HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
HONG THU THY
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam
từ năm 1996 đến năm 2010
Chuyờn ngnh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mó s
: 62 22 56 01
TểM TT LUN N TIN S LCH S
H NI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS Nguyễn Bình Ban
2. TS Nguyễn Danh Tiên
Phản biện 1:.........................................................
.........................................................
Phản biện 2:.........................................................
.........................................................
Phản biện 3:.........................................................
Qua hơn 25 năm đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội ở những địa bàn có nhiều
dân tộc thiểu số sinh sống đã phát triển tương đối nhanh. Kế thừa truyền thống quý
báu của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết
toàn dân, đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
(4/2001) khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí
chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá
đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu, phát huy bản sắc văn hoá và
truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
Vùng Đông Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử - dân tộc học; gồm cả hệ
sinh thái rẻo cao, rẻo giữa và rẻo thấp; có nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng;
giàu bản sắc văn hoá, trong đó đóng vai trò chủ thể vùng là nhóm cư dân Tày Nùng. Thổ nhưỡng phục vụ cho phát triển nông - lâm nghiệp: rừng làm nguyên liệu
cho công nghiệp, là tấm lá chắn bảo vệ, che chở và nuôi dưỡng cho môi trường bền
vững. Thảm thực vật đa dạng phục vụ cho nghiên cứu và an ninh sinh kế tộc người.
Sông ngòi và tài nguyên nước phục vụ cho thuỷ điện; khoáng sản phục vụ cho phát
triển các ngành công nghiệp v.v... Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng
không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Tuy nhiên,
những tiềm năng ấy chưa được khai thác hiệu quả, thiếu tính bền vững. Bên cạnh
2
đó, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng được đẩy tới thì các dân tộc thiểu
số sống ở khu vực này càng bị thua thiệt về cơ hội phát triển, họ ít có khả năng tham
gia vào quá trình đó.
Vùng Đông Bắc là địa bàn cư trú của hàng chục dân tộc thiểu số (Tày, Nùng,
Thái, Mường, Dao, Mông…). Phần lớn các dân tộc thiểu số ở đây lại có quan hệ
đồng tộc về mặt lịch sử và văn hoá với các tộc người của quốc gia láng giềng.
Chính vì vậy, các dân tộc trong vùng và các dân tộc bên kia biên giới bên cạnh sự
đề đói nghèo, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá tộc người… đòi hỏi
chính sách dân tộc phải được xây dựng và vận hành nhằm mang lại quyền bình
đẳng thực sự cho các dân tộc. Muốn xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách
3
dân tộc, cần có một nghiên cứu quy mô và toàn diện về vùng dân tộc thiểu số nói
chung cũng như ở vùng miền núi Đông Bắc nói riêng. Qua đó, tổng kết, đánh giá
kết quả lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng; đồng thời, nhận diện
những ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chính sách dân
tộc nói chung cũng như các chủ trương, chính sách, giải pháp thực hiện chính sách
dân tộc ở khu vực các tỉnh miền núi Đông Bắc nước ta nói riêng.
Do đó, việc thực hiện đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là vấn
đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá trình
tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc của
Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá
trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc
Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; Tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ
chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm
1996 đến năm 2010 - gợi ý cho tổng kết thực tiễn - lý luận 30 năm đổi mới.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích các công trình nghiên cứu trước đây để xác định những cơ sở
phương pháp luận cần vận dụng trong thực hiện luận án, những vấn đề đã được giải
quyết có thể kế thừa và phát triển, những khoảng trống cần phải bổ khuyết.
- Khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình dân tộc và dân
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh,... Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn
ở năm nhóm chính sách chủ yếu: chính sách kinh tế (xoá đói giảm nghèo, phát triển
kinh tế); chính sách chăm lo phát triển trí lực và thể lực (giáo dục - đào tạo, y tế,
nâng cao đời sống vật chất); chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các
dân tộc; chính sách cán bộ dân tộc thiểu số; Xây dựng, củng cố nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
+ Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gồm cả cấp trung ương, địa
phương (tỉnh, huyện, xã), cộng đồng (làng/bản), hộ gia đình và cá nhân; cả hệ thống
chính trị, doanh nghiệp và nhân dân; luận án chỉ tập trung vào khâu trọng tâm là sự thể
chế hóa về mặt nhà nước; các biện pháp lớn trong triển khai các chương trình, dự án
trọng điểm; các phong trào và mô hình điển hình kết hợp giữa ý đảng với lòng dân.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc. Đặc biệt, luận án
bám sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể để
triển khai các ý tưởng nghiên cứu.
4.2. Nguồn tư liệu
- Tư liệu sơ cấp: Các số liệu, thông tin do tác giả thu thập thông qua các phương
pháp điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học tại một số tỉnh miền núi Đông Bắc.
- Tư liệu thứ cấp: Những số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu, sách chuyên
khảo đã công bố của các nhà nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, kể cả các luận
văn, luận án.
- Tư liệu cấp ba: Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI và các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương từ khoá VIII đến khoá XI; các văn bản
pháp quy của Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành; các báo
5
hoá đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng kết một số kinh nghiệm lý
luận - thực tiễn 30 năm đổi mới trên vấn đề dân tộc được xem xét ở cấp độ vùng
và địa phương.
Luận án cung cấp thêm luận cứ khoa học và gợi mở một số suy nghĩ có thể
vận dụng vào thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc trong giai
đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.
6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở
miền núi nói chung
Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp
tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay của
Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; Phan Hữu Dật với Mấy
vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
(Sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001; Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh
Quốc Tuấn với Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở
Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1999; Phát triển nguồn nhân lực ở vùng
dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước (Sách chuyên khảo) của tác giả Nguyễn Đăng Thành, Nxb Chính trị
Quốc gia - Sự thật, HN, 2012.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước ta
Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ
và bài học từ châu Á. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Chính sách dân tộc
của Việt Nam và ảnh hưởng của chính sách đó đến khu vực dân tộc biên giới
Trung Quốc” của Chu Kiện - Lưu Đông Nhiệm (Theo tạp chí Nghiên cứu vấn đề
dân tộc, số 1, 2005); “Nghiên cứu so sánh chính sách dân tộc của Việt Nam và
Trung Quốc thời hiện đại” (2007) của Đằng Thành Đạt.
Nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước đã cung cấp một số tư
liệu, thông tin, tri thức và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Chúng là nguồn tư
liệu quý giá được kế thừa khi triển khai nghiên cứu luận án này. Tuy vậy, đến nay
vẫn chưa có công trình chuyên biệt nghiên cứu chính sách dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc ở vùng Đông Bắc. Mỗi công trình do xuất phát từ mục tiêu,
phương pháp tiếp cận và giới hạn phạm vi của nó nên chỉ giải quyết những nội
dung nhất định.
2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Một là: Vẫn chưa có một tổng kết đầy đủ, toàn diện về các bước phát triển
tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính sách dân tộc ở cấp vùng, nhất là các
tư tưởng về "cùng phát triển" hay phát triển không loại trừ giữa các tộc người,…
Hai là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng dưới góc độ lịch đại
còn rất ít, nếu có cũng chỉ rất khái lược, không đủ cắt nghĩa bối cảnh phát sinh,
định hình, định dạng, phát triển và kết thúc chu trình của một chính sách...
Ba là: Trong điều kiện một đảng cầm quyền thì các quan điểm, chủ trương,
định hướng lớn của Đảng là một bộ phận cấu thành của chính sách công (theo
nghĩa rộng) để nhà nước thể chế hóa thành chính sách can thiệp (chính sách công
theo nghĩa hẹp). Điều đó dẫn tới phân tách một cách máy móc đường lối, chủ
trương của Đảng với chính sách công của Nhà nước, không nhận diện được biến
đổi về quan niệm chính sách công của Đảng trong tiến trình đổi mới, không làm
rõ được vai trò, vị trí của Đảng trong các tiến trình chính sách cũng như không tìm
được giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách dân tộc và tổ chức thực
hiện chính sách dân tộc từ phía bản thân đảng cầm quyền.
Bốn là: Các nghiên cứu chính sách dân tộc của Đảng và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng ở cấp vùng và cấp địa phương vẫn là điểm yếu căn bản. Vì
trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Chính sách dân tộc là hệ thống chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước,
trên cơ sở căn cứ vào đường lối chính trị và tình hình thực tiễn của đất nước, tác
động vào tất cả các lĩnh vực của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc và có thể đối
với từng tộc người nhằm thực hiện quyền bình bẳng giữa các dân tộc về chính trị,
kinh tế, văn hoá, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc, làm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng
phát triển giữa các dân tộc; đảm bảo sự thống nhất của quốc gia và dân tộc; giao
lưu, hội nhập quốc tế.
9
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
* Điều kiện địa lý tự nhiên
Vị trí địa lý: Diện tích tự nhiên của vùng là 29.100,6 km², nằm ở vị trí địa lý
khoảng từ 21º đến 23º24 vĩ Bắc; và 102º đến 108º kinh Đông. Là vùng có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, có vai trò xung yếu về an ninh - quốc phòng, có đường
biên giới giáp với Trung Quốc dài 970,8 km (gồm 4 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Cao Bằng, Hà Giang).
Về khí hậu, thủy văn: Miền núi Đông Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới, gió mùa; là vùng có nhiều sông, suối; thường có mưa nhiều vào mùa hè,
lượng mưa trung bình trong năm từ 1200 đến 1800 mm.
Về thổ nhưỡng: Đất feralit đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn về diện tích, thích hợp cho
việc trồng rừng và cây công nghiệp.
Về tài nguyên khoáng sản: Đông Bắc Việt Nam là vùng đa dạng về tài
nguyên (mỏ than, mỏ thiếc, mỏ đồng, mỏ apatit...) với trữ lượng tương đối lớn.
Về giao thông: Vùng Đông Bắc có hệ thống đường giao thông gồm: đường
bộ, đường sắt, đường thuỷ khá thuận tiện.
* Đặc điểm và hiện trạng kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội của vùng miền núi Đông Bắc đã có những bước
phát triển và đạt được một số thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng tương đối
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách
đối với các dân tộc vùng Đông Bắc trong những năm đầu đổi mới
Thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng và Nhà nước, đặc biệt Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), lần thứ VII (1991), Nghị quyết 22NQ/TW của Bộ Chính trị về Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi và Quyết định 72-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 13-31990 về Một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế- xã hội miền núi,
kinh tế, xã hội vùng dân tộc, miền núi Đông Bắc Việt Nam đã có bước phát triển
vững chắc; bộ mặt vùng dân tộc, miền núi có nhiều thay đổi; nền kinh tế tự nhiên,
tự cung, tự cấp từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá; đời sống văn hoá của
đồng bào được nâng cao; các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc được bảo tồn
và phát huy; an ninh, chính trị ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
từng bước được cải thiện.
1.1.4. Những chuyển biến tư duy nhận thức của Đảng về thực hiện chính
sách dân tộc ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, về vấn đề dân tộc,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) của Đảng khẳng định: Bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Đồng thời, Đại hội đã phát triển thêm 3 vấn đề về phương diện lý
luận, tạo cơ sở cho đổi mới nội dung và tiến trình chính sách. Trong phương hướng,
nhiệm vụ của 5 năm (1996 - 2000) đã xác định rõ mục tiêu, biện pháp phát triển các
vùng lãnh thổ, các chương trình trình kinh tế - xã hội. Điều đó giúp cho các vùng
lãnh thổ đều có cơ hội phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng vùng
và thúc đẩy hợp tác mang tính liên vùng trong quá trình liên hợp hóa lãnh thổ. Bên
11
cạnh đó, Đại hội VIII còn xác định Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
và vùng đồng bào dân tộc.
1.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền
núi Đông Bắc
1.2.1. Phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống vật chất
đồng bào các dân tộc thiểu số
Song song với chương trình xoá đói giảm nghèo, cuộc vận động định canh
định cư tại vùng miền núi Đông Bắc cũng được thực hiện có hiệu quả.
1.2.4. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
vững mạnh
Ngày 23 tháng 9 năm 1994, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số
45-CT/TW về một số công tác của người Mông để đấu tranh với những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các Đảng bộ địa phương đã cụ thể hoá Chỉ thị số
45-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng góp phần thúc đẩy giải quyết tốt
công tác ở vùng dân tộc Mông.
Trước tình hình biên giới có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động của các loại
tội phạm có chiều hướng gia tăng, đời sống mọi mặt của nhân dân biên giới thiếu
thốn, cơ sở hạ tầng thấp kém, các cấp uỷ Đảng đã tăng cường chỉ đạo, chính quyền
các địa phương đã phát huy được vai trò nòng cốt của bộ đội biên phòng, dân quân
các xã biên giới, lực lượng dự bị động viên và phong trào của quần chúng nhân dân
trong quản lý bảo vệ biên giới.
Tiểu kết chương 1
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới,
diện mạo miền núi Đông Bắc nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đó là
kết quả của quá trình đổi mới tư duy về hoạch định chính sách dân tộc của
Đảng với gắn kết giữa phát triển tộc người với phát triển vùng. Thông qua việc
thực hiện các chương trình, dự án kinh tế - xã hội miền núi, đời sống của đồng
bào các dân tộc thiểu số đã được nâng lên, kết cấu hạ tầng được đầu tư, xây
mới; văn hoá, giáo dục, y tế được quan tâm; an ninh quốc phòng được giữ
vững. Những kết quả đạt được một mặt thể hiện bản chất của Đảng, Nhà nước
và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại khu
vực miền núi Đông Bắc vẫn còn một số hạn chế, khó khăn, như thực hiện các
chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện chính sách phát triển nguồn cán bộ dân
tộc thiểu số, việc giải quyết các vấn đề dân tộc và tôn giáo tại địa bàn.
* Thách thức
Sự trỗi dậy của Trung Quốc luôn mang tính hai mặt, bên cạnh tạo động lực
thúc đẩy kinh tế toàn cầu, khu vực, thì cũng tạo ra những áp lực đối với các nước
giáng liềng, đặc biệt các nước có điều kiện bất đối xứng về quyền lực, trong đó
vùng biên giới luôn chịu áp lực trực tiếp.
Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá,
gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, cổ vũ cho chủ nghĩa ly khai.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách phát triển giữa các vùng, các
tộc người tiếp tục bị đẩy ra xa thêm, bất bình đẳng tộc người và bất công xã hội
ngày càng hiện hữu rõ rệt.
14
2.1.2. Chủ trương mới về chính sách dân tộc tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tổng kết 5 năm
thực hiện đường lối Đại hội VIII, đồng thời bổ sung trên một số nhận thức mới về
vấn đề dân tộc: Nếu như văn kiện Đảng trước đây thường nhấn mạnh đến yêu cầu
rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi, giữa dân tộc đa số với
dân tộc thiểu số, thì Đại hội IX đã nhìn trên quan điểm biện chứng hơn khi đưa ra
luận điểm "cùng phát triển"; Gắn phát triển tộc người với phát triển vùng (vùng
miền núi, vùng căn cứ kháng chiến, vùng khó khăn, vùng biên giới) là một quan
điểm mới; Xác định vấn đề con người - nguồn nhân lực là một trong những chính
sách rất quan trọng đảm bảo cho phát triển bền vững, bao gồm cả nguồn nhân lực
được đào tạo mới và phát huy "người tiêu biểu, có uy tín" trong các dân tộc; Nhấn
mạnh đến yêu cầu xây dựng đúng đắn ý thức hệ dân tộc trên hai mặt: chống tư
tưởng dân tộc lớn và chống dân tộc tự ti, hẹp hòi.
Đại hội IX đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 2010) và Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2006 đối với
vùng miền núi phía Bắc, trong đó có vùng Đông Bắc.
2.1.3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa
các chương trình sau đây:
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân
tộc thiểu số (còn gọi là Chương trình 135); Ngày 07-12-2001, Chính phủ ban hành
Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg Về việc phát triển kinh tế - xã hội 6 tỉnh đặc biệt
khó khăn miền núi phía Bắc, thời kỳ 2001- 2005; Ngày 05-02-2008, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg Về việc ban hành một số cơ
chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và
miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; Ngày 27-12-2008, Chính phủ ra Nghị quyết số
30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
61 huyện nghèo v.v..
Các nỗ lực thể chế hóa trên đây của Nhà nước, đặc biệt là Chính phủ, là cơ
sở để từng bước hiện thực hóa chính sách dân tộc của Đảng ở vùng Đông Bắc.
2.2.2. Phát triển kinh tế, cải thiện đời sống các dân tộc thiểu số
* Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa
Thế mạnh của miền núi Đông Bắc là nông - lâm nghiệp và thương mại, dịch
vụ du lịch, kinh tế cửa khẩu được quan tâm trong các chiến lược và chính sách
phát triển.
* Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu gắn với chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tổ chức lại xã hội ở vùng Đông Bắc
Đến năm 2010, kết thúc giai đoạn II của chương trình 135, với sự nỗ lực của
các địa phương, khu vực miền núi Đông Bắc có 6 xã đã hoàn thành chương trình
135, đạt 1,92%.
2.2.3. Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm
Để thực hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về xoá đói giảm nghèo,
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 02/1998/QĐ-TTg ngày 06-01-1998 về
việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai
16
đoạn từ nay đến năm 2010; phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xoá đói
(Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2008)
Miền núi Đông Bắc có 2 tỉnh là Cao Bằng, Hà Giang với 11 huyện có tỷ lệ
hộ nghèo trên 50% được thụ hưởng Chương trình 30a.
17
Nghị quyết 30a ra đời, các cấp, các ngành từ tỉnh đến huyện của các địa
phương đã tập trung triển khai các bước tiến hành theo đúng chỉ đạo của Trung
ương. Tính đến năm 2011, còn 6 huyện có số hộ nghèo trên 50% là Mèo Vạc,
Đồng Văn, Xí Mần (Hà Giang), Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông (Cao Bằng).
Đẩy mạnh công tác quy hoạch, bố trí dân cư
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 24-8-2006, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 193/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình bố trí dân cư các vùng:
thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung
yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn
2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015. Tiếp đó, ngày 05-03-2007, Thủ tướng
Chính phủ ra Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ di dân thực
hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 - 2010.
Thực hiện Quyết định 33/2007/QĐ-TTg, các địa phương đã tiến hành xây dựng
các Dự án nhằm ổn định đời sống dân cư.
2.2.4. Nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,
chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí
Số trường ở 4 tỉnh miền núi Đông Bắc tăng từ 1.598 trường phổ thông với
26.472 lớp năm 2006, đến năm 2010 đã tăng lên 1744 trường phổ thông với
25.309 lớp học; Cùng với hệ thống các trường công lập là hệ thống mạng lưới các
trường dân tộc nội trú được phát triển. Bên cạnh đó, mô hình trường nội trú dân
nuôi cũng được hình thành và phát triển ở các địa phương.
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số:
Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
Công tác cử tuyển học sinh người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa cũng
luôn được Nhà nước quan tâm. Song song với công tác tạo nguồn cán bộ, các địa
phương luôn tạo điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với đội ngũ
cán bộ dân tộc thiểu số.
2.2.6. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn
biến hoà bình” đó chính là truyền đạo trái phép bằng mọi con đường vào vùng
đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta. Trước tình hình đó, các địa phương đã chỉ
đạo các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thực hiện bám dân, bám địa
bàn trọng điểm, nắm chắc tình hình cơ sở, thực hiện “ba cùng” với đồng bào. Tổ
chức tập huấn, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân hiểu về quan điểm,
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo và đấu tranh chống các hoạt động sai trái...
Công tác phòng chống đấu tranh chống các loại tội phạm, bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới được đẩy mạnh và thu được nhiều kết quả tích cực.
Tiểu kết chương 2
Nhờ các chính sách hỗ trợ, đầu tư của Trung ương và địa phương cùng sự
nỗ lực phấn đấu của bà con các dân tộc nên vùng đồng bào dân tộc thiểu số có
nhiều đổi thay rõ nét.
19
Mặc dù kết quả đạt được là rất lớn, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần
tiếp tục được khắc phục như: Các chính sách vẫn theo tư duy nhiệm kỳ, thiếu gắn
kết giữa các giải pháp ngắn hạn với trung hạn và dài hạn; nhiều chính sách đã kết
thúc nhưng mục tiêu chưa đạt do việc cấp vốn không đủ; nhiều chính sách còn
chồng chéo, cách thức đầu tư, hỗ trợ chưa hợp lý, chưa khuyến khích người dân tự
vươn lên;…
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả các chính sách hỗ trợ, đầu tư cho vùng dân
20
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.1.2.1. Đánh giá hạn chế
Thứ nhất: Ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng bào
dân tộc thiểu số còn dàn trải, chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả đầu tư thấp
Thứ hai: Chưa khai thác, phát huy tối đa những giá trị, truyền thống tốt đẹp
của đồng bào các dân tộc
Thứ ba: Phong tục tập quán lạc hậu, tình trạng di dân tự do của đồng bào
các dân tộc cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch đã ảnh hưởng đến hiệu
quả việc thực hiện chính sách dân tộc
3.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế:
Thứ nhất, miền núi Đông Bắc là địa bàn rộng, chia cắt, địa hình nhiều nơi
hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai,
lũ lụt.
Thứ hai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh miền núi Đông
Bắc còn thấp, chủ yếu dựa nhiều vào tự nhiên; phương thức sản xuất và canh tác
ở một số nơi còn lạc hậu. Một bộ phận đồng bào có tâm lý ỷ lại vào sự trợ cấp
của Nhà nước.
Thứ ba, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng dân tộc
và miền núi đã thể hiện tầm chiến lược, tuy nhiên mục tiêu, nội dung của một số
chính sách bị chồng chéo trên cùng một địa bàn; có chính sách triển khai thực hiện
không phù hợp, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cụ thể
của từng địa phương nhưng chậm được tổng kết đánh giá, điều chỉnh.
Thứ tư, tại một số địa phương, việc cụ thể hoá chủ trương, chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước đôi khi còn chậm, triển khai thiếu cụ thể và đồng bộ,
đơn giản, thậm chí áp đặt làm hạn chế khả năng huy động tiềm năng nội lực của
tộc người và tính sáng tạo của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Thứ năm, hệ thống chính trị cơ sở còn bộc lộ một số yếu kém.
3.2. Một số kinh nghiệm
3.2.1. Bám sát đặc điểm cấu trúc xã hội tộc người ở các tỉnh miền núi
Trong thời kỳ đổi mới, mối quan hệ biện chứng giữa hai lĩnh vực kinh tế xã hội với quốc phòng - an ninh đã được nhìn nhận khá toàn diện và sâu sắc. Mục
tiêu của sự kết hợp ấy là khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổng hợp,
thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm
đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững và xây dựng, tăng cường quốc
phòng - an ninh.
3.2.4. Coi trọng nâng cao vai trò của hệ thống chính trị địa phương
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
Hệ thống chính trị cơ sở có vị trí quan trọng, là cơ quan lãnh đạo quần
chúng thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó,
hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
dân chủ và quyền làm chủ của quần chúng, thực hiện chức năng điều hành và quản
lý xã hội, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của đồng bào để phát triển kinh tế xã hội. Do vậy, việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ
sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của toàn vùng.
22
3.2.5. Coi trọng thu hút sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc
Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, để phát huy vai trò chủ thể của mình
trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc cần chú ý:
- Phải chú ý đến điều kiện kinh tế - xã hội và sự đa dạng của từng vùng,
từng dân tộc; chú trọng yếu tố đặc thù của từng dân tộc.
- Phải tăng cường nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội các vùng,
các dân tộc để cụ thể hóa các chính sách sao cho phù hợp với thực tế địa phương.
- Các cơ quan chuyên môn cần tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc tham
gia vào tất cả các quá trình từ thu thập thông tin cho việc hoạch định chính sách
đến việc tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá, thẩm định hiệu quả việc thực hiện
chính sách dân tộc và được hưởng lợi từ chính sách.
- Phải nhận thức rõ, chủ thể thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta chính là đồng bào các dân tộc. Họ phải tự mình vươn lên, rút ngắn khoảng
kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc…
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông
Bắc Việt Nam được thể hiện ở những nội dung cơ bản: Phát triển kinh tế, ổn định
dân cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác xoá đói giảm
nghèo và giải quyết việc làm; nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; xây dựng và củng cố hệ thống chính trị
tại cơ sở, đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; xây dựng, củng cố nền
quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tại vùng miền núi Đông Bắc
Việt Nam đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Chính sách dân tộc ngày càng chứng
minh được vai trò của mình trong hệ thống các chính sách quốc gia, đóng góp tích
cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2010, với việc cụ thể hoá chính sách dân tộc
của Đảng vào thực tiễn, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cũng như sự nỗ
lực vươn lên của đồng bào các dân tộc, miền núi Đông Bắc đã đạt được những kết
quả bước đầu nhưng quan trọng: Quyền bình đẳng dân tộc thể hiện ngày càng rõ
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống chính trị được xây dựng và củng
cố; kết cấu hạ tầng xã hội ngày càng được quan tâm đầu tư, đáp ứng bước đầu cho
phát triển kinh tế dân sinh; đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện và
nâng cao; chính trị ổn định và quốc phòng, an ninh được giữ vững.
Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, khi triển khai chính sách dân
tộc của Đảng trên thực tế tại miền núi Đông Bắc đã gặp không ít khó khăn, hạn
chế: Những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của vùng;
nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền còn giản đơn về vấn đề dân tộc và
chính sách dân tộc; ở một số địa phương, sự đầu tư của Nhà nước vào vùng đồng
bào dân tộc thiểu số còn tràn lan, dàn trải và chưa sát hợp đối tượng nên hiệu quả