1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÝ
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC VỚI
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Xã hội học
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Vân Hạnh
HÀ NỘI - 2011
4
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC HỘP iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu ……………………………
5
5. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………
6
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu …………………………
8
7. Khung lý thuyết ……………………………………………………………
24
CHƯƠNG 2: Thực trạng nhận thức – thái độ - hành vi của sinh viên trường
Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo học chế tín chỉ
26
2.1. Nhận thức học tập của sinh viên về phương pháp học tập theo tín chỉ
26
2.1.1. Nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập trên lớp trong phương
pháp học tập của hệ thống đào tạo tín chỉ ………………………………………
28 5
2.1.2. Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học trong phương pháp học ở nhà
và trên thư viện của hệ thống đào tạo tín chỉ ……………………………………
32
2.1.3. Nhận thức của sinh viên về các hoạt động biểu hiện tính tích cực học tập
của phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ ………………………
37
2.2. Thái độ của sinh viên với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo
tín chỉ
42
2.2.1. Thái độ của sinh viên với thời gian học tập trên lớp, ở nhà trong hệ thống
đào tạo tín chỉ ………………………………………………………………
44
2.2.2. Thái độ của sinh viên với phương pháp giảng dạy của giảng viên theo học
chế tín chỉ ………………………………………………………………………
46
2.2.3. Thái độ của sinh viên với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo học chế tín chỉ ………………………………………………………….
48
82
3.3. Các nhân tổ ảnh hưởng đến hành vi học tập của sinh viên trong hệ
thống đào tạo tín chỉ
86
3.3.1. Các đặc điểm cá nhân của sinh viên …………………………………
86
3.3.2. Phương pháp giảng dạy của giáo viên ………………………………
91
3.3.3. Cơ sở vật chất của nhà trường ……………………………………………
94
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
99
1. Kết luận…………………………………………………………………………
99
6
2. Một vài khuyến nghị…………………………………………………………
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………
1
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau mười năm chuyển mình đổi mới, đến Đại hội toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1996
thì “Giáo dục, đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu”
1
Đề tài góp phần làm rõ hơn hệ thống khái niệm trong nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi và
cũng là một đóng góp nhỏ giúp chúng ta có thể kiểm chứng một số lí thuyết xã hội học như: lí thuyết ngưỡng
tình huống, nghịch lí LaPie trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài này giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên
trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo học chế tín chỉ và những nhân tố ảnh hưởng đến
thực trạng này, từ đó có những giải pháp nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, 1996, xem
trên ngày 26/10/2008
2
Xem bài Thủ tướng: Đổi mới giáo dục đại học là chuyện cấp bách trên
cập nhật ngày 26/10/2008
3
Quy định về đào taoh Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, Ban hành kèm theo quyết định số
801/2008/QĐ -ĐHHĐ ngày 03 tháng 9 năm 2008 của hiệu trưởng trường ĐHHĐ 2
2
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức – thái độ - hành vi của sinh viên
trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo học chế tín chỉ cũng như các yếu tố tác động tới
* Phạm vi thời gian: tháng 3/2010 đến 11/2011
* Phạm vi không gian: Trường Đại học Hồng Đức
* Nội dung nghiên cứu
- Nhận thức: Nghiên cứu giới hạn trong việc tìm hiểu và phân tích xem sinh viên trường Đại học
Hồng Đức có nhận thức đúng về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ không và tìm hiểu nhận
thức của sinh viên thông 15 biểu hiện về hoạt động học tập trên lớp, ở nhà và trên thư viện.
- Thái độ: Nghiên cứu chỉ tìm hiểu các biểu hiện trong thái độ của sinh viên khi tham gia hoạt động
học tập: Sinh viên thích hay không thích phương pháp học tập theo học chế tín chỉ, sinh viên thích hay không
thích một số hoạt động liên quan đến học tập như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, phương pháp kiếm
tra, đánh giá và thời gian học tập. - Hành vi (thực hành phương pháp học tập):
Chúng tôi hướng đến tìm hiểu hành vi học tập của sinh viên trong hệ thống đào tạo tín chỉ ở 18 loại
hành vi phổ biến trong các hoạt động học tập trên lớp, ở nhà, trên thư viện với các nhóm hành vi học tập tích 3
3
cực, hành vi học tập thụ động, hành vi học tập lệch chuẩn, ngoài ra còn tìm hiểu hành vi học nhóm – một đặc
trưng của phương pháp học tập theo học chế tín chỉ.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp chọn mẫu
Thông tin được thu thập từ mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên từ các khoa của trường Đại học Hồng
Đức. Dung lượng mẫu là 300 sinh viên. Tính đại diện của mẫu nghiên cứu được đảm bảo bằng quy trình
chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm nhiều giai đoạn
5.2. Phương pháp thu thập thông tin
5.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Tôi đã tiến hành phát 300 phiếu trưng cầu ý kiến cho sinh viên các khoa trong trường : Khoa Xã hội,
bộ môn Tâm lí, Khoa Tự nhiên, Khoa Kĩ thuật công nghệ, Khoa Ngoại ngữ:
lớp, giới tính, ngành học, năm học, điểm trung bình học tập, cơ sở vật chất của nhà trường. 4
4
7. Khung lý thuyết
Nhận thức của sinh
viên trường Đại học
Hồng Đức với
phương pháp học tập
theo học chế tín chỉ:
- Nhận thức chung
về phương pháp học
tập theo tín chỉ.
- Nhận thức về hoạt
động học tập trên
lớp
- Nhận thức về các
hoạt động học tập ở
nhà, trên thư viện
-Nhận thức về các
hoạt động biểu hiện
tính tích cực học tập
của sinh viên.
Thái độ của sinh viên
trường Đại học Hồng
Đức với phương pháp
học tập theo học chế
tín chỉ:
- Sinh viên thích hay
không thích phương
pháp học tập theo học
chế tín chỉ.
-Sinh viên thích hay
không thích thời gian
học tập ở nhà, trên
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong những năm vừa qua, rất nhiều những hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ
được tổ chức ở các trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Hà Tĩnh, Đại học Vinh, Đại học Hồng Đức,
Đại học Đà Lạt, Đại học Thái Nguyên, Đại học dân lập Thăng Long Đặc biệt có những hội thảo mang tầm
quốc gia như Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ tại Đại học Đà Nẵng vào năm 2006 đã
thu hút được sự tham gia của rất nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu ở các trường đại học, các viện nghiên cứu
trên mọi miền trên tổ quốc.
Đưa ra các giải pháp để triển khai phương pháp học tập theo học chế tín chỉ, PGS.TS Nguyễn Văn
Nhã – Trưởng ban đào tạo Đại học Quốc Gia Hà Nội đã có bài viết: “Các giải pháp triển khai phương thức
đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” trong hội thảo này.
Bên cạnh những bài viết đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo trong học chế tín chỉ,
nhiều học giả còn đưa ra những phân tích dựa trên kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển và
đã có những thành công trong hoạt động ứng dụng phương pháp học tập theo học chế tín chỉ như Trung
Quốc, Mĩ, Malaixia… Đưa ra những kinh nghiệm của Malaixia trong hoạt động đào tạo theo tín chỉ và so
sánh với Việt Nam trong tiến trình đào tạo này TS Lê Văn Hảo – Trường Đại học Nha Trang đã viết “Tổ
chức đào tạo đại học theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaixia và so sánh với Việt Nam.
TS Eli Mazul &TS Phạm Thị Ly đã chỉ ra hệ thống giáo dục đại học tốt nhất thế giới - Mĩ là một hệ
thống không có hệ thống qua bài viết “Hệ thống đào tạo theo tín chỉ của Mĩ và những cải cách cho hệ thống
giáo dục đại học Việt Nam”.
Không chỉ quan tâm đến những hoạt động trong lĩnh vực đào tạo chính quy, hội thảo cũng có nhiều
bài viết quan tâm đến lĩnh vực đào tạo văn bằng 2, không chính quy như Th.S Phan Thị My với bài viết
“Tiếp cận hệ thống tín chỉ trong đào tạo không chính quy”.
Ngoài hội thảo trên còn rất nhiều các hội thảo khác như hội thảo “Đổi mới phương thức dạy theo học
chế tín chỉ” của Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP. Hồ Chí Minh diễn ra vào năm 2008
Không chỉ có hội thảo, các bài nghiên cứu dưới hình thức bài báo về phương thức đào tạo tín chỉ
cũng xuất hiện khá nhiều trên các tạp chí với nhiều nội dung khác nhau. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu này
chủ yếu tập trung ở một số những nhóm như sau:
Thứ nhất, những bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu về bản chất của tín chỉ cũng như sự ứng dụng nó
ở Việt Nam thu hút được sự tham gia nghiên cứu của rất nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu, những người quan
có độ chênh giữa nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trong phương pháp học tập theo hệ thống đào
tạo tín chỉ hay không? Đây là một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ trong những hướng nghiên cứu về hệ
thống đào tạo theo tín chỉ ở Việt Nam.
1.2. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Hồng Đức được thành lập theo Quyết định số 797/TTg ngày 24/9/1997 của Thủ tướng
Chính phủ trên cơ sở của trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế Thanh
Hoá. Trường lấy Hiệu của Hoàng đế Lê Thánh Tông làm tên gọi.
Là trường công lập trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ
Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, Ngành Trung ương trong phạm vi chức năng quyền hạn có liên quan
Trường Đại học Hồng Đức đã bắt đầu chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm 2008, đến nay
nhóm sinh viên bắt đầu học theo hệ thống đào tạo này đã bước sang năm thứ 4. Trong quá trình chuyển đổi
từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ, trong giai đoạn đầu, nhà trường, đội ngũ giảng
viên và sinh viên đã gặp phải không ít những khó khăn. Tuy nhiên, sau 4 năm học triển khai hình thức đào
tạo này với sự học hỏi kinh nghiệm từ nhiều trường đi trước, nhà trường đã chuẩn hóa thành những quy định
trong mọi hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học khiến tập thể giảng viên và sinh viên yên
tâm giảng dạy và học tập.
Mặc dù, đang là những năm đầu triển khai hệ thống đào tạo này nhưng nhà trường, giảng viên và sinh
viên rất tích cực tìm hiểu và vận dụng sáng tạo những ưu điểm của phương pháp học tập theo hệ thống đào
tạo tín chỉ vì thế chất lượng học tập và giảng dạy đang từng bước được nâng cao.
1.3. Cơ sở phương pháp luận
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa
duy vật biện chứng.
Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo
tín chỉ là một hành vi xã hội. Nó không chỉ chịu tác động của mục đích, nhu cầu, đặc điểm của cá nhân người
học mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, môi trường xã hội
xung quanh…. Bởi thế, muốn tìm hiểu và lí giải được “Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên trường Đại
học Hồng Đức với phương pháp học tập theo tín chỉ” chúng ta phải xem xét nó trong các mối quan hệ với
các yếu tố chủ quan của người học cũng như nhưng yếu tố khách quan khác.
Mặt khác, sự ra đời và phát triển của phương pháp học tập theo tín chỉ tại các trường Đại học của
nước ta nói chung và Đại học Hồng Đức nói riêng cũng là sự phản ánh thực tiễn của xã hội Việt Nam với xu
cảnh xã hội mà trong đó thành phần đó có thể biểu hiện ra hay là xác suất mà thành phần đó xuất hiện. Lí
thuyết này chỉ ra rằng: tuỳ theo ngưỡng tình huống mà một thành phần trong một tình huống cụ thể sẽ hiện
ra, việc tìm ra ngưỡng tình huống cho từng thành phần sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thái độ.
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng quan điểm về “ngưỡng tình huống” trong nghiên cứu về thái độ
nhằm xác định sự tồn tại các ngưỡng tình huống giữa các thành phần: nhận thức, thái độ và hành vi của sinh
viên về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
1.5. Các khái niệm công cụ
1.5.1. Nhận thức
Trong đề tài này, khái niệm “Nhận thức” được phân tích là những quan điểm, sự nhìn nhận và đánh
giá của sinh viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo tín chỉ:
+ Nhận thức chung của sinh viên trường ĐH Hồng Đức với phương pháp học tập theo tín chỉ.
+ Nhận thức về mục tiêu của phương pháp học tập theo tín chỉ của sinh viên ĐH Hồng Đức.
+ Nhận thức về cách tham gia bài giảng trên lớp, về hoạt động chuẩn bị bài, về hoạt động lên thư
viện… của sinh viên học theo hình thức đào tạo tín chỉ.
1.5.2. Thái độ
Trong nghiên cứu này, khái niệm “thái độ” được phân tích là tâm thế thích hay không thích của sinh
viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo hệ thống tín chỉ.
+ Sinh viên trường Đại học Hồng Đức có thái độ thích hay không thích với phương pháp học tập
theo tín chỉ.
+ Sinh viên có thái độ thích hay không thích với thời gian học tập trên lớp, ở nhà theo học chế tín
chỉ.
+ Sinh viên có thái độ thích hay không thích với phương pháp dạy học của giáo viên theo học chế tín
chỉ.
+ Sinh viên có thái độ thích hay không thích với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo học chế tín chỉ.
1.5.3. Hành vi.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm hành vi để phân tích những phản ứng của sinh
viên trường Đại học Hồng Đức trước phương pháp học tập theo học chế tín chỉ. Tìm hiểu về hành vi của sinh
viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập theo tín chỉ ở đề tài này tìm hiểu qua những góc độ
sau:
+ Cần phải có phương pháp lập kế hoạch cho cả khóa học.
+Phương pháp học tập trong giờ lí thuyết là nghe, viết, suy ngẫm còn giờ thảo luận là nói và tranh
luận nhiều hơn.
+ Tăng cường thời lượng học trên thư viện và ở nhà.
+ Tăng cường thời gian học nhóm
+ Sinh viên phát huy khả năng độc lập, sáng tạo trong học tập. CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NHẬN THỨC - THÁI ĐỘ - HÀNH VI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐH
HỒNG ĐỨC VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP THEO TÍN CHỈ
2.1. Nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập theo tín chỉ
. Nghiên cứu nhận thức của sinh viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập trong hệ
thống đào tạo tín chỉ chúng tôi đã đưa ra 15 nhận định về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ
với các nhóm hoạt động như: hoạt động học tập trên lớp, ở nhà, trên thư viện và một số hoạt động khác liên
quan đến học tập. 9
9
Trong từng hoạt động chúng tôi đưa ra 3 phương án trả lời: đúng, sai và phân vân. Tuy nhiên, để tính
chỉ số nhận thức đúng về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ, chúng tôi quan niệm phương
77.3/100
Độ lệch tiêu chuẩn
24,6
Giá trị lớn nhất
100
Giá trị nhỏ nhất
16.6
Chỉ số nhận thức đúng về phương pháp học tập trên lớp trong hệ thống đào tạo tín chỉ xấp xỉ bằng
với chỉ số nhận thức chung (77.3 điểm phần trăm so với 78,6 điểm phần trăm). Chỉ số thấp hơn không quá
nhiều nhưng nó cũng cho thấy: sinh viên trường Đại học Hồng Đức có nhận thức về phương pháp học tập
trên lớp chưa cao bằng so với nhận thức chung về nhóm các phương pháp học tập khác trong hệ thống tín
chỉ, tuy nhiên đây cũng là một chỉ báo khá cao.
Tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này thông qua thống kê cụ thể các chỉ số tần suất chúng tôi thu được kết
quả trong bảng sau:
Bảng 2.3: Tần suất về nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập trên lớp trong hệ thống đào tạo
tín chỉ (đơn vị %)
Nhận định
Đúng
Sai
Phân
vân
Học tập trong đào tạo theo hình thức tín chỉ là dám tranh luận với giáo viên khi có ý
kiến khác
89.3
các phương pháp học tập trên lớp, những nhận thức không đúng chiếm một tỉ lệ không lớn nhưng nó cho
thấy vẫn còn một số sinh viên có nhận thức sai lầm với phương pháp học tập này.
Bên cạnh những sinh viên nhận thức sai vẫn còn một nhóm không nhỏ những sinh viên băn khoăn,
chưa biết hoặc chưa hiểu rõ về bản chất của hoạt động học tập trên lớp trong hệ thống đào tạo tín chỉ. Đây là
nhóm đối tượng dễ tác động để tăng cường tỉ lệ nhận thức đúng về hoạt động học tập trên lớp của sinh viên
Đại học Hồng Đức.
2.1.2. Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học trong phương pháp học ở nhà và trên thư viện của
hệ thống đào tạo tín chỉ.
Tìm hiểu về nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học trong phương pháp học ở nhà và trên thư
viện qua 4 nhận định trong đó có 3 nhận định đúng và 1 nhận định sai là: là tăng thời lượng học trên thư viện
và ở nhà”, “là biết cách đọc tài liệu một cách phê phán (không chấp nhận máy móc mọi thông tin đọc
được)”, “là phải tự đọc các tài liệu liên quan đến nội dung môn học”, “là học thuộc lòng bài giảng hay tài
liệu”, chúng tôi thực hiện thống kê và thu được kết quả sau:
Bảng 2.4: Mức độ nhận thức đúng về hoạt động tự học của phương pháp học trên thư viện và ở nhà
trong đào tạo tín chỉ
Mẫu điều tra
281
Chỉ số mức độ nhận thức về hoạt động tự học của phương pháp học
trên thư viện và ở nhà trong hệ thống đào tạo tín chỉ
76.3/100
Độ lệch tiêu chuẩn
17.9
Giá trị lớn nhất
100
Giá trị nhỏ nhất
20
Chỉ số 76.3 điểm phần trăm là một chỉ số khá cao, giúp chúng ta nhận thức rõ đa phần sinh viên đều
có ý thức tốt khi đánh giá về hoạt động tự học trên thư viện và và ở nhà.
Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này chúng tôi thống kê tần suất và có kết quả trong bảng sau:
28.1 11
11
(không chấp nhận máy móc mọi thông tin đọc được)
Bảng thống kê cho thấy, số lượng sinh viên nhận thức đúng về bản chất của nó đều trên 80%, tỉ lệ
nhận thức sai dưới 10%, tỉ lệ còn phân vân đều trên 5%. Tương tự, như cách lí giải, phân tích trong phương
pháp học tập trên lớp chúng ta rất dễ dàng tăng cường tỉ lệ sinh viên nhận thức đúng bằng cách tác động vào
số lượng sinh viên vẫn còn băn khoăn chưa rõ về hoạt động tự học ở nhà và trên thư viện trong phương pháp
học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
2.1.3. Nhận thức của sinh viên về các hoạt động biểu hiện tính tích cực học tập của phương pháp học
tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ
Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi đã đưa ra 5 nhận định, trong đó có 4 nhận định đúng: “là phải xây
dựng kế hoạch học tập cho từng môn học”, “luôn tìm tòi sáng tạo về môn học”, “sinh viên được lựa chọn
môn học, giáo viên”, “mạnh dạn tranh luận với các bạn trong lớp, trong nhóm khi có ý kiến khác nhau về
một vấn đề”, và 1 nhận định sai: “coi ý kiến của giáo viên luôn luôn đúng”, chúng tôi thực hiện thống kê và
thu được kết quả như sau
Bảng 2.6: Mức độ nhận thức đúng về các hoạt động biểu hiện tính cực của sinh viên của phương pháp
học ở hệ thống đào tạo tín chỉ
Mẫu điều tra
281
Chỉ số mức độ nhận thức về hoạt động biểu hiện tính tích cực của sv
trong phương pháp học ở hệ thống đào tạo tín chỉ
81.2/100
Độ lệch tiêu chuẩn
18
Giá trị lớn nhất
100
Giá trị nhỏ nhất
89.3
3.9
6.8
Tỉ lệ nhận thức đúng khá cao ở trên được nhìn nhận rõ ràng hơn thông qua từng chỉ số riêng rẽ.
Trong 4 nhận định đúng và 1 nhận định sai về các hoạt động biểu hiện tính tích cực, tỉ lệ sinh viên nhận thức
được đây là những nhận định đúng chiếm tỉ lệ khá cao (tỉ lệ cao nhất là 89.3% số sinh viên hiểu “Học tập
trong đào tạo theo hình thức tín chỉ là mạnh dạn tranh luận với các bạn trong lớp, trong nhóm khi có ý kiến
khác nhau về một vấn đề.” và tỉ lệ thấp nhất là 67.5% sinh viên hiểu “Học tập trong đào tạo theo hình thức
tín chỉ là sinh viên được lựa chọn môn học, giáo viên”.
Tiểu kết: Từ những phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy: sinh viên trường Đại học Hồng Đức có
nhận thức đúng khá cao về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ. Cũng có những sinh viên
nhận thức sai và còn phân vân, tuy nhiên tỉ lệ này không quá nhiều.
2.2. Thái độ của sinh viên với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
Nghiên cứu về thái độ của sinh viên với phương pháp học tập này, chúng tôi chỉ đưa ra một câu hỏi:
Bạn có thích phương pháp học tập trong hình thức đào tạo tín chỉ hay không? với 2 phương án trả lời: Có,
Không. Tiến hành xử lí thống kê những phương án nhận được trong câu hỏi này chúng tôi thu được số liệu ở
bảng sau:
Bảng 2.8 : Thái độ của sinh viên với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ 12
12
Thái độ với phương pháp học tập trong hệ
thống đào tạo tín chỉ
Tần số
Tần suất (%)
Thích
159
56.8
Không thích
2.2.3. Thái độ của sv với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo học chế tín chỉ.
Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi thu được kết quả sau: 53.5% sinh viên thích phương pháp học tập
trong hệ thống đào tạo tín chỉ cho rằng: phương pháp kiểm tra đánh giá trong phương pháp học tập của hệ
thống đào tạo tín chỉ chính xác và linh hoạt hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những ý kiến không thích
phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ vì giáo viên thường lấy điểm theo các nhóm học tập và
điểm đánh giá theo nhóm nhiều khi không khách quan
Tóm lại, rất nhiều sinh viên khẳng định, họ thích phương pháp kiểm tra đánh giá trong hệ thống đào
tạo tín chỉ vì nó khá chính xác và linh hoạt, tuy nhiên vẫn còn có những điểm hạn chế cần phải khắc phục để
có kết quả đánh giá khách quan hơn.
Tiểu kết:: Tỉ lệ sinh viên thích phương pháp học tập này không quá cao (56.3%) nhưng là một chỉ số trung
bình. Tỉ lệ sinh viên không thích thời gian học tập trên lớp còn khá cao, trong khi đó, tỉ lệ sinh viên thích
phương pháp giảng dạy của giáo viên và phương pháp kiểm tra đánh giá chiếm ưu thế hơn so với tỉ lệ sinh
viên không thích.
Tìm hiểu về thái độ của sinh viên trường Đại học Hồng Đức cũng cho chúng ta thấy, có độ chênh
giữa nhận thức đúng và thái độ tích cực về phương pháp học tập đó.
2.3. Hành vi học tập của sinh viên trong phương pháp học tập của hệ thống đào tạo tín chỉ.
Nghiên cứu hành vi học tập của sinh viên chúng tôi đưa ra 18 hành vi học tập, trong đó 8 hành vi
đúng với tính thần của phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ và 10 hành vi không đúng với tinh
thần của phương pháp học tập này. Ở mỗi hành vi chúng tôi để sinh viên tự trắc nghiệm xem mình đã thực
hiện hành vi nào trong số các hành vi đó với 2 phương án: đúng, sai cho câu hỏi: nhận định này là đúng hay
sai với bạn trong số các môn học mà bạn tham gia. Tiến hành thống kê chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 2.10: Chỉ số hành vi học tập đúng với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ
Mẫu điều tra
281
Chỉ số thực hành học tập tích cực
74.2/100 13
13
74.9
Bạn thường trao đổi với các bạn trong lớp về bài học
87.5
Bạn thường tham khảo kinh nghiệm của các anh chị khóa trên
70.7
Bạn thường đọc tài liệu trước khi đến lớp
76.8
Bạn thường đọc lại bài giảng của thầy cô sau mỗi buổi học
72.5
Bạn thường là người trình bày ý tưởng của nhóm trong mỗi buổi học thảo luận
63.6
Kết quả ở bảng số liệu trên cho thấy, ở tất cả các hành vi học tập tích cực sinh viên trường Đại học
Hồng Đức đều thực hành khá tốt.
Nghiên cứu kĩ hơn, chúng tôi phân tích hành vi: thường xuyên lên thư viện để đọc sách báo để làm
rõ hơn các hành vi học tập tích cực của sinh viên. Cách học trên thư viện là một cách học vừa ý nghĩa, vừa
kinh tế, đặc biệt là với những bạn có hoàn cảnh khó khăn không đủ kinh phí để mua tài liệu tham khảo và
sách vở. Số sinh viên thường xuyên lên thư viện tìm kiếm sách báo chiếm 74.9%:
2.3.2. Hành vi học tập thụ động
Để nghiên cứu về hành vi học tập thụ động của sinh viên, chúng tôi đã đưa ra 5 dạng hành vi: Bạn ít
khi tranh luận với giáo viên, Bạn không tham gia nghiên cứu khoa học, Bạn ít tìm kiếm thông tin phục vụ cho
học tập trên internet, Bạn ít tìm mua sách chuyên ngành, Bạn ít khi đưa ra các ý kiến khi học nhóm, tiến
hành thống kê chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 2.12: Tần suất hành vi học tập thụ động của sinh viên trường Đại học Hồng Đức
Hành vi học tập thụ động
Tần suất
Bạn ít khi tranh luận với giáo viên
39.6
Bạn không tham gia nghiên cứu khoa học
47.1
Bạn ít tìm kiếm thông tin phục vụ cho học tập trên internet
11.5
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy: số sinh viên có những hành vi lệch chuẩn trong học
tập không nhiều. Ở phần đông các dạng hành vi lệch chuẩn, số sinh viên thực hiện đều thấp hơn 20%, tỉ lệ
thấp nhất là: Hành vi không tập trung vào bài giảng (11.5%), duy nhất chỉ có dạng hành vi: Bạn có ít nhất
một lần sử dụng tài liệu khi chưa được phép là chiếm tỉ lệ cao nhất: 39.3%.
2.3.4. Hành vi học nhóm
Học nhóm là một hành vi học tập phổ biến trong đào tạo tín chỉ. Tiến hành tìm hiểu thời lượng học
nhóm ngoài giờ lên lớp của sinh viên Đại học Hồng Đức chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.14 : Thời lượng học nhóm sau giờ lên lớp của sinh viên trường Đại học Hồng Đức
Số buổi
Tần suất
0 buổi
0
1 buổi
22.9
2 buổi
24.4
3 buổi
26.5
Trên 3 buổi
26.2
Như vậy, tất cả mọi sinh viên Đại học Hồng Đức đều tham gia học nhóm, thời lượng này dao động
trong khoảng từ 1 buổi đến trên 3 buổi, không có sinh viên nào không tham gia học nhóm sau giờ lên lớp.
Tìm hiểu về khoảng thời gian học nhóm của các bạn, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 2.15: Thời gian học nhóm của sinh viên
Thời gian học nhóm
Tần suất
Sau buổi học của môn đó
16.1
Vào những tiết học cả nhóm được nghỉ
41.2
11.8
6.5
Đưa ra những ý tưởng mới lạ cho vấn đề thảo luận
23.7
58.3
15.5
2.5
Không có ý kiến gì trước những vấn đề thảo luận
2.2
28.3
34.1
35.5
Là người trình bày ý tưởng của nhóm
18.3
56.8
17.6
7.2
Là người trả lời các câu hỏi của thầy cô và các bạn
17.6
60.2
14.0
8.2
Sinh viên trường đại học Hồng Đức tham gia vào hoạt động học nhóm khá tích cực. Ở tất cả các
hành vi tích cực trong học nhóm các bạn đều thực hiện ở mức thỉnh thoảng và thường xuyên tương đối cao.
Vậy thái độ của họ với hoạt động học nhóm như thế nào. Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi nhận thấy như
sau: 15
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐH HỒNG ĐỨC VỚI
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP THEO TÍN CHỈ
3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên trường Đại học Hồng Đức với phương pháp
học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
Xuất phát từ những kết quả thống kê đã thực hiện, chúng tôi nhận thấy có một số yếu tố ảnh hưởng
đến nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ như sau:
3.1.1. Đặc điểm của cá nhân của sinh viên
Một trong những đặc điểm căn bản nhất của phương pháp học tập này là: tăng thời lượng tự học trên
thư viện và ở nhà. Vì vậy, để tìm hiểu nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập trong hệ thống đào
tạo tín chỉ, chúng tôi hướng đến việc tìm hiểu những yếu tố có ảnh hưởng đến những nhận thức về bản chất
và nhận thấy yếu tố giới tính là một trong những yếu tố có ảnh hưởng nhất định.
Bảng 3.1 : Tương quan giữa biến số giới tính và biến số nhận thức về tăng thời lượng học trên thư viện
và ở nhà (%)
Giới tính
Nhận thức của sinh viên
Tổng
Đúng
Sai
Nữ
81.0
19.0
100
Nam
83.7
16.3
100
Xét mối tương quan giữa hai biến số (biến số năm học và một biến số khá căn bản của phương pháp
học theo hệ thống tín chỉ: sinh viên tăng thời lượng học ở nhà và trên thư viện), chúng ta có thể nhận thấy
yếu tố năm học có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên với phương pháp học tập trong
hệ thống đào tạo tín chỉ. Càng ở những năm học sau sinh viên nhận thức về vấn đề này càng rõ nét hơn. Có
80.4% số sinh viên năm thứ nhất nhận thức đúng về vấn đề này nhưng có tới 81.5% số sinh viên năm thứ 2
và 83.7% sinh viên năm thứ 3 nhận thức đúng về điều này. Giải thích điều này chúng ta có thể nhận thấy:
những sinh viên ở các lớp học lớn hơn là những người tiếp cận với phương pháp học tập này sớm hơn, họ
không chỉ được nghe và còn thực sự “va chạm” với những vấn đề trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
3.1.2. Quy định của nhà trường.
Tìm hiểu về nhận thức của sinh viên Đại học Hồng Đức với phương pháp học tập trong hệ thống tín
chỉ, chúng tôi nhận thấy ngoài đặc điểm cá nhân thì quy định của nhà trường cũng có ảnh hưởng rất rõ đến
vấn đề này. Một số nghiên cứu định tính đã chứng minh được quy định của nhà trường có ảnh hưởng không
nhỏ đến nhận thức của sinh viên với phương pháp học tập này.
Chúng ta nhận thấy, quy định của nhà trường về một số lĩnh vực sẽ khiến cho nhận thức của sinh
viên về vấn đề đó thêm chắc chắn và vững vàng. Chính vì vậy, với việc nhà trường đưa ra rất nhiều những
nội quy về hoạt động học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ sẽ là một tấm gương soi để sinh viên có thể nhìn
nhận, đánh giá lại những nhận thức của mình, từ đó có thể có những điều chỉnh và bổ sung.
Tiểu kết: Nhận thức của con người là một quá trình và nó chịu sự ảnh hưởng cũng như chi phối của nhiều
yếu tố. Tìm hiểu nhận thức của sinh viên trường Đại học Hồng Đức về phương pháp học tập trong hệ thống
đào tạo tín chỉ chúng tôi nhận thấy có 2 yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất đến nhận thức của sinh viên là: đặc
điểm của sinh viên và quy định của nhà trường. Đây là 2 yếu tố tồn tại bên trong và bên ngoài của chính đối
tượng nhận thức nhưng đều có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của họ.
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo
tín chỉ
3.2.1. Các đặc điểm cá nhân của sinh viên.
Các đặc điểm của cá nhân sinh viên là những yếu tố đầu tiên góp phần hình thành thái độ về phương
Tổng
Thích
Không thích 17
17
Năm thứ 1
63.2
36.8
100
Năm thứ 2
53.4
46.6
100
Năm thứ 3
57.7
42.3
100
Phân tích tương quan giữa biến số năm học và thái độ của sinh viên với phương pháp học tập chúng
ta nhận thấy ở những năm học khác nhau có sự khác biệt về thái độ đối với phương pháp học tập. Sinh viên
học năm thứ nhất là những sinh viên thích học theo phương pháp học theo tín chỉ nhất (63.2%), trong khi đó
tỉ lệ này giảm mạnh ở sinh viên năm thứ 2 (53.4%) và tăng nhẹ ở sinh viên năm thứ 3 (57.7%). Như vậy, yếu
tố năm học có những ảnh hưởng nhất định đến thái độ của sinh viên trường Đại học Hồng Đức trong phương
pháp học tập theo hệ thống đào tạo tín chỉ, sự ảnh hưởng này đi theo xu hướng của hình zíc zắc.
Kết quả học tập là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến thái độ của sinh viên. Vì
thế, chúng tôi thực hiện phân tích tương quan giữa điểm trung bình học tập kì gần nhất của sinh viên và thái
độ với phương pháp học tập mới và thu được kết quả sau:
Bảng 3.5 : Tương quan giữa biến số điểm trung bình học tập và
vẫn nhận thấy sự ảnh hưởng khá sâu sắc của các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân đến thái độ của họ
với phương pháp học tập mới mẻ này.
Ngoài các đặc điểm cá nhân, thái độ của sinh viên với phương pháp học tập này còn bị ảnh hưởng
bởi nhân tố phương pháp giảng dạy của giáo viên. Tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố này chúng ta nhận thấy
như sau:
3.2.2. Phương pháp giảng dạy của giáo viên
Phương pháp giảng dạy của giáo viên là nhân tố được chúng tôi giả định có ảnh hưởng tới thái độ
của sinh viên với phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
Phân tích mối quan hệ giữa hai biến số này chúng tôi lựa chọn phương pháp truyền thống: giáo viên
đọc cho sinh viên chép (10.7% thầy cô vẫn áp dụng) và phương pháp mới rất phổ biến trong cách giảng dạy
theo hệ thống tín chỉ của giáo viên trường Đại học Hồng Đức hiện nay là giáo viên gợi mở, đặt câu hỏi định
hướng: 68.6%, (theo đánh giá của sinh viên) để xem xét mối quan hệ giữa thái độ của sinh viên với phương
pháp giảng dạy theo hệ thống đào tạo tín chỉ và thu được kết quả sau
Bảng 3.6: Tương quan giữa phương pháp giáo viên chỉ đọc cho sinh viên chép với thái độ với phương
pháp học tập (%)
Phương pháp giáo viên chỉ đọc cho
sinh viên chép
Thái độ
Tổng
Thích
Không thích
Có sử dụng
43.3
56.7
100
Không sử dụng
58.6
41.4
100
Phân tích bảng số liệu này chúng ta có thể nhận thấy, phương pháp giảng dạy của giáo viên có ảnh
Tóm lại, từ việc phân tích mối quan hệ giữa 2 phương pháp giảng dạy với thái độ của sinh viên với
phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ chúng ta có thể khẳng định: phương pháp giảng dạy có
ảnh hưởng nhất định đến thái độ của sinh viên với phương pháp học tập mới.
3.2.3. Quy định của nhà trường.
Những quy định của nhà trường cũng như cách thức triển khai phương pháp học tập mới đến với
sinh viên sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến thái độ học tập của họ. Xuất phát từ nguyên nhân đó mà
chúng tôi đã triển khai các nguyên nhân thích và không thích phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín
chỉ theo xu hướng trên trong các phỏng vấn sâu và bảng hỏi. Kết quả giúp chúng tôi nhận thấy đa phần sinh
viên thích phương pháp học tập theo đào tạo tín chỉ vì nhà trường đã triển khai phương pháp này khá linh
hoạt khiến sinh viên được bộc lộ cá tính nhiều hơn và có nhiều điều kiện để học tập tốt hơn. 83.2% số sinh
viên thích phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ này cho biết đây là phương pháp giúp các bạn
phát biểu ý kiến được nhiều hơn, bộc lộ ý kiến cá nhân nhiều hơn. 53.5% số sinh viên thích phương pháp học
tập này nhận thấy đây là cách giảng dạy linh hoạt và 53.3% số này cũng thích phương pháp kiểm tra đánh
giá.
“Em thích phương pháp học này vì nó là phương pháp rất linh hoạt. Năm ngoái vì hoàn cảnh gia
đình em nghỉ học một kì, nhưng năm nay em vẫn được học với các bạn cùng lớp, không phải học lại với khoá
sau mà chỉ phải học bù lại những tín chỉ chưa học thôi. Việc đăng kí học lại cũng đơn giản, chỉ cần nộp tiền
và đi học, thời khoá biểu cũng được ưu tiên, xếp vào những lớp không trùng với các môn học khác” (Phỏng
vấn sâu số 5- nam K11 kế toán – Khoa Quản trị kinh doanh)
Tóm lại, quy chế của nhà trường trong đào tạo tín chỉ khá linh hoạt, đặc biệt là trong một số hoạt
động như kiểm tra đánh giá, phương pháp giảng dạy hay những quy chế về việc công khai mọi hoạt động
liên quan đến học tập Chính những hoạt động này đã khiến cho sinh viên thích phương pháp học tập này
hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những quy định khiến sinh viên gặp phải những khó khăn trong quá
trình học tập và những quy định này ảnh hưởng đến thái độ tích cực của họ làm họ bộc lộ thái độ không tích
cực với phương pháp học tập này như quy định về thời khóa biểu hay chưa có những quy định về thái độ là
việc của những nhân viên thư viện…
Tóm lại, những quy chế, quy định của nhà trường đã dẫn đến những thái độ khác nhau về phương
pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ. Cần phải khắc phục những mặt hạn chế về thời gian biểu và thái
độ của những người tham gia vào quá trình giáo dục để nâng cao được chất lượng giáo dục của trường Đại
16.6
11.1
16.6
Giá trị lớn nhất
100
100
100
F= 3.02, P= 0.05
Kết quả tại bảng trên cho thấy vị trí chỗ ngồi trong lớp của sinh viên ảnh hưởng rõ ràng đến việc
thực hiện hành vi học tập của sinh viên (P=0.05). Theo đó những sinh viên càng ngồi ở những vị trí ở phía
trên của lớp thì việc thực hiện hành vi học tập càng đúng với tính thần của phương pháp học tập theo học chế
tín chỉ hơn
Như vậy, biến số chỗ ngồi cho chúng ta thấy với cách bố trí giảng đường như hiện nay: hẹp về chiều
ngang, dài về chiều dọc thì 1/3 số sinh viên ở những bàn trên có độ chú ý và việc thực hành hành vi học tập
tốt hơn so với 1/3 số sinh viên ở giữa lớp và nhóm ở giữa lớp này cũng hành vi học tập tích cực hơn so với
1/3 số sinh viên cuối lớp. Yếu tố ngành học
Bảng 3.9 : So sánh chỉ số thực hành đúng phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ của sinh
100
94.4
100
100
100
F= 2.777, P= 0.027
Số liệu tại bảng trên cho chúng ta nhận thấy sự ảnh hưởng của các nhóm ngành học tới hành vi học
tập tích cực của sinh viên (P= 0.027). Những sinh viên tại khoa Tự nhiên là những sinh viên có chỉ số thực
hành đúng phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ cao nhất: 77.5. Các khoa Ngoại ngữ, Kinh tế
và Xã hội – Tâm lí có tỉ lệ thấp hơn lần lượt là: 76.1%, 75.5% và 74.2%. Những tỉ lệ này không thấp hơn
quá nhiều, chỉ có khoa KTCN tỉ lệ sinh viên thực hành đúng phương pháp này thấp hơn so với những khoa
khác (chỉ chiếm 62.1%). Chúng ta có thể nhận thấy, ở những ngành đào tạo số nữ nhiều hơn nam việc thực
hiện các hành vi học tập đúng với tinh thần của tín chỉ có thể nhiều hơn vì nữ thường chăm chỉ hơn nam. Vì
thế, đây có vẻ là lí do khiến cho tỉ lệ thực hành của ngành KTCN thấp hơn những ngành đào tạo khác.
Yếu tố điểm học tập
Bảng 3.10: So sánh chỉ số thực hành đúng phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ của sinh
viên theo điểm trung bình học kì gần nhất (%)
Điểm D và F
Điểm C
Điểm B
Điểm A
Giá trị trung bình
72.8
77.7
78.6
Độ lệch tiêu chuẩn
20.5
Năm 3
Giá trị trung bình
81.5
70.5
74.9
Độ lệch tiêu chuẩn
19.2
22.1
19.4
Giá trị nhỏ nhất
27.7
16.6
11.1
Giá trị lớn nhất
100
100
100
F= 5.353, P= 0.005
Với P= 0.005 và F=5.353, chúng ta có thể nhận thấy, biến số năm học và hành vi thực hành đúng
phương pháp học tập trong hệ thống đào tạo tín chỉ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều đáng ngạc nhiên
là sinh viên năm thứ 1 lại chính là những người thực hành học tập tích cực nhất (81.5%) trong khi đó năm
thứ 2 giảm mạnh (70.5%) và đến năm thứ 3 chỉ số này lại tăng nhẹ trở lại (74.9%)
Như vậy, biến số năm học cũng có ảnh hưởng đến việc thực hành hành vi học tập của sinh viên
trường Đại học Hồng Đức. Ở năm thứ 2 là năm học mà thời khoá biểu dày nhất, vì vậy có thể sinh viên
không thể thực hiện được các hành vi học tập tích cực của mình. Trong khi đó với sự háo hức sinh viên năm
thú 1 thực hành phương pháp này rất tốt.
Tóm lại, các đặc điểm của sinh viên có ảnh hưởng khá chặt chẽ đến hành vi học tập của sinh viên
trường đại học Hồng Đức. Những yếu tố: giới tính, năm học, ngành học, điểm trung bình học tập và vị trí
chỗ ngồi đều có những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hành đúng phương pháp này của sinh viên.
3.3.2. Phương pháp giảng dạy của giáo viên