ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LOAN
ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ
NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công, Thị Xã Sông Công,
Tỉnh Thái Nguyên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội - 2013
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 18
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 19
6. Câu hỏi nghiên cứu 20
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 20
8. Phương pháp nghiên cứu 22
9. Cấu trúc của luận văn 24
NỘI DUNG 25
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
1.1. Các khái niệm 25
1.1.1. Đời sống 25
1.1.2. Lao động 26
1.1.3. Việc làm 27
1.1.4. Di cư 27
1.1.5. Lao động di cư 28
1.1.6. Nông thôn 29
1.1.7. Khu công nghiệp 30
1.2. Các lý thuyết áp dụng 31
1.2.1. Lý thuyết mạng lưới xã hội 31
1.2.2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 33
1.2.3. Lý thuyết lực “đẩy – hút” 34
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
1
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
2
BHXH
Bảo hiểm xã hội
3
BHYT
Bảo hiểm y tế
4
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
6
KCN
Khu công nghiệp
7
KCX
Biểu đồ 3.3: Tình trạng nhà bếp của lao động di cư 76
Biểu đồ 3.4: Tình trạng nhà vệ sinh của lao động di cư 77
Biểu đồ 3.5: Cách điều trị của lao động di cư khi bị đau ốm 81
Biểu đồ 3.6: Vấn đề ô nhiễm môi trường 84
Biểu đồ 3.7: Tình hình an ninh trật tự tại địa phương 87 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu khảo sát 23
Bảng 2.1: So sánh công việc hiện tại với công việc ở nông thôn trước khi di cư 62
Bảng 2.2: Cách thức sử dụng các khoản thu nhập của NTL 55
Bảng 2.3: Việc ký hợp đồng lao động theo giới tính của NTL 57
Bảng 2.4: Ý định gắn bó lâu dài với công việc hiện tại của NTL theo giới tính 66
Bảng 2.5: Lý do muốn/không muốn gắn bó với công việc hiện tại 67
Bảng 2.6: So sánh lao động thường trú với lao động di cư trong doanh nghiệp 70
Bảng 3.1: Người ở cùng nhà của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công 75
Bảng 3.2: Một số khoản chi của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công 79
Bảng 3.3: Nơi khám chữa bệnh của NTL 82
1
MỞ ĐẦU
đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản [56]. Riêng trong năm
2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX
đạt 6,47 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,28 tỷ USD; tương đương
44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện được của cả nước trong năm 2011.
Cùng với sự phát triển của hệ thống các KCN là quá trình dịch chuyển
lao động và các dòng di cư từ nông thôn tới các KCN. Lao động di cư đến các
KCN – nơi có nhiều cơ hội việc làm, chẳng hạn như thành phố Hồ Chí Minh
với tỷ suất di cư thuần (tỷ số của tổng số người nhập cư trừ đi tổng số người
di cư trên tổng số dân địa phương) là 116%, Đà Nẵng là 77,9%, Đồng Nai là
64,4% và Hà Nội là 50%. Đsặc biệt nhất là tỉnh Bình Dương với tỷ suất di cư
thuần lên tới 341,7% do có một số lượng lớn các KCN đóng ở đây [12].
Sự dịch chuyển của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động
trong các KCN và các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời, đóng góp
vào sự phát triển kinh tế gia đình của số lượng lớn các gia đình có người di cư
thể hiện ở số tiền gửi về. Bên cạnh những tác động không thể phủ nhận, thì
quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn tới các KCN tại Việt Nam
khoảng 5 năm trở lại đây bộc lộ rất nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm. Mặc
dù các khu vực này phát triển nhanh chóng, nhưng quy hoạch cho các khu
vực này lại chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành của Chính phủ, các đơn vị
chịu trách nhiệm chuẩn bị và thực thi kế hoạch đồng thời chưa có sự phối hợp
với các chủ thể của khu vực tư nhân. Kết quả là các kế hoạch được soạn thảo
thiếu đi các nỗ lực đồng bộ nhằm đảm bảo đầy đủ nhà ở an toàn cho công
nhân làm việc trong các nhà máy, không đảm bảo đủ các điều dịch vụ y tế và
không có các địa điểm cho công nhân vui chơi Do vậy, cần phải thay đổi,
hoàn thiện hơn nữa các chính sách đối với lao động di cư từ nông thôn tới các
KCN. Việc tìm hiểu đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới
3
công trình nghiên cứu khoa học, các sách, các báo cáo, các bài báo trên tạp
chí chuyên ngành như tạp chí Xã hội học đề cập đến vấn đề di cư. Nhưng đó
mới chỉ tập trung vào việc tổng quan tình hình di cư, xem xét di cư trong mối
liên hệ với các vấn đề khác, và mới chỉ tập trung vào vấn đề di cư từ nông
thôn ra thành thị, còn những đề tài lớn, nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đời
sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN thì chưa có.
Trong cuốn sách “Từ nông thôn ra thành phố - Tác động kinh tế - xã
hội của di cư ở Việt Nam”, chủ biên: Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh
Liêm – Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (2011), đã tập trung phân tích quá
trình di cư nông thôn – đô thị; tác động của di cư đối với khu vực nông thôn
thể hiện qua tác động đến người di cư và hộ gia đình ở quê hương, qua vấn đề
tiền gửi về nhà; tác động của di cư đối với khu vực thành thị qua việc phân
tích những tương đồng và khác biệt giữa người di cư và không di cư, tình
trạng sức khỏe và các hành vi liên quan, mạng lưới xã hội nông thôn – đô thị
và dòng tiền gửi, đánh giá tác động của di cư đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của thành thị. Những khoảng trống chính sách đã được đề cập đến trong
cuốn sách này, cụ thể là việc thiếu khung pháp lý trong việc bảo trợ xã hội
cho người di cư; những rào cản thể chế về bảo trợ xã hội và chính sách xã hội
cho người di cư từ vấn đệ hộ khẩu.
Sách “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu”,
Nhà xuất bản Thống kê (2005) giới thiệu kết quả của cuộc điều tra về di cư
của Việt Nam năm 2004, trong đó đề cập tới những khó khăn mà rất nhiều
người di cư gặp phải. Kết quả điều tra cho thấy 42% những người được điều
tra cho biết họ gặp khó khăn do tình trạng hộ khẩu không phải thường trú của
họ. Phần lớn người di cư trong nước được thống kê trong cuộc điều tra Di cư
ở Việt Nam năm 2004 là di cư vì lý do kinh tế, cụ thể là vì lý do việc làm và
cải thiện đời sống. Số liệu điều tra cho thấy người dân di cư thường có thu
6
ra từ nghiên cứu này đã cho thấy một bức tranh về thực trạng di cư tại khu
vực Đông Nam Á, những đặc thù cũng như tác động của tình trạng di cư ở
khu vực Đông Nam Á đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia
trong khu vực.
Báo cáo “Giới và tiền chuyển về của lao động di cư (2012) dựa trên
kết quả của nghiên cứu thuộc Chương trình chung về Bình đẳng giới, được
phối hợp thực hiện bởi Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc tại Việt Nam,
với sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Tây Ban
Nha, do Tổng cục Thống kê và Tổ chức Di cư Quốc Tế (IOM) Việt Nam thực
hiện. Báo cáo nghiên cứu dựa trên thông tin thu thập được từ 600 bảng hỏi
dành cho nam nữ lao động di cư vào thành phố, 42 cuộc phỏng vấn sâu, 12
cuộc thảo luận nhóm. Quá trình thu thập thông tin được thực hiện trong
khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2010 tại ba phường thuộc ba
quận nội thành Hà Nội. Xuất phát từ cách tiếp cận giới, nghiên cứu hướng vào
tìm hiểu khác biệt giới trong khả năng gửi tiền, khác biệt giới trong thu nhập
và quản lý nguồn tiền tiết kiệm của lao động di cư, khác biệt giới trong việc
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiền, mối quan hệ giới trong việc quản
lý và sử dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nơi đi.
Báo cáo “Các mô hình di cư và phát triển kinh tế ở Việt Nam”
(2011), thuộc Kỷ yếu Việt Nam học: Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất –
Tập 3, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà Nội, tác giả Đặng Nguyên Anh
tập trung xem xét bốn mô hình cơ bản của di chuyển lao động trong mối liên
hệ với phát triển kinh tế ở Việt Nam: di cư nông thôn – nông thôn, di cư nông
thôn – thành thị, di cư từ thành thị về nông thôn và di cư từ thành thị đến
thành thị. Theo đó, di cư là một khía cạnh then chốt của biến đổi dân số gắn
liền với kinh tế và hiện đại hóa đất nước.
8
Báo cáo “Ảnh hưởng của suy giảm kinh tế lên lao động việc làm và
đời sống người dân nông thôn”, Viện Chính sách và phát triển nông
nghiệp nông thôn đề cập tới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế đến
đời sống của người lao động, đặc biệt là lao động di cư; những thách thức
đối với lao động di cư trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Báo cáo nêu ra
vấn đề liên quan đến đời sống việc làm của lao động di cư cũng như
những rủi ro đối với họ song chưa có sự phân tích sâu sắc. Tuy nhiên, nó
giúp định hướng cho việc nghiên cứu sâu hơn về lao động di cư.
Báo cáo “Tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra
nước ngoài” (2011) do Liên minh Châu Âu, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại
giao) và Tổ chức di cư quốc tế thực hiện. Trên cơ sở xác định, thu thập,
xử lý và phân tích các số liệu di cư từ nhiều nguồn khác nhau, báo cáo đã
dựng lên bức tranh tổng quan về di cư, phân tích, đánh giá các loại hình di
cư chủ yếu của công dân Việt Nam ra nước ngoài, từ đó thúc đẩy quá
trình xây dựng, phát triển, tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính sách
pháp luật của Việt Nam về di cư. Báo cáo đưa ra một số bài học kinh
nghiệm, một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của di cư quốc tế vì
mục tiêu hội nhập và phát triển, hạn chế, giảm thiểu tác động tiêu cực,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Báo cáo “Nghiên cứu tác động phát triển của di cư quốc tế tại Việt
Nam” (2011) của Đặng Nguyên Anh và nhóm nghiên cứu Trung tâm kinh tế
Châu Á – Thái Bình Dương Hà Nội (VAPEC) – Viện Khoa học xã hội Việt
Nam dựa trên kết quả nghiên cứu đối với 1500 hộ gia đình (cả di cư và không
di cư) trên 6 tỉnh/thành phố lớn của cả nước. Về tác động của di cư quốc tế,
báo cáo đã chỉ ra các tác động tích cực của di cư quốc tế đối với hộ gia đình
cũng như những thách thức liên quan đến vấn đề di cư của người Việt Nam ra
nước ngoài. 10
quả là, họ đang gặp nhiều khó khăn trong việc hấp thụ lao động dư thừa và
tình trạng bất bình đẳng đang tăng lên.
Báo cáo kết quả “Khảo sát nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh năm 2009” (UPS-09) thuộc dự án: “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình
trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” do Chương trình
Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ đã nêu ra đặc điểm về đời sống,
việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nghèo tại vùng đô
thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; những thông tin về đời sống, lao
động, việc làm của người di cư tại các khu vực này. Theo đó, cuộc sống khắc
nghiệt; thu nhập thấp, bấp bênh; hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ
xã hội là những khó khăn đối với người di cư. Báo cáo là cơ sở để xây dựng
các chính sách quản lý, hỗ trợ đối với người lao động di cư tại đô thị nước ta
hiện nay.
Báo cáo “Thực trạng tuyển dụng và việc làm của lao động nữ di cư
tới các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam” (2009) do Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) và Viện Khoa học lao động xã hội (ILSSA) thuộc Bộ Lao
động - Thương binh - Xã hội (MOLISA) thực hiện đã phân tích quá trình
tuyển dụng và sử dụng lao động di cư nữ tại các khu công nghiệp, khu chế
xuất ở Việt Nam; những khó khăn, rủi ro khi xin việc, làm việc của lao động
di cư nữ.
Báo cáo “Người lao động di cư đến các khu công nghiệp: điều kiện
sống, sinh hoạt và tình hình sử dụng dịch vụ y tế”, nhóm tác giả Lê Thị Kim
Ánh, Phạm Thị Lan Liên, Nguyễn Tuấn Hưng dựa trên kết quả nghiên cứu
định tính với nhóm cán bộ cơ quan công lập và người di cư tại các khu công
nghiệp tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã mô tả khó khăn về
điều kiện sống, sinh hoạt và hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao
động di cư tại các địa bàn này.
Thị Minh Đức dựa trên kết quả số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương
12
binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê về di cư lao động nữ cũng như kết quả
phỏng vấn bán cấu trúc với một số lao động nữ di cư theo mùa (năm 2000 và
2004), tác giả đã có sự phân tích tâm lý của những người phụ nữ bán hàng
rong di cư về đời sống – công việc của họ. Từ đó, tác giả chỉ ra khó khăn, vất
vả trong đời sống, việc làm của những lao động di cư nữ bán hàng rong.
Báo cáo “Tóm tắt một số chỉ số phân tích theo giới tính từ số liệu của
tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009”, UNFPA, (2011), dựa
trên bộ số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, đã
tập trung vào vấn đề nữ hóa di cư. Báo cáo phân tích những khác biệt về giới
tính trong các vấn đề như tình trạng hôn nhân, học vấn, giáo dục Đồng thời,
báo cáo phân tích xu hướng nữ hóa di cư và khẳng định sự gia tăng của dòng
di cư nữ ngày càng rõ rệt hơn.
Báo cáo “Rủi ro của lao động di cư và một số kiến nghị” của tác giả
Nguyễn Huyền Lê – Viện Khoa học Lao động và Xã hội nêu bật những rủi ro
mà lao động di cư phải đối mặt hiện nay. Tác giả chỉ ra 6 nhóm nguy cơ phổ
biến là bị lạm dụng, lừa gạt; khó khăn về nhà ở; nguy cơ dễ bị tiêm nhiễm các
tệ nạn xã hội; rủi ro trong suy giảm sức khỏe; khó khăn trong tiếp cận và sử
dụng các dịch vụ xã hội cơ bản và an sinh việc làm thấp. Từ đó, tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm quản lý và hỗ trợ cho người lao động di cư.
Báo cáo “Sống con lắc, tình dục có là con lắc” dựa trên kết quả
nghiên cứu định tính về nhận thức, thái độ và đời sống tình dục của người lao
động di cư tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của nhóm tác giả: Nguyễn
Ngọc Hường, Khuất Thu Hồng, Đinh Thái Sơn. Nghiên cứu được thực hiện
với 35 người lao động di cư trong nhóm tuổi từ 15 đến 55, là những người cư
trú ngắn hạn và thường xuyên trở về quê. Các tác giả đã có những phát hiện
14
Báo cáo “Chất lượng cuộc sống của người di cư ở Việt Nam”, cũng sử
dụng bộ số liệu của cuộc điều tra di cư năm 2004 song báo cáo này lại khai thác
khía cạnh khác về di cư đó là vấn đề chất lượng cuộc sống của người di cư.
Bài báo “Di cư và phát triển trong bối cảnh đổi mới kinh tế - xã hội
của đất nước”, đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 1(61) năm 1998, tác giả
Đặng Nguyên Anh tìm hiểu kinh nghiệm di cư mà các quốc gia Châu Á đã
trải qua những năm trước đây. Tác giả cho rằng nếu so sánh Việt Nam với các
quốc gia Châu Á trên lĩnh vực di cư, có thể thấy nhiều điểm khác biệt cũng
như tương đồng. Quá trình di cư ở Việt Nam có những nét đặc thù, chủ yếu
do sự tác động liên tục của chiến tranh và vai trò chủ đạo của nhà nước đối
với công tác di dân, nhưng đồng thời Việt Nam cũng tìm thấy sự tương đồng
với các quốc gia trong khu vực về hình thái, nguyên nhân và bản chất của di
cư trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.
Bài báo “Vai trò của mạng lưới xã hội trong di cư”, đăng trên Tạp chí
Xã hội học số 2(62) năm 1998, tác giả Đặng Nguyên Anh tập trung phân tích
ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư nông thôn – đô thị, cụ thể là tìm
hiểu vai trò của mạng lưới xã hội đến quyết định chuyển cư và lựa chọn nơi
chuyển đến, quá trình thích ứng với cuộc sống ở thành thị cũng như thu nhập
và tiền chuyển về cho gia đình của người di cư.
Bài báo “Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập
cư ở thành phố” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4(64), 1998, của hai tác giả
Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Bình Minh sử dụng số liệu khảo sát “Di cư và
Sức khỏe” do Viện Xã hội học (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân
văn Quốc gia Việt Nam) thực hiện năm 1997. Các tác giả tìm hiểu dịch vụ xã
hội trên phương diện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, dịch vụ tìm việc làm, điều
kiện y tế và sức khỏe của đối tượng lao động phổ thông. Kết quả khảo sát cho
16
Bài báo “Vận dụng lý thuyết di động xã hội vào nghiên cứu chuyển
cư” đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 1 (89), năm 2005 của Tống Văn Chung,
tác giả đã nêu ra một vài vấn đề lý luận về di động xã hội. Việc vận dụng lý
thuyết di động xã hội vào quá trình nghiên cứu chuyển cư cho phép xem xét
khía cạnh khác nhau về sở hữu, uy tín (địa vị) xã hội của người di cư không
chỉ về mặt sở hữu mà cả về vị thế của họ trong các mối tương tác với những
người khác, nhóm khác mà nơi họ đến, kể cả cơ hội cũng như “khả năng tiếp
cận” để chiếm lĩnh cơ hội của họ.
Bài báo “Vài nét về tâm lý người dân chuyển cư ở vùng xây dựng
khu kinh tế trọng điểm” đăng trên Tạp chí Tâm lý học, số 3 (72), năm 2005
của tác giả Tống Văn Chung tập trung phân tích khía cạnh tâm lý của người
dân chuyển cư ở vùng xây dựng khu kinh tế trọng điểm được ghi nhận bước
đầu qua cuộc điều tra xã hội học. Chuyển cư là một sự kiện lớn trong đời sống
của người dân, tác động mạnh tới tâm lý của người dân nơi đây. Theo đó, vấn
đề đặt ra đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế là phải lưu ý đúng
mức tới những yếu tố tâm lý để có phương hướng giải quyết thỏa đáng, giúp
cho quá trình chuyển cư diễn ra thuận lợi.
Bài báo “Di chuyển lao động con lắc đến làng nghề”, đăng trên Tạp
chí Dân số và Phát triển, số 5 (50), năm 2005 của tác giả Tống Văn Chung,
tác giả đưa ra kết luận việc phát triển làng nghề tạo ra thị trường lao động ở
nông thôn dưới nhiều hình thức khác nhau, một hiện tượng đặc thù đó là “chợ
lao động”. Thị trường lao động này giải quyết một bộ phận lao động trong
thời gian nông nhàn. Làng nghề đã tạo ra hiện tượng xã hội di chuyển lao
động và thu hút lao động không chỉ theo thời vụ mà thậm chí theo từng ngày,
từng mùa vụ. Sự đáp ứng nhu cầu lao động trong làng nghề cho thấy tác động
18
hơn đưa ra các số liệu và dẫn chứng thuyết phục hơn về thực trạng đời
sống – việc làm của người lao động di cư từ nông thôn đến đô thị và các
KCN hiện nay.
Điểm mới của luận văn so với các nghiên cứu trước đó là các nghiên
cứu trước mới chỉ tập trung vào đối tượng lao động di cư tự do mà chưa chú ý
đến đối tượng lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp. Đây là một xu
hướng dịch chuyển lao động mới ở nước ta trong vài năm gần đây. Chỉ những
công nhân di cư từ nơi khác đến làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công
nghiệp mới là khách thể nghiên cứu của đề tài. Trong đề tài này, tôi mong
muốn sẽ tìm hiểu và đánh giá được đời sống, việc làm của lao động di cư từ
nông thôn tới KCN Sông Công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Hy vọng, bên
cạnh những con số thống kê thu được, sẽ có sự lý giải, phân tích sâu hơn về
những khó khăn mà lao động di cư gặp phải trong cuộc sống cũng như trong
công việc.
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN
Sông Công nhằm đánh giá đời sống, việc làm cũng như những khó khăn mà
họ gặp phải. Từ đó đề xuất khuyến nghị về giải pháp nhằm cải thiện đời sống,
điều kiện làm việc của người lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông
Công.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Phân tích một số khái niệm có liên quan đến tên đề tài
(2) Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
(3) Chỉ rõ thực trạng việc làm hiện nay của người di cư từ nông thôn tới
KCN Sông Công