hu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình Hà Nội hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
=======000=======
NGUYỄN VĂN HÙNG
NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC HỌC TẬP
CHO CON CÁI CỦA CÁC GIA ĐÌNH HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY
MÃ SỐ: 60 31 30
Hà Nội: 8 - 2008


MỤC LỤC NỘI DUNG
Trang

Lời cảm ơn PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU

1.
Lý do lựa chọn đề tài
1
2.
Sơ lược tình hình nghiên cứu
2
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4
4.
Đối tượng, khách thể, phạm vi và mẫu nghiên cứu
5
5.
Phương pháp thu thập thông tin
6
6.
Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung lý thuyết
8

riêng
18
3.2.
Một số thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển dịch
vụ kinh tế xã hội nói riêng sau đại hội VI của Đảng (12/1986)
21
4.
Một số khái niệm chính
23 Chương 2
Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của các
gia đình Hà Nội hiện nay
1.
Đặc điểm kinh tế xã hội của địa bàn khảo sát
29
2
Thông tin về mẫu khảo sát
33
3.
Khả năng cung ứng của các cơ sở dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái
theo đánh giá của các hộ gia đình
38
3.1.
Thực trạng tiếp cận thông tin của các hộ gia đình về cơ sở dịch vụ
38
3.2.
Đánh giá của các hộ gia đình về loại hình dịch vụ
43

Kết luận
73
2.
Đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo
77 Lun vn thc s Xó hi hc Giỏo viờn hng dn. PGS.TS. Phm Vn Quyt
1
LUN VN THC S
TI NHU CU S DNG DCH V CHM SểC HC TP CHO
CON CI CA CC GIA èNH H NI HIN NAY

PHN I
PHN M U
1. Lý do la chn ti.
Theo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/1999 cho thấy, tính
đến năm 1999, trong 16.661.366 hộ thì có 55% số hộ có từ 1- 4 ng-ời. Gia
đình chủ yếu sống hai thế hệ gồm cha mẹ và con cái chiếm từ 70-75% tổng
số gia đình. Điều đó cũng có nghĩa trong xã hội hiện đại, đông con nhiều
cháu không còn là biểu t-ợng của gia đình hạnh phúc. Quy mô gia đình lớn
hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân nh-, mức sinh của các cặp vợ
chồng và mô hình chung sống giữa các thế hệ. Bên cạnh đó, trong những
năm gần đây, nhờ thực hiện thành công ch-ơng trình dân số- kế hoạch hoá
gia đình, tốc độ tăng dân số giảm nhanh đã tác động mạnh và trực tiếp đến
quy mô gia đình, đặc biệt ở các thành phố lớn quy mô gia đình đang có xu
h-ớng giảm đi nhanh chóng. Theo một kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy

nhất định. Đó là hệ quả của quá trình phân công lao động xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã diễn tiến tại Việt Nam. Các dịch vụ
gia đình kể cả về số lượng và chất lượng đã góp phần giải quyết nhiều vấn
đề nan giải khi năng lực của gia đình không thể tự đáp ứng được tất cả các
nhu cầu cần thiết cho đời sống sinh hoạt của mình, khi mà các thành viên
gia đình cần dành nhiều thời gian, cường độ lao động vào các hoạt động
khác như sản xuất kinh doanh, học tập, công tác, tìm kiếm thêm thu nhập
cho mình
Vấn đề đặt ra là, các gia đình đã tiếp cận các loại dịch vụ nào và chất
lượng của các dịch vụ đó ra sao? để đáp ứng yêu cầu phát triển của gia đình
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước?
Thực hiện đề tài: "Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con
cái của các gia đình Hà Nội hiện nay” là việc cần thiết nhằm giải đáp các
vấn đề trên. Những nhận xét trên cơ sở đánh giá thực trạng nhu cầu dịch vụ
chăm sóc học tập cho con cái của gia đình Hà Nội và các kiến nghị rút ra từ
kết quả nghiên cứu chắc chắn sẽ có ích cho việc dự báo nhu cầu sử dụng
dịch vụ này của các gia đình Hà Nội trong thời gian tới.
2. Sơ lược tình hình nghiên cứu.
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước.

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
3
Gia đình luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu. Trong những năm gần đây, nhiều khía cạnh của vấn đề gia đình đã
được tiếp cận và khai thác. Một trong những vấn đề đó là nhu cầu sử dụng
của các hộ gia đình. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về việc tiếp cận các
dịch vụ cho gia đình, các loại hình dịch vụ cho phụ nữ, trẻ em và người già

phú và đa dạng.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.
Ở Việt Nam nghiên cứu nhu cầu về các loại dịch vụ, dịch vụ gia đình
nói chung và dịch vụ giáo dục nói riêng là một vấn đề còn khá mới mẻ, các
nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều.
Nhu cầu dịch vụ mới chỉ được nhấn mạnh chủ yếu trong lĩnh vực dân
số/KHHGĐ, trong đó phần nhiều đề cập đến chất lượng dịch vụ như “Chất
lượng dịch vụ và KHHGĐ và sử dụng các biện pháp tránh thai” (Hà Nội,
2000). Nhìn chung, các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu việc chăm
sóc sức khoẻ, một trong những nội dung của dịch vụ gia đình như “Vai trò
của gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị niên” (Tạp chí khoa học
Phụ nữ, số 2/2002), “Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng” (Trịnh Hoà Bình, Hà Nội, 1998), “Chăm sóc và khai thác những mặt
tích cực của người già trong giáo dục gia đình” (Gia đình Việt Nam, các
trách nhiệm, các nguồn lực trong đổi mới đất nước, 1995),“Một số dịch vụ
với việc giảm nhẹ lao động trong công việc gia đình của phụ nữ nông thôn
đồng bằng Bắc Bộ” (Vũ Thị Thảo, 1988). Nhìn chung, các nghiên cứu chưa
phản ánh đầy đủ và toàn diện về nhu cầu của gia đình, chưa có nghiên cứu
sâu nào về nhu cầu về dịch vụ gia đình nói chung và nhu cầu sử dụng dịch
vụ chăm sóc học tập nói riêng của gia đình Hà Nội trong thời kỳ đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
- Mô tả và phân tích thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập
của gia đình Hà Nộ hiện nay;
- Chỉ ra những nguyên nhân cơ bản làm cản trở hay khuyến khích nhu cầu
sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập của gia đình Hà Nộ hiện nay;

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
thành phố, nơi có nhiều đặc điểm đáng chú ý về địa lý, chính trị, kinh tế, xã

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
6
hội); Phường Giáp Bát, (đặc trưng đại diện là phường nằm cửa ngõ phía
Nam của TP, nơi có nhiều biến động về dân cư, nhà ở và mức sống do quá
trình đô thị hoá); Thị trấn Đông Anh, (đặc trưng cho thị trấn ven đô đang
trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ)
4.4. Mẫu nghiên cứu.
Về cơ bản, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân cụm
địa lý - kinh tế - hành chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
tại cấp cơ sở.
- Khảo sát qua bảng hỏi: Gồm 200 phiếu hỏi hộ gia đình, cơ cấu như sau:
 60 phiếu hỏi đối với hộ gia đình làm việc trong cơ quan nhà nước;
 45 phiếu hỏi gia đình làm việc cho các cơ sở tư nhân;
 45 phiếu hỏi gia đình làm việc tự do và làm nông nghiệp (ven thị);
 50 phiếu hỏi gia đình cung cấp dịch vụ gia đình.
- Khảo sát qua phỏng vấn sâu: Gồm 20 người đại diện, cơ cấu như sau:
 5 người trong hộ gia đình làm việc cho cơ quan nhà nước;
 9 người trong hộ gia đình làm việc cho các cơ sở tư nhân;
 03 hộ Chủ hộ làm việc tự do;
 03 người cung cấp dịch vụ cho các gia đình;
 03 người quản lý các cơ sở dung cấp dịch vụ.
5. Phương pháp thu thập thông tin.
5.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu.
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, chúng tôi xác định
chọn 03 hướng tiếp cận chính sau đây:

dụng một phần số liệu rất nhỏ (một địa bàn trong tổng số bảy địa bàn được
điều tra), để viết báo cáo. Do đó nghiên cứu này tác sử dụng hoàn toàn số
liệu thứ cấp khi phân tích.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đề tài lớn, đề tài đã sử dụng một
số phương pháp sau:
a. Phương pháp phân tích tài liệu
Thu thập và phân tích các tài liệu bao gồm:
- Niên giám thống kê.
- Các nghiên cứu liên quan đến nhu cầu dịch vụ gia đình của các hộ
gia đình nói chung và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái
của các gia đình Hà Nội nói riêng.

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
8
- Báo cáo hàng năm của xã và huyện về điều kiện tự nhiên - kinh tế,
văn hoá xã hội.
- Mục đích của phương pháp này là: Xác định được tổng quan của
vấn đề nghiên cứu.
b. Phỏng vấn sâu: Chủ yếu tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh các nhu cầu dịch
vụ gia đình, các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở đối với thực hiện
đáp ứng nhu cầu dịch vụ gia đình.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng ngoài việc sử dụng phiếu
trưng cầu ý kiến nhằm đo lường thực trạng tiếp cận nhu cầu sử dụng dịch
vụ chăm sóc học tập của các gia đình Hà Nội hiện nay, chúng tôi còn sử
dụng các số liệu thống kê, các báo cáo của địa phương, kết quả nghiên cứu
của các đề tài liên quan.

- Năng lực đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái của
gia đình Hà Nội hiện nay.
Biến số can thiệp
- Chủ trương đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
trước yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Lun vn thc s Xó hi hc Giỏo viờn hng dn. PGS.TS. Phm Vn Quyt
10
6.3. Khung lý thuyt.

S KHUNG Lí THUYT

học vấn,
- Nghề nghiệp
- Tình trạng hôn nhân
- Tôn giáo, dân tộc
Gia đình
- Loại hình, qui mô gia
đình
- Mô hình gia đình theo
các thế hệ
- Thu nhập gia đình

Năng lực đáp ứng
DVchăm sóc học tập
- Loại hình dịch vụ
- Chất l-ợng dịch vụ Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập
cho con cái của gia đình hà nội hiện nay

IU KIN KINH T X HI
Loi hỡnh dch
v
Trỡnh chuyờn
mụn
Thỏi phc v
Cht lng dch

thấy rõ hạt nhân hợp lý của các quan điểm đối lập và tìm cách bổ sung hạt
nhân hợp lý đó vào cơ sở lý luận và phương pháp luận đã lựa chọn để hoàn
thiện. Do vậy, khi nghiên cứu dịch vụ gia đình trong thời kỳ đổi mới ở nước
ta, chúng tôi xác định cần cần phải có cách nhìn tổng quan, tiếp cận vấn đề
dựa trên một số cơ sở lý luận sau đây. Lun vn thc s Xó hi hc Giỏo viờn hng dn. PGS.TS. Phm Vn Quyt
12
2. Tng hp cỏc lý thuyt trong i v phỏt trin t duy lý lun.
Nhng ngi theo ch ngha hỡnh thc thỡ cho rng th trng l lc
lng chớnh quyt nh c mc sn xut v tiờu dựng trong xó hi.
trỡnh phỏt trin, ú l th trng t bn ch ngha, cũn kộm phỏt trin thỡ
ú l s hp lý trong trao i, phõn phi m c s ca tớnh hp lý ny l
li ớch cỏ nhõn.
Nhng xu th tt yu u tớnh toỏn hp lý v hng ti chun phng
Tõy, hp lý t bn ch ngha. Lý thuyt la chn hp lý (ca J.S. Coleman
chng hn) ra nguyờn tc chi phớ - li ớch lm rừ s tớnh toỏn hp lý
trong trao i, phõn phi. Lý tng l li ớch ti a. Trong thc t, tng
li ớch ngi ta cú th gi nguyờn chi phớ, c gng tng hiu qu, cú th
gim chi phớ tng hiu qu, cng cú th tng chi phớ nhng phi tng hiu
qu gp bi ln thỡ mi t li ớch ln hn.
Nhng ngi theo ch ngha bn th
2
thỡ cho rng th trng v c
bit l th trng t bn ch ngha khụng phi l loi hỡnh trao i duy nht.
Trong thc t, nht l cỏc xó hi ngoi phng Tõy cú nhiu loi hỡnh trao

tình trạng vô nguyên tắc, chiết trung trong lý luận thì có thể lựa chọn
nguyên tắc chọn một trong hai làm cột trụ, bổ sung thêm yếu tố hợp lý của
mặt đối lập. Đó là tiếp cận toàn thể biện chứng có phân biệt cái quan trọng
và cái không quan trọng.
Trên cơ sở cách tiếp cận tổng hợp biện chứng này chúng ta có thể tóm
tắt lịch sử dịch vụ kinh tế và xã hội Việt Nam cho đến thời kỳ đổi mới ngày
nay thành 2 thời kỳ (2 khuôn mẫu) quan trọng, đó là:
1. Khuôn mẫu truyền thống: có đặc điểm chủ yếu là coi trọng dịch vụ phi thị
trường;
2. Khuôn mẫu đổi mới: có đặc trưng chủ yếu là coi trọng dịch vụ thị trường.
Trong khuôn mẫu truyền thống có sự khác biệt giữa Nhà nước và xã
hội dân sự khi đối diện và giải quyết song đề (nan đề) thị trường - phi thị
trường. Nhà nước thực hành chủ trương trọng nông - ức thương, nghĩa là coi
trọng cống nạp hiện vật trực tiếp, không mua - bán. Trong khi đó xã hội dân
sự bị phân hoá thành xã hội nông dân trao đổi hiện vật, phi thị trường và xã
hội phi nông nghiệp, hoạt động công - thương, theo cơ chế thị trường. Hộ
gia đình nông dân, thậm chí người nông dân cũng bị phân đôi, khi mà họ
làm thêm nghề phụ (tiểu thủ công nghiệp) hoặc buôn bán, dịch vụ nông
nhàn. Nghĩa là, nông nghiệp vẫn phi thị trường, nhưng phi nông nghiệp thì
tham gia thị trường.

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
14
Khuôn mẫu bao cấp do Nhà nước ta thực hiện trong mấy chục năm
trước thời kỳ đổi mới có đặc điểm giống khuôn mẫu truyền thống ở chỗ coi
trọng dịch vụ phi thị trường; nhưng có đặc điểm khác hẳn ở chỗ nhà nước
ngăn cấm thị trường tự do, thủ tiêu thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ theo

15
xuất và trao đổi) đều có hạt nhân hợp lý; song nếu tuyệt đối hoá, sẽ sai lầm.
Bởi lẽ trong toàn thể biện chứng, mỗi nhân tố sản xuất, trao đổi, tiêu dùng
đều có tính độc lập tương đối, nhưng mặt khác, lại bị phụ thuộc vào các
nhân tố còn lại. Dịch vụ thuộc lĩnh vực trao đổi, tuy có tính độc lập tương
đối, có tác động tới sản xuất và tiêu dùng; nhưng mặt khác cũng bị sản xuất
và tiêu dùng tác đông trở lại.
Từ điển Xã hội học
3
cho biết 3 ý nghĩa chính của cụm từ “Nhu cầu".
Thứ nhất: Đó là những đòi hỏi cơ bản cần thiết cho việc duy trì sự
sống con người. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Maslow (1954) cho
rằng có nhiều thang bậc nhu cầu khác nhau, kể từ nhu cầu sinh lý như ăn
uống, an toàn, chỗ ở cho đến nhu cầu tâm lý như sở hữu, tán thành, tình yêu
và cao nhất là nhu cầu tự thực hiện. Chỉ có nhu cầu sinh lý mới thực sự là
nhu cầu sinh tồn và theo Maslow thì cần phải thoả mãn các nhu cầu sinh lý
trước khi muốn thoả mãn nhu cầu cao cấp hơn. Một số nhà Xã hội học cho
rằng sự tồn tại các nhu cầu nhân sinh chứng tỏ những điều kiện chức năng
tiên quyết của sự sống còn là phổ biến đối với mọi xã hội. Các quan điểm
này đều dựa trên mô hình hệ thống (xem lý thuyết hệ thống) về con người
và xã hội.
Thứ hai: Những ham muốn, ý định cá nhân (tức là nhu cầu cá nhân),
thu nhận được qua quan hệ và hoạt động xã hội, chẳng hạn như động cơ
thành tích.
Thứ ba: Có sự phân biệt giữa nhu cầu cơ bản và nhu cầu cảm nhận.
Trong kinh tế học, từ “ham muốn" được sử dụng theo cả 2 nghĩa là nhu cầu
sinh lý và nhu cầu cảm nhận về mặt xã hội và cả theo nghĩa hàng hoá kích
thích những nhu cầu đó.”

3

đó, để tạo ra mối quan hệ hài hoà giữa thời gian dành cho công việc và thời
gian dành để giáo dục con cái, cha mẹ phải nhờ đến sự giúp đỡ của các cơ
sở dịch vụ. Đó là lý do giải thích vì sao hiện nay nhu cầu sử dụng dịch vụ
chăm sóc học tập cho con cái của các gia đình đã tăng cao.
Như vậy chức năng giáo dục của gia đình trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài này đã được mở rộng hơn, giáo dục không còn tồn tại trong phạm
vi gia đình mà cả phạm vi ngoài nhà trường, các tổ chức cá nhân và xã hội.

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
17
Thứ hai: Hiện nay, người dân Thủ đô rất có ý thức trong việc thực
hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách dân số - KHHGĐ.
Số con của các gia đình càng ít, quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, gia
đình hạt nhân đang dần chiếm uư thế, đông con nhiều cháu không còn là sự
lựa chọn tối ưu nơi mỗi gia đình. Do đó, cha mẹ lại càng có điều kiện để
quan tâm đến con cái, nhiều gia đình cha mẹ đã dành tất cả tình cảm tinh
thần, vật chất mong muốn cho con cái trưởng thành. Thêm vào đó, với sự
phát triển của khoa học như hiện nay đầu tư cho con cái học hành, nâng cao
tri thức đáp ứng được nhu cầu công việc trong tình hình mới là việc quan
trọng và cần thiết. Nên cha mẹ đã không từ chối một nhu cầu nào của con
cái trong việc đầu tư cho con cái học tập, đó cũng là lý do khiến nhu cầu sử
dụng dịch vụ của các gia đình hiện nay tăng cao.
2.2. Lý thuyết nhu cầu của Maslow.
Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân
cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu
được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Thuyết nhu cầu của A. Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc

Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và
tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt
xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ
được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành
người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng
công”. Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều
người tôn vọng và kính nể.
Nhu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong
cách phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con
người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức
tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó.
Vận dụng lý thuyết “Nhu cầu” của Maslow vào đề tài này cho thấy,
tuỳ nhu cầu các gia đình sử dụng các dịch vụ khác nhau. Gia đình càng có
điều kiện, có niềm tin và kỳ vọng vào con cái càng cao, điều đó tỷ lệ thuận
với nhu cầu sử dụng dịch vụ giáo dục. Có gia đình mong muốn sử dụng dịch
vụ chăm sóc học tập cho con cái vì mục tiêu giảm thiểu thời gian, nhưng
cũng có những gia đình sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập cho con cái để

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết
19
nâng cao trình độ, giúp con cái thành đạt để mở mày mở mặt với bạn bè và
người thân trong gia đình. Đó là đặc thù trong tháp nhu cầu của Maslow.
2.3. Lý thuyết xung đột.
Xung đột vai trò thường xảy ra dưới ba hình thức
Xung đột vai trò giữa các thành viên trong một thế hệ vai trò khi các
kỳ vong mong đợi ở nhau, mâu thuẫn với nhau.
Xung đột vai trò trong bản thân người giữ vai trò khi những mong

mong muốn luôn cao hơn nhiều nhu cầu được đáp ứng trong thực tế. Do đó,
cá nhân phải lựa chọn cho mình một một số nhu cầu phù hợp nhất. Ví dụ:
Thu nhập của một hộ gia đình A được 10 triệu đồng một tháng, 10 triệu này
không phải gia đình A có thể chi trả đủ mọi thứ trong cuộc sống, họ phải lựa
chọn xem cần mua cái gì trước, cần mua cái gì sau. Cái gì nên mua và cái gì
không nên mua, họ phải biết cân nhắc và lựa chọn.
Khi vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý và đề tài này có giải thích
hiện nay gia đình có nhu cầu trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc học tập
cho con cái. Nhưng thực tế lại không thể sử dụng tất cả các dịch vụ đó, xuất
phát từ một số lý do (1) do điều kiện kinh tế gia đình không cho phép, (2)
không phải gia đình nào cũng có như cầu về tất cả các dịch vụ mà chỉ cần sử
dụng một số dịch vụ phù hợp và (3) không phải dịch vụ nào cũng đã đáp
ứng được nhu cầu sử dụng của các hộ gia đình. Do đó các gia đình phải cân
nhắc khả năng chi trả, chất lượng dịch vụ để lựa chọn một số loại hình chăm
sóc học tập cho phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới và chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển dịch vụ kinh tế - xã hội nói
riêng.
3.1. Các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về về đổi mới
và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển dịch vụ kinh
tế - xã hội nói riêng.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản
Việt Nam (2001) là công trình tổng kết 15 năm Đổi mới (1986-2000) đất
nước ta dưới sự lãnh đạo theo tư duy mới của Đảng và sự quản lý theo kiểu
mới của Nhà nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản
Việt Nam (12/1986) chủ trương chính thức đổi mới toàn diện, trước hết phải

Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. PGS.TS. Phạm Văn Quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status