ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------
HOÀNG THỊ HUỆ
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC CỦA ĐẢNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
HOÀNG THỊ HUỆ
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC CỦA ĐẢNG Ở TỈNH HÒA BÌNH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học
2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện Chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình giai đoạn 2006 - 2010 ................................................................. 68
2.2.1. Thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 – 2010) ................. 68
2.2.2. Thực hiện Chương trình cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ
Dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2007 – 2010 ......................... 80
2.2.3. Tiếp tục thực hiện Chương trình 134 ................................................ 83
2.2.4. Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số ............. 87
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ........................... 95
3.1. Một số nhận xét ................................................................................... 95
3.1.1. Ưu điểm ............................................................................................. 95
3.1.2. Hạn chế ............................................................................................. 99
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ............................................................. 104
KẾT LUẬN ............................................................................................... 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 115
PHỤ LỤC...................................................................................................... 0
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc trên thế giới nói chung và trong
một quốc gia nói riêng là vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp trong mọi lĩnh
vực đời sống xã hội. Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh xung
quanh vấn đề dân tộc thường diễn ra dưới nhiều hình thức và rất quyết liệt.
Do đó, từ khi xã hội loài người có sự phân hóa giai cấp đến nay trong suốt
quá trình phát triển của thế giới, việc tìm kiếm con đường giải quyết vấn đề
dân tộc được các nhà chính trị và khoa học quan tâm đặc biệt. Đảng cộng sản
Việt Nam cho rằng: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những
nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam.
những thành tựu và hạn chế cũng như những thuận lợi và khó khăn trong tổ
chức thực hiện đường lối dân tộc thời kỳ lịch sử này. Bởi đây là thời kỳ đánh
dấu sự khởi đầu của một thế kỷ mới, thế kỷ XXI với nhiều vấn đề mới được
đặt ra trên phương diện lý luận và thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Hòa Bình phải
giải quyết, trong đó có lĩnh vực phát triển của các dân tộc thiểu số. Việc nhận
thức đúng đắn những đặc điểm và quy luật phát triển của các dân tộc thiểu số
và miền núi ở Hòa Bình là cơ sở khách quan có ý nghĩa quyết định để Đảng
xác định chủ trương và chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Thực tiễn cuộc sống đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm túc, khoa học theo
quan điểm lịch sử để nhận thức đúng đắn vấn đề dân tộc và đường lối chính
sách dân tộc của Đảng trong những năm cả nước thực hiện đường lối đổi mới
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là những lý do thôi thúc tôi chọn đề tài:
“Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình từ
năm 2001 đến năm 2010” làm Luận văn Thạc sĩ của mình. Đây là một đề tài
2
vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, mang tính thời sự đối với sự phát triển của
cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay nói chung, ở Hòa Bình nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, vấn đề dân tộc và chính sách dân
tộc luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Mỗi thời kỳ lịch sử, trước
yêu cầu và nhiệm vụ chính trị mới đòi hỏi Đảng lại có chủ trương, chính sách,
giải pháp mới phù hợp. Chính vì vậy, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
của Đảng luôn được giới lý luận và các nhà lãnh đạo quan tâm nghiên cứu.
Trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này ở những
góc độ khác nhau. Nhìn một cách tổng thể, các công trình liên quan có thể
chia thành những nhóm chủ yếu:
dân tộc của Đảng thời kỳ 1991 – 2000” của Hà Minh Huân, Khóa luận tốt
nghiệp, 2001. Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến
giải quyết vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
trong thời kỳ đổi mới.
Các công trình nghiên cứu trên nhìn chung đều khẳng định vai trò to lớn
và sự đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc đề ra và lãnh đạo thực hiện
chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như trong công cuộc đổi mới
hiện nay. Những công trình báo cáo nêu trên là những nguồn tư liệu quý cung
cấp cơ sở thực tiễn và cách tiếp cận về chính sách dân tộc và tình hình thực
hiện chính sách dân tộc ở nước ta.
Tuy nhiên đến năm 2010, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy
đủ, có hệ thống vấn đề “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở
tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến năm 2010” dưới góc độ tiếp cận của khoa học
Lịch sử Đảng.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Mục đích của khóa luận nhằm làm rõ chủ trương và biện
pháp của Đảng Bộ tỉnh Hòa Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách
dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010. Khẳng định ưu điểm, hạn chế và bài học
kinh nghiệm.
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Hệ thống hóa và trình bày các chủ trương, kế hoạch của Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình nhằm thực hiện chính sách dân tộc trên địa bản tỉnh từ năm 2001
đến 2010.
+ Mô tả khách quan, toàn diện quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình từ năm 2001 đến 2010.
là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, khóa luận còn sử
dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh… để đối chiếu, bảo đảm
độ chính xác, tin cậy của các dữ liệu trong khóa luận.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách
dân tộc giai đoạn 2001 - 2005.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách
dân tộc giai đoạn 2006 – 2010.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm.
6
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và việc quán triệt thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình trước năm 2001
1.1.1. Điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Hòa Bình
Hoà Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong tỉnh
không những cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, mà còn có truyền
thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất với những chiến tích hào
hùng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Ngày 22/6/1886 sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp với chính sách
“chia để trị” đã giao cho quyền kinh lược Bắc Kỳ ký Nghị định cắt những
vùng đất đai có đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây,
thành một tỉnh mới gọi là tỉnh Hà Sơn Bình. Trong 15 năm hợp nhất, nhân
dân các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã chung
sức, chung lòng xây dựng tỉnh mới ngày một phát triển.
Ngày 01/10/1991 theo Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII (kỳ họp thứ
9) tỉnh Hoà Bình được tái lập. Đây là sự kiện đánh dấu một thời kỳ mới trong
tiến trình cách mạng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình thực
hiện công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tỉnh Hoà Bình có tổng diện tích là 4749 km2 gồm 10 huyện, thị: Lương
Sơn, Kỳ Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Cao phong, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ,
Mai Châu, Đà Bắc và một thành phố trực thuộc tỉnh. Phía Bắc giáp với tỉnh
8
Sơn La và tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội
điểm gần nhất là 30km. Phía Nam và Tây Nam giáp các tỉnh: Hà Nam, Ninh
Bình và Thanh Hoá. Chính vì vậy, Hoà Bình có vị trí quan trọng chiến lược ở
Bắc Bộ, là cửa ngõ ra vào vùng Tây Bắc, là bản lề giữa vùng đồng bằng Bắc
Bộ, khu Bốn cũ với Tây Bắc, Việt Bắc, là cửa ngõ thông sang Thượng Lào.
Địa phận Hoà Bình có nhiều con đường giao thông huyết mạch đi qua
như: Quốc lộ 6, 12, 15, 21… Đặc biệt là con sông Đà chảy từ Tây Bắc qua
Hoà Bình nối với sông Hồng ở Việt Trì, sông Bôi từ Kim Bôi qua Lạc Thuỷ
chảy vào sông Hoàng Long nối với sông Đáy tại cửa Gián (Phủ Lý). Những
con đường thuỷ, bộ này là mạch máu giao thông quan trọng nối Hoà Bình với
các tỉnh xung quanh.
Núi rừng Hoà Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành hai tiểu
vùng: Tiểu vùng 1, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối
với miền Thượng du Thanh Hoá. Đó là vùng núi cao nối tiếp giữa dãy Hoàng
Liên Sơn và dải Trường Sơn, có độ cao trung bình 400 – 500 mét với nhiều
đồi núi cao, rừng rậm. Tiểu vùng thứ 2, bao gồm các huyện Kỳ Sơn, Lương
cảnh quan kỳ thú: Núi đá Cột cờ (Tân Lạc), Hang Can (Kỳ Sơn), Hang Trại
(Lạc Sơn), Hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ)… với những dấu tích của nền văn hoá
Hoà Bình nổi tiếng, với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (Bản Lác –
Mai Châu), của đồng bào Mường (Bản Đầm - thị xã Hoà Bình)… suối nước
khoáng Kim Bôi vừa là điểm du lịch, vừa là điểm điều dưỡng và là nguồn
nguyên liệu phong phú để sản xuất nước giải khát có giá trị.
Bên cạnh những tiềm năng lớn, đa dạng nói trên thì điều kiện tự nhiên
cũng đem lại cho Hoà Bình không ít những khó khăn. Trước hết là giao thông
không thuận lợi, nhất là mùa mưa lũ, một số vùng cao, vùng sâu, việc đi lại và
vận chuyển bằng xe cơ giới cũng gặp nhiều trắc trở. Diện tích đất trồng cây
lương thực, nhất là lúa nước rất ít, phần lớn là ruộng bậc thang hàng năm
thường bị lũ quét trong mùa mưa bão, điều kiện để thâm canh tự túc về lương
10
thực là rất khó khăn. Trong khi đó, trình độ sản xuất của nhân dân các dân tộc
chưa cao. Nhìn chung, Hoà Bình là một tỉnh miền núi còn nghèo nàn và hậu.
Những năm gần đây, do chính sách quản lý, sử dụng đất rừng và tài nguyên
rừng còn thiếu xót, dân số tăng nhanh, cộng với phương hướng tự trang trải
về lương thực đã dẫn tới tình trạng chặt phá rừng với tốc độ nhanh. Rừng bị
suy kiệt, nhiều vùng trở thành đất trống, đồi trọc, môi trường sinh thái bị huỷ
hoại đáng lo ngại làm cho hạn hán, lũ lụt thêm nghiêm trọng.
1.1.1.2. Tình hình các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
Hòa Bình là một địa bàn sinh sống tập trung lâu đời của dân tộc Mường
và các dân tộc Thái, Kinh, Tày, Dao, Mông… Họ sống xen kẽ với nhau tạo
thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ. Theo số
liệu của cục thống kê tỉnh Hòa Bình tháng 12 năm 2009, toàn tỉnh có gần 79
vạn dân (trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 71,27%), người Mường chiếm
tới hơn 63% tổng số dân toàn tỉnh và gần 10% là các dân tộc thiểu số khác:
nghệ thuật phong phú, phản ánh cuộc sống của dân tộc mình một cách sâu
sắc, độc đáo. Người Mường nổi tiếng với kho tàng văn học dân gian gồm
nhiều thể loại như: Tục ngữ, dân ca, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười…
truyền thuyết “Đẻ đất đẻ nước” vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Đó là kho
tàng dân gian đồ sộ với nội dung phong phú, phản ánh đa dạng lịch sử của
dân tộc Mường. Những hình thức ví von, vần vè cũng chiếm một tỷ lệ lớn
trong nền văn học dân gian Mường và thể hiện được tâm tư, ngôn ngữ, tình
cảm cũng như các đặc điểm tự nhiên, nơi người Mường cư trú. Các dân tộc
Thái, Tày, Dao, Mông là các dân tộc ở những nơi khác đến sinh sống tập
trung ở Mai Châu, Đà Bắc cũng có nét văn nghệ dân gian đặc trưng riêng.
Song tất cả đều phản ánh những đặc điểm xã hội, đời sống tình cảm cũng như
tinh thần đấu tranh chống áp bức của mỗi dân tộc.
Nhìn chung, quá trình cư trú xen kẽ đã tạo nên sự gần gũi, hòa hợp dân
tộc một cách tự nhiên, làm cho các dân tộc học tập kinh nghiệm tiên tiến của
12
nhau, giúp nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, có nơi, có lúc cũng xảy ra những
xích mích, va chạm. Việc giải quyết mối quan hệ dân tộc phải là việc làm
thường xuyên, tại chỗ của cơ sở, của các địa phương trên toàn tỉnh Hòa Bình,
dựa trên nguyên tắc đoàn kết, đảm bảo bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau,
các dân tộc cùng làm chủ tập thể.
Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược quan trọng về
kinh tế, chính trị, quốc phòng. Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình
không những chiếm phần đa trên địa bàn toàn tỉnh mà còn sống xen kẽ với
nhau, sống xen kẽ với người Kinh ở vùng thấp, trung du, miền núi dọc biên
giới Việt Lào, những nơi có tiềm năng về đất đai, rừng, cây công nghiệp,
khoáng sản… Địa bàn này luôn có vị trí quan trọng về mọi mặt trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước cũng như sự nghiệp xây dựng “dân giàu, tỉnh
tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển
kinh tế - xã hội thấp. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đảm bảo phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và bản
sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các dân
tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt
Nam” [9; 42].
Quan điểm trên về chính sách dân tộc cho thấy thực chất của chính sách
dân tộc là chính sách phát triển quốc gia – dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử, là
chính sách quốc gia nhằm phát triển dân tộc, là tập hợp mọi chủ trương,
đường lối, luật pháp và hệ thống các chính sách của Nhà nước, là cơ sở tạo ra
nội lực của phát triển dân tộc.
Trong quốc gia đa dân tộc, chính sách dân tộc đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển của các dân tộc và cả nước, chính sách dân tộc tác
động đến cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số. Những chính sách dân tộc có
14
nội dung đúng theo quy luật phát triển xã hội và phù hợp với tình hình thực tế
sẽ xúc tiến quá trình phát triển của đất nước. Vì chính sách dân tộc là một nội
dung quan trọng của chính sách phát triển đất nước, thực hiện đúng đắn chính
sách dân tộc sẽ thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Chính sách dân tộc là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó
có một nội dung lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trên cơ sở trung thành và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, ngay từ
khi thành lập, cũng như qua mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng đã căn cứ vào
các nhiệm vụ chiến lược và tình hình đặc điểm vấn đề dân tộc ở nước ta, đề ra
chính sách dân tộc đúng đắn, được thử thách trong hơn 70 năm qua và đã đem
lại những thắng lợi vẻ vang.
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu tháng
triển. Ngay từ Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
ghi: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính
trị, kinh tế, văn hóa… Ngoài sự bảo đảm về quyền lợi, những công dân thiểu
số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung.
Tư tưởng đó còn được thể hiện rõ nét trong chủ trương, chính sách của Đảng.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951) đã viết: Các dân tộc
sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ giữa các dân tộc.
Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chính sách
dân tộc được Đảng thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ III. Nghị quyết nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các dân tộc đa số
và thiểu số có một truyền thống đoàn kết anh em, Đảng và Nhà nước cần phải
có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi, làm
cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa
số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của
16
mình. Trong cán bộ cũng như trong nhân dân, cần phải khắc phục tư tưởng
dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để
cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” [16; 192 – 193].
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng đã đưa ra quan điểm về
vùng núi và vùng đồng bào dân tộc, chính sách dân tộc trong thời kỳ cả nước
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội chỉ rõ: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân
tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt
Nam, “chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về
mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự
chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người và dân tộc đông
trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây
dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trong nước trên
nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tự nguyện, cùng làm chủ, cùng đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn mười năm thực hiện đường lối do Đại hội
IV, Đại hội V đề ra, nghiên cứu khảo nghiệm của các nước trên thế giới, Đại
hội VI của Đảng đã đề ra những quyết sách đúng đắn. Tại Đại hội VI, với tinh
thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã
nghiêm khắc kiểm điểm tình hình mọi mặt và đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, mở ra bước ngoặt trong quá trình đi lên của cách mạng Việt Nam.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chính sách dân
tộc của Đảng nhằm hướng tới sự phát triển mối quan hệ tố t đẹp giữa các
dân tộc trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Báo
cáo chính trị của Đại hội VI khẳng định: “tình cảm dân tộc, tâm lý dân
tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực nhạy cảm. Trong khi xử lý
các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ trân trọng đối với những gì liên
quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người.
18
Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và
những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi” [18; 97].
Đại hội đã cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế ở vùng dân tộc
thiểu số: “đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp
với động viên tình thần tự lực, tực cường của nhân dân các dân tộc để khai
thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào dân tộc
thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và
đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ
của cách mạng và kháng chiến” [18; 97].
cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững
mạnh” [20; 125 – 126].
Có thể nói, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính tổng
hợp, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng. Chính sách là cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng.
Nó là các vấn đề như: Chính sách đầu tư, chính sách đào tạo cán bộ, y tế, giáo
dục, hạ tầng cơ sở, xóa đói giảm nghèo… Song, mục đích cuối cùng của
chính sách dân tộc chính là: thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt
giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh
lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người với dân tộc đông người;
đưa miền núi tiến kịp miền xuôi; vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả
các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp
nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.1.2.2. Khái quát quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh
Hòa Bình từ khi tái lập tỉnh (1991) đến năm 2000
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách
dân tộc vào tình hình thực tế của địa phương, từ khi tái lập tỉnh (1991) đến
20
năm 2000, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm
khắc phục khó khăn do thực tiễn đặt ra.
Dưới sự chỉ đạo của Ban chấp hành trung ương Đảng, của Bộ chính trị
và của Ban tỉnh ủy lâm thời, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ
XI (vòng 2) được tiến hành từ ngày 18 đến ngày 20/3/1992. Sau 3 ngày làm
việc với ý thức trách nhiệm cao và trên tinh thần của “Đại hội đổi mới, đoàn
kết, tiến lên”, Đại hội đã bầu được Ban tỉnh ủy khóa XI, Đại hội đã tập trung
trí tuệ, thực sự suy nghĩ trên mảnh đất quê hương của mình và tìm ra giải