— — I ■■■BB gM B gaM BM M M B agaE IB B eB BBa aiSB PM BM M H IggBB E i ■ £. ì £
ĐẠI HỌC q u ố c : g ia h à n ộ i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHẢN VĂN
HOÀNG XUÂN PHÚ
THựC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ỏ XÃ
■ ■
TRÊN ĐỊA BÀIM HUYỆN BAC q u a n g
■ ■
TỈNH HÀ GIANG
(Thực trạng và giải pháp)
Chuyên ngành: Chủ nghĩa
x ã
hội khoa học
M ã số: 5 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TniỂĩ h ọ c
• • o •
Ngưòi hướng dan khoa học:
TS. Trịnh Trí Thức
M ò 'i {‘t i m ỉ t o a i L
r jô ì
jeJn
ờínti
(toan ĩtả tỊ là
eỏn tị
(rìtt/i ttự/àêíi- eiíií
Uhoti hoa eủa tièntỊ tồ i dưới n ể hưởttụ, ilán. cíta Cỹ/Ví/ iiị
& r í" h Q /( / rĩliử o . p ú o iâ liê u tù i Uêt íỊu ủ itiìtíe tiêu tr-ontỊ
lu ậ n õũ it lù iv m tụ tin ía oà aó dtinlít r ú võ là II( Ị.
Q ỉ ị ị u o ỉ ( ' t u n (toan
Uùoànụ (Xutân rỊ)luì
MỤC LỤC
Phụ lục 74
Danh mục tài liệu tham khảo 95
Mỏ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hổ Chí Minh sáng lập và rèn
luyện, với hơn bảy mươi năm lãnh đạo nhân dân la đấu tranh giành độc lập và
xây dựng chủ nghĩa xã hội, luôn coi dân chủ là một nội dung quan trọng trong
đường lối cách mạng của mình. Hiện nay, trong công cuộc đổi mới đất nước,
kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ đã lựa chọn, Đảng ta khảng
định: “ Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân là mục tiêu, đổng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng,
của công cuộc đổi mới” [54,3].
ITiực tế cho thấy, trơng hơn một thập kỷ đổi mới vừa qua, Đảng và nhân
dân ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trong những ihành lựu đó có
việc dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội. Phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dán kiểm tra” là một bài học lớn được Đảng ta đúc kết trong
thực tiễn của tiến trình cách mạng. Điều đó cũng thể hiện nhận thức của Đảng
ngày càng rõ hơn, cụ thể hơn về việc thực hiện dân chủ cho nhân dân.
Tuy nhiên, ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, quyền làm chủ của nhán dân
còn bị vi phạm; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu,
gây phiền hà cho nhân dân vẫn còn khá phổ biến. Có nghĩa chúng ta chưa đẩy
lùi ngăn chặn được mộí cách căn bản những hiện tượng tiêu cực này. Nhiều
nội dung dân chủ chậm đi vào cuộc sống vì chưa đưực cụ thể hoá và thể chế
hoá ihành pháp luật. Tinh trạng đó đã làm suy giảm lòng tin cúa dân đối với
Đảng, với chính quyền, làm cho dán chủ xã hội chủ nghĩa - với lính cách là
động lực của sự phái triển - không phát huy hết được tác dụng.
Trước tình trạng đó, ngày 18- 2-1998, Ban chấp hành Trung ưonu Đảng
dã han hành Chỉ thị số 30/ CT - TW về xây dựng và ihực hiện Ouy chế dãn
1
chủ ở cơ sở. Chỉ thị xác định “ Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát
Chỉ thị 30/CT-TW của Ban chấp hành Trung uơng Đảng và Nghị định
29/1998/NĐ - CP của Chính phủ được ban hành tuy chưa láu, song nó đã tác
động tích cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội ở cơ sở. Điều đó cũng khẳng
định vị trí, vai trò quan trọng của phát huy dân chủ ở cơ sở. Chính vì vậy, vấn
đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Cho tới nay đã có nhiều công trình, bài viết về vấn đề này đã được xuất bản, ví
- “ Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã. Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” do PGS. TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2000.
- “ Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay” do TS Nguyễn Văn Sáu và
GS Hổ Văn Thông ( đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2001.
- “ Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông
thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các lỉnh miền núi phía Bắc nước ta” do
TS Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000.
- “ Mối quan hệ giữa đảng, chính quyền và các đoàn the nhân dân cấp
xã ở nước ta hiện nay” do TS Dương Xuân Ngọc (chú hiên), Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
- " Hệ thống chính trị cư sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp" của TS
Vũ Hoàng Công, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.vv
Những công trình trên đã khảo sát thực tế, trinh bày, phân tích thực
Irạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã trước yêu cáu thực
3
hiện Quy chế dân chủ ử cơ sở, hước đầu sơ kết, rút ra một số bài học kinh
nghiệm trong thực hiện Quy chế dân chủ, đồng thời đưa ra kiến nghị, giải
pháp. Tuy các công trình đó có quy mô và khảo sát ở những vùng, miền khác
nhau của nước la, song đều có điểm chung là: khẳng định dân chủ hoá đời
sống chính trị - xã hội là vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta; triển khai Quy
chế Ihực hiện dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng của dân chủ hoá;
+ Làm rõ một số vấn đề về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa và nội
dung, ý nghĩa của Quy chế dân chủ ở xã.
+ Nghiên cứu thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ ở xã trên địa bàn
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân của nó.
+ Đề xuất mộl số giải pháp nhằm góp phần Ihực hiện có hiệu quá hơn
Quy chế dân chủ ở xã nói chung, trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã li ên
địa bàn huyện Bấc Quang, tỉnh Hà Giang từ năm 1998 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sỏ lý luận: Đề tài được thực hiện Irên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp nghiên cícit: phương pháp kết hợp lôgích và lịch sử, phân
tích và tổng hợp, so sánh, khảo sát thực lố,
6. Đóng góp của luận văn.
5
- Góp phần làm rõ hơn sự cẩn thiết, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc
ban hành Quy chế dân chủ.
- Góp phần vào việc tổng kết thực tiễn triển khai thực hiện Quy chế dân
chủ ở xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả hơn
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề dân chủ và thực thi dân
chủ xã hội chủ nghĩa.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
sẽ khổng còn khái niệm dân chủ.
7
Dân chủ đưực Ihực hiện trong một chế độ dân chủ và chê' độ dân chủ
đưực thực hiện thông qua nhà nước. Chế độ dân chủ là một chế độ chính trị,
mộl kiểu nhà nước mang bản chất của giai cấp thống trị. Do đó, không có một
khái niệm dân chủ chung chung hay một chế độ dân chủ phi giai cấp. Dân chủ
luôn gắn bó với lợi ích và đặc điểm cửa một chế độ chính trị cụ thể.
Khi ta nói dân chủ được thực hiện trong một chế độ dân chủ và chế độ
dân chủ được thực hiện thông qua nhà nước, điều đó không có nghía là cứ có
chế độ dân chủ, có nhà nước thì dân chủ được thực hiện. Vấn đề ở đây là phải
làm sao tạo lập cho được một cơ chế phù hợp để thực thi dân chủ. Cơ chế đó
chính là hệ thống chính trị. Việc xác định rõ ràng mối quan hệ giữa các yếu tố
trong hệ thống chính trị là mấu chốt bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Trong lịch sử hình thành và phát triển các nền dân chủ của xã hội loài
người, chỉ có dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là những nền dân
chủ hiện đại. Tuy nhiên, hai nền dân chủ đó có sự khác nhau về chất.
Trong nền dân chủ tư sản, cơ quan nhà nước do dân bầu ra theo nguyên
tắc phổ thông đầu phiếu. Hiến pháp tư sản nêu rõ việc thừa nhận quyền lực
ihuộc về nhân dân cũng như các quyền cơ bản của con người, nhưng các
quyền đó không phải bao giờ người dân cũng thực hiện được dưới chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất. Dân chủ tư sản dù có tiến bộ đến đâu, phát triển đến
đâu cũng luôn bị chế định bởi chế độ kinh tế và thể chế chính trị tư bản chủ
nghĩa. Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản là giai cấp thống trị. Và do đó, xét
về bản chất, nền dân chủ tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản, mọi
nguyên tắc về quyền tự do, dân chủ được ghi trong hiến pháp tư sản không thể
vượi qua được những lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản. Như vậy, đích thực,
nền dân chủ lư sản không phải là thứ dân chủ chung, phổ biến, phi giai cấp
như lời rcu rao của các học giả tư sản. Những hạn chế của nền dân chủ tư sản
không thể tự được khắc phục trong chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
8
xã hội hoá của lực lượng sản xuất, của chế độ sở hữu xã hội; dân chủ xã hội
chủ nghla có nội dung toàn diện, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội từ
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tư tưởng, các mối quan hệ giữa con người
với con người, cá nhân với cộng đồng, giữa nhà nước với công dân.
1.1.2. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự nghiệp xây diữig chủ nghĩa xã hội.
Trong tất cả các chế độ dân chủ đã từng tồn tại, chỉ có chế độ dân chủ xã
hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ của dân, do dân và vì dân trên thực tế.
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, điểm xuất phát là từ con
người và mục tiêu cuối cùng cũng chính là vì con người.
Việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực chất là phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, khơi dậy và phát huy tối đa mọi tiềm năng, khả năng, sức
sáng tạo của đông đảo nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa, xét Irong bản chấl của nó, là một nền dân chú
mang bản chất của giai cấp công nhân, nó có tính nhân đạo và tiến bộ. Xét về
quy mô, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nền dân chủ rộng rãi với đại đa số
quần chúng nhân dân lao động và được thể hiện trong tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa thể hiện bản chất của
chủ nghĩa xã hội, vừa là nhân tố cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách
con ngưừi mới xã hội chủ nghĩa. Với những nguyên tắc mới phù hợp với sự
phát triển lịch sử và tiến bộ xã hội, nó dần dần được hoàn thiện về mọi phương
diện để mang một giá trị ngày càng phù hợp với bản chất của con người.
Do tính chất ưu việt của nó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là yếu tố kích
thích và tác động sâu sắc đến sự phát triển tính tích cực xã hội và nâng cao
chất lượng hoạf động của con người. Thông qua dân chủ xã hội chủ nghĩa mà
10
quyền lợi và nghĩa vụ của con người được bảo đảm, nàng cao tinh thần trách
nhiệm, nhiệt tình và tính năng động của mỗi người. Sống trong môi trường
dân chủ xã hội chủ nghĩa, con người được thể hiện và thực hiện vai trò chủ thể
Nam - đã có nhận thức rất sớm và sâu sắc về vấn đề dân chủ và vai trò của
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh:" Nước ta là
nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ"[34, 515]; " Nước ta là
nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ"[35, 452]. Như vậy,
Người đã xác định rõ: nhân dân là chủ đất nước, đồng thời nhân dân phải có
trách nhiệm thực hiện quyền làm chủ bởi toàn bộ quyền lực và lợi ích thuộc về
nhân dân. Người khẳng định, nước ta là nước dân chủ nên:" Mọi công việc
đều vì lợi ích của nhân dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân, như hội
đồng nhân dân, mặt trận, công đoàn, hội nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu
quốc Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dán, bênh vực
quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phù"[37, 66]. Đảng từ
trung ương đến cơ sở đo dân tổ chức nên, Đảng cũng ở trong xã hội. Nhiệm vụ
của chính quyền là phục vụ nhân dân. Với tư tưởng về dân chủ như vậy, Người
nói:" Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân"[37, 279]. Tư tưởng Hồ chí
Minh về dân chủ có cội rễ sâu xa từ quan niệm đúng đắn của người về sức
mạnh của nhân dân. Với Người, dân là gốc của nước vì:
" Dỗ mười lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong"; [35, 212]
"Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc
gì làm cũng không nên"[34, 293]. Thực tế đã cho thấy, bất cứ cuộc cách mạng
nào muốn thắng lợi đều phải dựa vào lưc lượng quẩn chúng, đi đúng đường lối
của quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ hoàn toàn đối lập với quan liêu,
nên: "chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ"[34, 294]. Từ việc khảng
định giá trị đích thực của dân chủ, Người kết luận:" thực hành dân chủ là chìa
12
khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn"[35, 249]; " Thực hiện những
cải cách xã hội để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực
sự". Từ sự trình bày trên đây, chúng ta thấy, dân chủ trong quan niệm của Hồ
Chí Minh là một hệ thống tổng hợp những thiết chế, vừa là một chế độ xã hội,
vừa là một phưưng thức văn minh của các mối quan hệ trong xã hội hiện đại,
trương, chính sách về khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, chiến lược cán
bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đường lối phát triển kinh tế,
văn hoá, đặc biệt là Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn đổi mới đất nước. Chính vì vậy, trên thực tế quyền làm
chủ của nhân dân tiếp tục được khơi dậy và phát huy. Kết quả là chúng ta đã
thu được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta khảng định"
quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực;
tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gáy phiền hà cho
dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chăn
được. Phương châm" dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm Ira" chưa được cụ
thể hoá và thể chế hoá thành pháp luật, chậm đi vào cuộc sống"[54,3]- Thực
vậy, trên thực tế, tình trạng dân không được bàn bạc và quyết định những công
việc cụ thể liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình, phải đóng góp nhiều
khoản vượt quá khả năng, tài chính lại không minh bạch và bị bớt xén; đơn
thư khiêu nại lô cáo bị để tồn đọng, bị đùn đẩy không giải quyết hoặc giải
quyêt chậm, giải quyết không thoả đáng, không đúng pháp luật của Nhà
nước những tình trạng đó đã làm giảm lòng tin của dân đối với Đảng, làm
triệt tiêu động lực và làm ảnh hưởng không nhỏ tới bản chất tốt đẹp của chế độ
xã hội chủ nghĩa. Do đó, vấn đề dân chủ, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm llìực hiện quyền làm chủ của nhân dân để phát huy động lực to lớn,
14
bảo đảm thực hiện mục tiêu" dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh" như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã dề ra,
không chỉ là đòi hỏi khách quan, mà còn là yêu cầu cấp bách của thực tiễn
cách mạng nước ta và còn là biện pháp hữu hiệu để chống tham nhũng, quan
liêu; củng cô' và tăng cường lòng tin của dân đối với Đảng, bảo vệ Đảng, bảo
vệ chế độ tốt đẹp của xã hội ta.
Qua hơn mười lăm năm đổi mới, quá trình thực hiện và phái huy dán
nông thôn, chiếm khoảng 70% lực lượng lao động xã hội. Dân cư sinh sống
trên địa bàn này khá đa dạng và ngày càng đa dạng cùng với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chỉ tính riêng về số lượng
đã cho chúng ta thấy cấp xã có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển đất
nước.
Trong những năm đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều
hành và quản lý của Nhà nước, cấp xã và cư dân ở xã đã đóng góp được nhiều
mặt cho sự phát triển của xã hội. Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dán
được cải thiện, trong đó có một bộ phận được cải thiện khá rõ. Trình độ dán trí
và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân đã được nâng lên đáng kế so với
trước đây. Bộ mặt kinh tế - xã hội ở nông thôn đã có nhiều thay đổi. Phong
trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân đã phát triển tốt trên nhiều lĩnh vực,
đem lại hiệu quả thiết thực đối với cả đất nước, với mỗi địa phưưng, với mỗi
gia đình và mỗi con người. Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ
của đất nước, với Đảng và Nhà nước được nâng lên. Đó là những hình ảnh
sống động nhất về sự kết hợp giữa đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng,
Chính phủ với hành động cách mạng chủ động, tích cực, sáng tạo của nhân
dân. Có thể nói, bầu không khí dân chủ đã dần thực sự phát triển trong xã hội
ta hiện nay.
16
Từ thực tế đã cho chúng ta thấy, cấp xã có một vị trí, vai trò hốt sức
quan trọng trong sự phát triển nhiều mặt của xã hội. Điều đó được thể hiện
khái quát ở những khía cạnh sau :
+ Cấp xã là nơi cung cấp nguồn lao động cho xã hội và đổng thời cũng
là nơi giải quyết vấn đề lao động việc làm cho nhân dân lao động.
+ Cấp xã là nơi thực hiện một cách rộng rãi và trực tiếp nhất quyồn làm
chủ của nhân dân.
+ Cấp xã vừa là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, là nơi
quyết định và trực tiếp hiện ihực hoá mọi chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tiếp thu ý kiến phản hồi của nhân dán.
của nhân dân đối với Đảng và chính quyền, giữ vững ổn định chính trị và trật
tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, quá trình triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã cũng bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm, nhất là ở miền núi, vùng đồng
bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa với điều kiện kinh tế còn chậm phái triển, trình
độ dân trí còn thấp, trình độ và năng lực của cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập,
điều kiện giao thông trắc trở đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển
khai Quy chế. Do đó, để tiếp tục hoàn thiện và triển khai Quy chế tốt hưn, một
mặt, chúng la cần chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu và những nội dung
trong Quy chế, mặt khác, cần nghiên cứu các điều kiện cụ thể của từng vùng,
miền để triển khai Quy chế cho phù hợp với từng địa phương.
Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã được thực hiện thông qua hệ thống
chính trị cấp xã và phải quán triệt quan điểm chỉ đạo “ Đặt việc phát huy
quyền làm chủ của nhân dân ở cư sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính
trị “ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Coi trọng cả ba
mặt nói trên, không vì nhấn một mặl mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác”[54,4].
Cơ chê là mối quan hệ giữa các yêu tố, sư sắp đăl và tác đông qua lai giữa các
18
yếu tố trong một hệ thống theo những nguyên lắc nhất định đe báo đảm sự vận
hành của hệ thống nhằm đạt một mục liêu nhất định. Do đó, muốn hiếu cơ chế
phải hiểu hệ thống; muốn hiểu hệ thống phải hiểu vị trí, đặc điểm, chức năng
của mỗi yếu tố trong hệ thống và các nguyên tấc chi phối, các mối quan hệ
qua lại giữa chúng. Bất cứ cơ chế của hệ thống nào cũng đều mang tính khách
quan bởi cơ chế được quy định lừ sự tổn tại khách quan của hệ thống và tính
quy luật trong quan hệ qua lại giữa các yếu tố của hệ thống đó. Cơ chế thực
hiện dân chủ là một cơ chế xã hội. Nó được quy định bởi một hệ thống các tổ
chức chính trị - xã hội và các nguyên tấc quan hệ qua lại giữa các tổ chức đó.
Thông qua hệ thống này, các giá trị dân chủ được thể chế hoá và hiện thực hoá
nhằm thực hiện quyền dân chủ của một giai cấp hoặc của toàn thể nhân dàn.
Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã
hội và các mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau hợp thành cư chế chính trị
Hệ thống chính trị cấp xã bao gồm các thành phần: tổ chức cư sở đảng(
đảng bộ, chi bộ), chính quyền và các đoàn ihể chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ
quốc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nồng dân, Hội Phụ nữ,
Hội Cựu chiến binh), vận hành theo cơ chế chung là Đáng lãnh dạo, Nhà nước
quản lý, nhân dãn làm chủ.
Hệ thống chính trị cấp xã có chức năng chung là bảo đảm cho mọi chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng, chính quyền cấp trên trực tiếp được thực hiện đúng đắn,
sáng tạo tại địa phương, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động, bảo đảm quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vậl chất và tinh thần
của nhân dân ở xã.
Trong hệ Ihống chính trị cấp xã, tổ chức cơ sở đảng giữ vai trò lãnh đạo
toàn diện các mặt trong xã ; lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã
hội. Theo Điều 21 trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại
20
Đại Hội đại biểu lần thứ VIII, tổ chức Đảng ở xã được gọi là tổ chức cư sở
đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở), là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị
ở cơ sở. Điều này cũng đã được Đảng ta khẩng định lại trong Điều 21, Chương
V của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua trong Đại hội lần thứ
IX. Theo tinh thần trong Điều 1, Quy định số 50 - QĐ/TW của Ban Bí thư
Trung ương Đảng ban hành ngày 19/11/1992, đảng bộ, chi bộ nông thôn là hạt
nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với
Nhà nước. Với chức năng đó, chi bộ nông thôn có nhiệm vụ: lãnh đạo thực
hiện phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng; lãnh đạo công tác tổ
chức, cán bộ; lãnh đạo công tác tư tưởng và lãnh đạo các đoàn thể nhân dán.
Chính quyền xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ưỷ ban nhân dân. v ề vị
trí, theo Điều 1 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân(sửa
đổi) năm 1994 “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
chủ yếu là quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống ở địa phương bằng
pháp luật; tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp. Nhiệm vụ chính của Ưỷ ban nhân dân cấp xã là cùng Hội
đồng nhân dân chuẩn bị các kỳ họp, chấp hành các nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp và quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội ở địa phương mình đang quản lý. Như vậy, Uỷ ban nhân
dân xã vừa là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp xã, vừa là cơ
quan hành chính nhà nước ở cơ sở.
Các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, một mặt tham gia quản lý và giám
sát hoạt động của Đảng và chính quyền địa phương, đổng thời đề ra chương
trình hoạt động theo tôn chỉ và muc đích của tổ chức mình; tuyên truyền, giáo
dục, vận dộng các thành viên thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và
Nhà nước cũng như nhiệm vụ chính trị, kinh tố của địa phương; phối hợp với
22