Lời nói đầu
ự báo là một công cụ đắc lực của công tác lập kế hoạch, chiến
lược phát triển, chiến lược kinh doanh, quy hoặch phát triển
dịch vụ Viễn thông… Để có được chiến lược phát triển đúng
đắn, kế hoạch phát triển khả thi và biện pháp thực hiện hợp lý
nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực thoả mãn nhu cầu phát
triển kinh tế – xã hội theo các mục tiêu thì rất cần công tác dự báo.
D
Mà ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự
bùng nổ của thông tin các yếu tố bất ngờ xẩy ra liên tiếp đối với nền kinh tế
của mỗi quốc gia nên việc dự báo được các yếu tố đó là rất cần thiết đối với
các nhà hoạch định chính sách của một quốc gia cũng như của một ngành.
Ngành Bưu điện cũng như các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, để
tồn tại và phát triển một cách bền vững thì cũng cần phải có đường lối chiến
lược đúng đắn, mà để xây dựng được chiến lược đúng đắn thì công tác dự báo
giữ một vai trò quan trọng.
Đặc biệt đối với tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt nam đã thực
hiện đường lối đổi mới và đang phát triển theo hướng trở thành một tập đoàn
kinh tế mạnh và không còn là công ty độc quyền kinh doanh trên lĩnh vực
viễn thông, cho nên trong tương lai có nhiều các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài sẽ tham gia vào kinh doanh các loại hình dịch vụ này, nên công
tác dự báo là rất cần thiết. Nhất là đối với các dịch vụ Viễn thông mà trong đó,
dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ Điện thoại cố định giữ một vai trò quan
trọng.
Chính vì những lý do trên mà việc nghiên cứu đề tài “Dự báo nhu cầu
sử dụng dịch vụ Điện thoại cố định đến năm 2010 ” là vấn đề rất cần phải quan
tâm.
Trong khuân khổ đề tài này, chủ yếu nghiên cứu dự báo nhu cầu sử
dụng dịch vụ Điện thoại cố định trên phạm vi toàn quốc và những số liệu
phục vụ cho đề tài này được thu thập từ nguồn số liệu của VNPT.
Để giải quyết những vấn đề trên, nội dung của đề tài được chia làm 3
- Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh từ nay đến năm 2005 và đến năm
2010 thì điều kiện về cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, hiện đại, mà
Viễn thông là một trong những ngành đóng vai trò nền móng cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó đòi hỏi ngành Viễn
thông phải phát triển toàn diện vào những năm đó.
- Sự ra đời hàng loạt của khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao và
trong giai đoạn 2005-2010 nhiều chương trình kinh tế trọng điểm của
Đảng, nhà nước về dầu khí, năng lượng, giao thông… sẽ thực sự phát
huy tác dụng to lớncủa nó và tạo nên một bước ngoặt về kinh tế đòi hỏi
nhu cầu thông tin cao và sự phục vụ của những dịch vụ Viễn thông
mới.
- Thị trường chững khoán hình thành và việc phát hành trái phiếu quốc tế
ở Việt nam trong một vài naưm tới đòi hỏi phải cung cấp các dịch vụ
Viễn thông cao cấp.
3. Thu nhập của dân cư
Kinh tế Việt Nam trong thời gian qua được coi là có nhiều điều kiện
thuận lợi cho phát triển viễn thông. Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng
GDP hàng năm tương đối cao và ổn định, đạt khoảng 7% năm. Mặc dù năm
1997, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á diễn ra ảnh hưởng xấu đến hầu hết
các nước trong khu vực nhưng Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng
5,5%. Năm 2001, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam đạt 6,84%, đứng
thứ hai thế giới.
Trước năm 1990, tích luỹ nội bộ của nền kinh tế ở mức không đáng kể,
nhưng đến năm 2000 đã đạt 27% GDP. Cơ cấu kinh tế có những bước chuyển
dịch tích cực. Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%,
công nghiệp từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ tăng từ 36,8% lên 39,1%.
Thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng ổn định trong các năm
qua, hiện nay GDP/ người của Việt Nam khoảng gần 400 USD/ người, gấp
đôi so với năm 1991. Tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức thấp.
Tất cả những yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
giải quyết ba vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho
ai? Để giải quyết các vấn đề này cần phải nghiên cứu đầy đủ các đặc điểm
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành, của doanh
nghiệp. Viễn thông là một ngành sản xuất dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng của
nền kinh tế quốc dân, Viễn thông cũng có những đặc điểm đặc thù riêng
của mình. Các đặc điểm đó bao gồm:
a) Tính không vật chất của sản phẩm Viễn thông:
Sản phẩm Viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới,
không phải là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền
đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm Viễn thông thể hiện
dưới dạng dịch vụ như dịch vụ điện thoại cố dịnh, chương trình phát thanh
truyền hình, truyền số liệu… Hiệu quả có ích này rất cần thiết cho tất cả
các mặt sinh hoạt và hoạt động của con người kể cả trong lĩnh vực sản xuất
ra vật phẩm tiêu dùng trong lĩnh vực tiêu dùng xã hội và cá nhân.
b) Quá trình sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình tiêu thụ sản
phẩm.
Quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ Viễn thông nó khác với quá
trình sản xuất ra các sản phẩm vật chất khác phải trải qua bốn khâu: sản
xuất - lưu thông - phân phối - tiêu dùng mà sản phẩm Viễn thông chỉ trải
qua hai khâu trùng nhau là sản xuất và tiêu dùng. Đặc điểm này thể hiện rõ
nhất trong điện thoại, nơi mà quá trình truyền đưa tín hiệu điện thoại là
quá trình sản xuất được thực hiện với sự tham gia của người nói, tức là quá
trình sản xuất xảy ra đồng thời với quá trình tiêu dùng.
c) Quá trình sản xuất Bưu chính Viễn thông mang tính dây truyền.
Để truyền đưa tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận
thường có từ hai hay nhiều cơ sở Viễn thông tham gia, mỗi cơ sở chỉ thực
hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh
đó. Để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh mỗi cơ sở Viễn thông thường chỉ làm
nhiệm vụ hoặc là “giai đoạn đi” hoặc là “giai đoạn đến”, “giai đoạn quá
giang”. Vì vậy trong Bưu điện tồn tại hai khái niệm về sản phẩm là : sản
nhiều cho việc tổ chức quá trình sản xuất, tổ chức lao động trong các doanh
nghiệp Viễn thông. Yêu cầu phải có khả năng cho qua đảm bảo lưu thoát
hết khối lượng nghiệp vụ ở giờ có tải trọng lớn nhất. Do vậy trong ngành
Bưu điện nói chung và các doanh nghiệp Viễn thông nói riêng có hệ số sử
dụng trang thiết bị và hệ số sử dụng lao động bình quân thường thấp hơn so
với các ngành khác. Ngoài ra nhu cầu truyền đưa tin tức có thể xuất hiện
bất kỳ khi nào để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng ngành Bưu điện
phải hoạt động 24/24 giờ trong ngày đêm. Sẽ tồn tại những khoảng thời
gian mà phương tiện thông tin và lao động được bố trí để thường trực.
2. Các đặc trưng kinh tế của sản phẩm Viễn thông.
Sản phẩm Viễn thông có những đặc trưng sau:
- Đặc trưng 1: Sản phẩm Viễn thông có vai trò thiết yếu đối với đời sống
xã hội.
- Đặc trưng 2: Các loại dịch vụ Viễn thông có khả năng thay thế lẫn nhau
trong giới hạn nhất định. Thay vì sử dụng điện thoại di động, người ta thường
mua card phone (điện thoại dùng thẻ) để sử dụng tại các điểm điện thoại
công cộng với chi phí thấp hơn nhưng khả năng tiện lợi lại kém hơn.
- Đặc trưng 3: Do quá trình tiêu dùng sản phẩm Viễn thông không tách rời
quá trình sản xuất nên sản phẩm Viễn thông không thể tồn tại được ngoài quá
trình sản xuất để đi vào lưu thông như các sản phẩm khác, do vậy sản phẩm
hay kết quả sản xuất cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được
ở trong kho, không dự trữ được...
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ BÁO
Khái niệm dự báo:
Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất
về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của
đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu
nhất định đã đề ra trong tương lai.
Tiên đoán là hình thức phản ánh vượt trước về thời gian hiện thực
khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con người dựa trên cơ sở
kinh tế xã hội cao nhất.
Vai trò của dự báo:
Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý
đối với bất kỳ ngành, lĩnh vực nào trong nền kinh tế quốc dân . Cũng như
vậy trong quản lý kinh tế vĩ mô đối với lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, vai
trò quan trọng của công tác dự báo trước hết được thể hiện đối với công tác
kế hoạch hoá, điều đó được thể hiện ở các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng phát triển bưu chính viễn thông
- Dự báo các xu hướng phát triển bưu chính viễn thông đã và đang hình
thành và dự kiến những xu hướng phát triển tương lai.
- Xác định chiến lược tổng thể phát triển bưu chính viễn thông trong thời
kỳ dài hạn.
- Xây dựng các kế hoạch phát triển bưu chính viễn thông 5 năm và hàng
năm.
- Soạn thảo các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong
chiến lược dài hạn về kế hoạch 5 năm.
3. Phân loại dự báo
Người ta có thể phân loại dự báo nhu cầu theo các tiêu chí khác nhau:
theo mục tiêu dự báo, thời gian dự báo, theo cấp độ …
3.1. Phân loại dự báo theo mục tiêu
Tuỳ theo mục tiêu dự báo, dự báo nhu cầu có thể phục vụ cho mục tiêu
nghiên cứu các chính sách quản lý hoặc chiến lược khác hoặc nhằm thiết kế
để tính toán cụ thể số lượng thiết bị.
Đối với mục tiêu nghiên cứu các chính sách quản lý hoặc chiến lược
khác, dự báo nhu cầu và chi phí tương lai để có thể đưa ra một chính sách
toàn diện. Bởi vậy, thường áp dụng phương pháp dự báo vĩ mô cho quốc gia
hoặc cho mỗi vùng.
Đối với mục tiêu là để tính toán cụ thể kế hoặch thiết bị cho việc lắp đặt
mới hoặc lắp đặt thêm các thiết bị chuyển mạch, thiết bị cáp nội hạt ở mỗi
một vùng tổng đài, dự báo nhu cầu được lựa chọn dựa vào nghiên cứu chi tiết
phải được điều chỉnh.
- Khoảng cách giữa các đường cong tăng trưởng của 2 giai đoạn kế tiếp
nhau mà không trùng nhau cũng phải được điều chỉnh.
Hình 1.1 cho thấy một phương pháp điều chỉnh phần cong nối giữa hai
đường cong được tạo ra bởi hai phương pháp khác nhau, những giá trị
cuối của đường cong ngắn hạn sẽ là những giá trị bắt đầu của mô hình
tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn.
Trung và dài hạn
Dự báo lưu
lượng
Ngắn hạn
Thời gian dự báo
Hình 1.1 Điều chỉnh dự báo.
3.3. Phân loại theo cấp độ vùng dự báo
Phân loại theo cấp độ vùng dự báo được chia thành hai loại : Dự báo vĩ
mô và Dự báo vi mô. Dự báo cho những vùng lớn như nhu cầu điện thoại của
một quốc gia thì gọi là dự báo vĩ mô, còn dự báo cho một vùng địa phương
chẳng hạn như nhu cầu điện thoại của một vùng tổng đài được gọi là dự báo
vi mô
a) Dự báo vĩ mô
Đối với dự báo vĩ mô phải thu thập rất nhiều các thống kê xã hội. Do
đó, cần thực hiện những nghiên cứu tỉ mỉ.
b) Dự báo vĩ mô
Dự báo vi mô được phân loại thành nghiên cứu tổng quan đối với dự
báo nhu cầu của tất cả các vùng tổng đài và nghiên cứu theo nhóm đối với dự
báo phân bổ vùng cáp thuê bao.
Dự báo vi mô cũng được áp dụng cho việc thiết kế lắp đặt các thiết bị
mới hoặc các thiết bị lắp đặt thêm như cáp và kế hoạch phân bổ tổng đài.
c) Điều chỉnh dự báo
Giữa tổng giá trị dự báo vi mô và kết quả dự báo vĩ mô thông thường
- Cơ cấu thị trường điện thoại
- Nguồn nhu cầu
- Mật độ điện thoại
- Các đặc điểm của vùng nghiên cứu
- So sánh với các vùng khác và các quốc gia khác
Bước 4: Nghiên cứu các kỹ thuật dự báo và tính toán giá trị dự báo
Các phương pháp dự báo :
- Phương pháp chuỗi thời gian
- Phương pháp mô hình hoá
- Phương pháp hồi qui tương quan
- Các phương phương pháp khác
Thông qua các số liệu thu thập được để xác định phương pháp dự báo cho
phù hợp. Tuy nhiên, để cho giá trị dự báo đảm báo độ chính xác cao hơn,
điều quan trọng là nên chọn phương pháp khả thi nhất và chọn các giá trị
tối ưu.
Bước 5: Xác định các giá trị dự báo
Từ việc phân tích ở bước 3 và dựa vào các kết quả dự báo sau khi sử
dụng các kỹ thuật dự báo, các giá trị tối ưu sẽ được quyết định.
5. Một số phương pháp dự báo nhu cầu thường dùng.
Các phương pháp thường sử dụng khi dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ
bao gồm:
- Phương pháp ngoại suy (chuỗi thời gian )
- Phương pháp hồi quy tương quan
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu thị trường
- Phương pháp khảo sát quốc tế
1. Phương pháp ngoại suy (chuỗi thời gian)
5.1.1 Khái niệm:
Ngoại suy là một trong các phương pháp dự báo nhu cầu thường dùng
trong kinh tế. Đặc trưng của phương pháp này là sử dụng các công cụ thống
- Dự báo ngắn hạn.
- Trường hợp nhu cầu ít thay đổi.
Y= a + bt (b>0)
Hình1.2 : Phương trình tuyến tính.
* Nếu sử dụng số liệu của hai năm quá khứ T
1
, T
2
thì chúng có thể được tính
như sau:
Với:
T
1
: mật độ thuê bao quá khứ tại năm t
1
T
2
: mật độ thuê bao quá khứ tại năm t
2
Tuy nhiên, để tăng độ chính xác của kết qủ dự báo có thể sử
dụng phương pháp bình phương bé nhất. Khi đó a, b được tính như
sau:
Hệ số tương quan được xác định bằng công thức:
* Phương trình bậc 2:
Obj111
Obj112
Obj113
Obj114
Obj115
( a>0)
Hình 1.5 : Hàm mũ điều chỉnh.
Phương trình này áp dụng cho dự báo ngắn hạn ít thay đổi
Trong đó:
x
t
: biến thời gian
y
t
: mật độ thuê bao (số thuê bao trên đầu người hoặc trên
từng hộ gia đình… và có thể phân theo từng loại thuê
bao khác nhau ) tại năm t.
a, b là các tham số .
Nếu sử dụng số liệu của hai năm quá khứ T
1
, T
2
thì chúng có thể được
tính như sau:
Obj118
Với:
T
1
: mật độ thuê bao quá khứ tại năm t
1
T
2
: mật độ thuê bao quá khứ tại năm t
2
Tuy nhiên, để tăng độ chính xác của kết quả dự báo có thể sử dụng
Dân số, hộ gia đình.
Số cơ quan.
Tỷ lệ tăng thu nhập.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Các kế hoạch phát triển đô thị.
5.2.2 Lược đồ phương pháp:
Một cách tổng quát, từ số liệu điều tra được về nhu cầu dịch vụ điện
thoại di động cần dự báo, ta xác định các biến kinh tế chủ yếu gồm biến phụ
thuộc y và các biến độc lập .
Bằng phương pháp thực nghiệm, ta xác định được hàm hồi quy tương
qua biểu thị quan hệ giữa y với :
Trong đó :
Obj124
Obj125
Obj126
y : là biến phụ thuộc (nhu cầu thuê bao, mật độ thuê
bao…).
β
1
, β
2
, …β
n
: là các hệ số thể hiện mối quan hệ về lượng
giữa Y
t
và X
t
x
Obj129
Obj130
Obj131
Hệ số a, b được xác định bằng phương pháp bình phương bé nhất như
sau:
b- Mô hình tuyến tính bội.
Miêu tả bằng đường tuyến tính các biến mục tiêu (như nhu cầu) với
các biến giải thích khác
Mô hình hồi quy tuyến tính được biểu diễn bằng công thức sau:
Y
t
= a
t
+ b
1
x
1
t
+ b
2
x
2
t
+ … + b
n
x
n
t
+
kinh tế– xã hội) để tính toán các tham số a
t
, b
1
, b
2
,…, b
n
của mô hình.
Một số mô hình kinh tế lượng thường được sử dụng: Logarit kép, bán
Logarit, Logarit đảo.
- Logarit kép:
LnY
t
= + lnX
t
+
t
Trong đó :
Y
t
: Mật độ thuê bao năm t.
X
t
: biến độc lập.
t
: độ sai lệch.
Obj132
Obj133
- Logarit đảo :
Dạng mô hình kinh tế lượng với một biến độc lập.
Y
t
= + X
t
+
t
Trong đó :
Y
t
: Mật độ thuê bao năm t.
X
t
: biến độc lập.
t
: độ sai lệch.
, : là các tham số được xác định theo phương pháp bình
phương bé nhất dựa trên dữ liệu quá khứ () thể hiện các
giá trị của dự báo , .
1, 2, …, r : là các năm trong quá khứ.
Trong đó:
Obj134
Obj135
Lựa chọn công thức hồi quy :
Công thức hồi quy thích hợp được lựa chọn theo mối quan hệ của
nguyên nhân và ảnh hưởng, giữa nhu cầu và biến số giải thích. Quan trọng là
mối quan hệ chung giữa nhu cầu và các hệ số giải thích sẽ được lưu giữ trong
tương lai.