâng cao đời sống, tạo chuyển biến khá tốt, cơ sở hạ tầng
được đổi mới tạo thuận lợi trong đi lại sinh hoạt của bà con, số học sinh dân tộc bỏ
học có giảm nhờ vốn hỗ trợ trong Chương trình 112/QĐ-TTg, nhiều hộ có đất ở, đất
sản xuất, giải quyết được việc làm tốt hơn để ổn định cuộc sống.
2.2.2. Kết quả thực hiện các Chương trình dự án:
2.2.2.1. Chương trình 135:
a. Tiểu Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất:
Trong 03 năm 2015 - 2017: Hỗ trợ cho năm 2015 là 77 xã đặc biệt khó
khăn và 213 thôn, làng đặc biệt khó khăn; năm 2016-2017 là 74 xã ĐBKK và
214 thôn, làng ĐBKK. Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ phát triển sản xuất 03
năm: 93.297 triệu đồng. nguồn vốn này đầu tư hỗ trợ cho các hộ nghèo với các
chương trình hỗ trợ bò giống, phân bón và giống lúa lai, ngô lai; Cấp 2.867 con

* Công trình duy tu bảo dưỡng:
Trong 03 năm 2015 và 2017: Kinh phí duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng các
xã, thôn ĐBKK: 21.293 triệu đồng. Triển khai thực hiện duy tu, bảo dưỡng 256
công trình về giao thông, nhà sinh hoạt cộng đồng, nước sinh hoạt, trường họ,
thủy lợi. Kinh phí duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng các xã, thôn ĐBKK năm
2018: 6.617 triệu đồng. Đến nay các huyện, thị xã đã triển khai thực hiện duy tu
bảo dưỡng các công trình với khối lượng công việc ước đạt 60%. Vốn giải ngân
ước đạt 3.309 triệu đồng. Đến cuối năm ước đạt 100% về khối lượng công việc
và giải ngân.
* Tiểu dự án Nâng cao năng lực cộng đồng và cán bộ cơ sở:


19

Vốn phân bổ Dự án Nâng cao năng lực 02 năm 2016 và 2017 là: 7.579
triệu đồng, các huyện đã tổ chức tập huấn cho cộng đồng và cán bộ thôn: 166
lớp với 7.939 lượt người tham gia, trong đó cán bộ thôn, làng 3.540 lượt người
và người dân 4.399 lượt người.
- Tập huấn cho cán bộ cơ sở: Cán bộ thôn, làng đặc biệt khó khăn cán bộ
xã đặc biệt khó khăn. Ban Dân tộc tổ chức tập huấn 15 lớp với 791 lượt người.
-Tổ chức đi tham quan, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm mô hình PTSX ngoài
tỉnh do Ban Dân tộc tổ chức là 03 đợt với 104 lượt người là cán bộ thôn tham
gia.
Tổng kinh phí thực hiện Tiểu dự án Nâng cao năng lực cộng đồng và cán
bộ cơ sở toàn tỉnh 2 năm là: 6.569 triệu đồng. Đạt 86,7 % kế hoạch.
- Vốn phân bổ Dự án Nâng cao năng lực năm 2018 là: 6.918 triệu đồng.
Đến nay, các huyện đã triển khai 85 lớp với 4.228 lượt người tham gia, trong đó
có 937 cán bộ thôn, làng và 3.291 người dân tham gia. Vốn đã giải ngân 2.963
triệu đồng đạt 61%. Một số huyện đang tiếp tục triển khai.
2.2.2.2. Chương trình 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ

9.163 tấn muối Iốt, 6.000 con bò giống, 4.326 tấn giống cây trồng và phân bón
các loại cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo ở các xã, thôn, làng đặc biệt
khó khăn, đây là những mặt hàng cơ bản đã góp phần mở rộng diện tích sử dụng
giống mới như: lúa lai, bắp lai… đã làm tăng năng suất cây trồng tại nhiều địa
phương, góp phần ổn định cuộc sống cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng đặc biệt khó khăn.
2.2.2.6. Thực hiện Quyết định số 2472/QĐ-TTg ngày 28/12/20111, Quyết
định số 633/QĐ-TTg ngày 19/4/2016 và Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày
16/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí
cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn: Giai đoạn 20152018, tỉnh đã giao cho Ban Dân tộc phối hợp với Bưu điện tỉnh cấp khoảng
2.848.284 ấn phẩm báo và tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng
đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Chính sách cấp báo, tạp chí cho vùng dân
tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn là rất cần thiết, nhằm đưa thông
tin kịp thời đến cho người dân về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng của tỉnh, địa phương...
2.2.2.7 Thực hiện Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ
tướng Chính phủ về triển khai Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn
nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020”:
UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 5762/KH-UBND về thực hiện Đề án
“Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân


21

tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020”: Giai đoạn 2016-2018, tỉnh đã tổ chức
được 18 lớp tập huấn, hơn 1.948 người tham gia; triển khai tuyên truyền trên
Đài phát thanh và truyền hình tỉnh; thực hiện mô hình điểm giảm thiểu tình
trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại xã Krong, huyện Kbang; cấp
phát các ấn phẩm tuyên truyền, truyền thông nhằm giảm thiểu tình trạng
tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trên địa bàn tỉnh, tổng kinh phí thực

chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự phối hợp chặc chẽ giữa các Sở, Ban, ngành
và UBND huyện, thị xã, thành phố, cấp ủy, chính quyền cấp xã nên các Chương
trình, dự án đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phát huy được tính
hiệu quả, đã giải quyết được nhu cầu thiết yếu như nhà ở, đất ở, đất sản xuất và
giải quyết việc làm,…Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân
dân vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.
Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc của Đảng và Nhà nước được triển khai ở
địa phương đạt kết quả tốt, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho
xã đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống của hàng ngàn hộ đồng bào dân
tộc, bà con dân tộc ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước ta. Qua đó phát huy được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện đúng
nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đở nhau cùng phát triển, góp phần
vào sự phát triển chung của tỉnh nhà. Đồng thời góp phần đảm bảo tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn vùng đồng bào dân tộc.
Các chính sách như hỗ trợ nhà ở, nước sạch, cử tuyển, đào tạo cán bộ, dạy
nghề, hỗ trợ phát triển sản xuất đang được triển khai và đạt kết quả khá tốt.
Chương trình 135 và các Chương trình hỗ trợ đầu tư khác là một chủ
trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tế kinh tế - xã hội của các xã,
thôn, làng đặc biệt khó khăn, được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và
nhân dân nhiệt tình ủng hộ.
2.3.1.2. Nguyên nhân đạt được:
Kết quả đầu tư của chương trình 135 cùng với sự lồng ghép với các
chương trình dự án khác như Chương trình giảm nghèo, chính sách theo
Quyết định 134/2004/QĐ-TTg... đã có tác động to lớn làm cho bộ mặt nông
thôn các xã vùng đặc biệt khó khăn có những thay đổi cơ bản, nhất là cơ sở hạ
tầng, hệ thống giao thông nông thôn, trường học, trạm xá... các lĩnh vực y tế,
giáo dục, đào tạo, văn hóa xã hội có bước chuyển biến tích cực; công tác
giảm nghèo đạt kết quả cao, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt.
Chương trình 135 là một chủ trương của Đảng, nhà nước được các cấp
các ngành quan tâm chỉ đạo với quyết tâm cao đã làm thay đổi bộ mặt nông

Công tác tuyên truyền trong đồng bào dân tộc tuy được quan tâm nhưng
chậm đổi mới về hình thức, nội dung, phương pháp chưa phù hợp với từng đối
tượng, thiếu cán bộ có khả năng tuyên truyền bằng tiếng dân tộc, nhất là vùng
đồng bào Bahnar.
Kết quả thực hiện chính sách dân tộc đạt được chỉ là bước đầu, còn nhiều
chính sách đầu tư không đồng bộ về nguồn lực, không đáp ứng đủ trong diện
rộng, định mức đầu tư thấp khó thực hiện.


24

Việc tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án, chính sách khác cho các
thôn, làng thụ hưởng 135, xã khu vực III để phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội còn
thấp. Cơ sở kết cấu hạ tầng, đời sống của đồng bào tuy đã có bước đổi mới, phát
triển nâng lên, tuy nhiên cũng còn khó khăn, số hộ thoát nghèo nhanh nhưng chưa
bền vững, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo còn cao, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu
số.
Công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ làm công tác dân tộc chưa thực hiện
tốt, việc tiếp nhận, bố trí sử dụng sinh viên là người dân tộc sau khi tốt nghiệp ra
trường chưa được quan tâm đúng mức.
2.3.2.2. Nguyên nhân tồn tại:
Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập; trình độ chuyên môn,
năng lực tổ chức quản lý của một số bộ phận cán bộ xã chưa đáp ứng được yêu
cầu, nhiệm vụ đề ra.
Một số chính sách dân tộc triển khai gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa
cao, do nội dung và phương thức triển khai chưa phù hợp với điều kiện về trình
độ phát triển và điều kiện đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc cụ thể như
chính sách hỗ trợ sách báo, tạp chí với tổng kinh phí Nhà nước đầu tư rất lớn
nhưng hầu hết các loại sách báo, tạp chí do cơ quan Trung ương tự chọn và tự
mua gửi về các cơ quan ở địa phương, địa phương không được chọn loại sách

mẽ trong nhận thức, hành động của cán bộ và nhân dân, nhất là trong già làng,
trưởng bản, những người có uy tín trong đồng bào dân tộc Bahnar. Cần tạo điều
kiện cho đồng bào dân tộc được tiếp xúc với những tiến bộ khoa học kỷ thuật để
ứng dụng vào sản xuất, đời sống.
3.1.2. Giải pháp về thể chế, xây dựng chính sách:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc hoạch
định và tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển. Thể chế hóa chiến lược phát triển bền
vững trong đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc lồng ghép các thành tố phát triển
như tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường, giữ gìn giá
trị truyền thống, văn hóa, con người, công nghệ… vào các chính sách, kế hoạch cụ
thể, phân công, phân cấp cho các cấp, các ngành thực hiện, huy động tối đa sự tham
gia của người dân, tập trung chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào,
thông qua các hoạt động sưu tầm, bảo tồn văn hóa truyền thống, tổ chức nhiều loại
hình văn hóa, thể thao lành mạnh nhằm định hướng lối sống nếp sống văn hóa.
Lồng ghép các cuộc vận động văn hóa với các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội tại các địa bàn dân cư làm cho giá trị văn hóa, giá trị truyền thống thấm sâu vào
đời sống, trở thành động lực cho sự phát triển, tạo tác dụng lan tỏa một cách toàn
diện trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số hướng đến phát triển bền vững.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status