Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản - Pdf 25


Đại học quốc gia Hà nội
Trường đạị học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa xã hội học

Nguyễn Thanh huyền

Quan niệm của sinh viên về vai trò giới
trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản Luận văn thạc sỹ xã hội học

Người hướng dẫn; PGS-TS. Lê Ngọc Hùng
Hà nội-2008 1
Những từ viết tắt trong luận văn

CSSKSS
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
QHTD
Quan hệ tình dục
BLTQĐTD
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BCS
Bao cao su
BPTT
Biện pháp tránh thai
NPT
Nạo phá thai

Chương I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
I.Cơ sở lý luận.
1.Các khái niệm và lý thuyết liên quan

24
24
24
II. Cơ sở thực tiễn
34
Chương II. quan niệm của sinh viên về vai trò giới đối với một số
vấn đề cơ bản trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
36
I.Quan niệm về quan hệ tình dục và tình dục an toàn.
37

3
1.Hiểu biết của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn.
2. Thái độ của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn
39
II. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
1.Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
45

45
2.Thái độ của sinh viên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
47
III. Các biện pháp tránh thai và nạo phá thai.
1.Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và nạo phá thai
50


89

4

Phần I. Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Xã hội loài người được sinh ra, tồn tại và phát triển dựa trên sự kết hợp
và nỗ lực không ngừng của cả phụ nữ và nam giới.Trong lịch sử phát triển vĩ
đại đó, có đóng góp lớn lao của sự hiểu biết về giới tính, sức khoẻ sinh sản và
bình đẳng giới. Tuy vậy, dù đã có những lý luận mới, nhưng trên thế giới, ở
đâu đó vẫn còn những người phụ nữ không được tạo điều kiện hay bị hạn chế
trong việc phát huy tiềm năng cá nhân để đóng góp vào tiến trình phát triển
chung của xã hội loài người.Điều đó, đã tạo ra bất công xã hội, bất bình đẳng
giữa phụ nữ và nam giới.
Nếu như không có bất công xã hội, không có sự bất bình đẳng giới thì
người phụ nữ đã cống hiến được nhiều hơn cho tiến trình phát triển, và do đó
sự phát triển của thế giới ngày nay lớn hơn nhiều.
Kế thừa và phát huy lý luận mới, các nhà xã hội học và phát triển học
cho rằng, ngày nay một xã hội muốn đạt tới sự phát triển bền vững thì cả phụ
nữ và nam giới đều cần có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn và lợi ích
mà xã hội mang lại, trên cơ sở đó họ mới có điều kiện để phát huy hết tiềm
năng, cống hiến cho tiến trình phát triển chung của nhân loại.
Một xã hội muốn phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển cân
bằng về giới; ngược lại sự phát triển cân bằng về giới là một trong những điều
kiện cơ bản để có sự phát triển bền vững. Trên cơ sở luận điểm đó, các nhà
khoa học xã hội đã đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ và sự tương quan giữa
phụ nữ và nam giới tồn tại trong các môi trường văn hoá - xã hộ khác nhau,
cũng như xem xét mối quan hệ và sự tương quan đó liên quan tới phát triển
bền vững như thế nào. Trong số những cái giá phải trả cho sự bất bình đẳng
giới thì nặng nề nhất là những tổn hại về cuộc sống con người và chất lượng

6
cơ cao ( những người làm nghề mại dâm và những bệnh nhân tại các bệnh
viện điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục) thì tỷ lệ cao giữa dân cư
thành thị nam giới so với dân cư thành thị nữ giới trong nhóm có độ tuổi về
tình dục mạnh nhất là một chỉ báo có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ lây nhiễm cao.
Tỷ lệ nam so với nữ vào khoảng 1,2 có lễ có liên quan đến mức cấu về mua
bán tình dục trên đầu người cao hơn và điều này có thể làm tăng thêm tốc độ
lây nhiễm HIV cả ở trong và ngoài nhóm nhỏ gồm những người làm nghề mại
dâm ( mà phần lớn trong số đô là phụ nữ). Hai là, trong số những người lớn
có nguy cơ thấp, như phụ nữ có thai, tỷ lệ lây nhiễm bệnh cao hơn ở các
thành phố nơi có khoảng cách lớn hơn về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ.
Trong phép hồi quy nhóm, cả hai biến số này đều có ý nghĩa thống kê.
Mỗi năm thế giới có khoảng 19 triệu trường hợp nạo phá thai không an
toàn dẫn tới cái chết của 68.000 thai phụ, theo tổ chức Y tế thế giới ( WHO).
Trong cuộc nghiên cứu lần đầu tiên trên phạm vi toàn cầu về sức khoẻ
giới tính và sinh sản được công bố trên tờ tạp chí y học Lancet, WHO cho biết
đối với những người kết hôn muộn, việc quan hệ tình dục trước hôn nhân diễn
ra khá nhiều, dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và
mắc các bệnh lây qua đường tình dục cao hơn.
(Theo www.tin247.com/02/11/2006)
Dường như cứ một phút qua đi lại có một bà mẹ chết do hậu quả hoặc
những biến chứng do thai nghén hoặc do sinh đẻ. Trong số họ, phần lớn là
những người còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ. Không những thế, cứ một bà
mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao
động hoặc bị tật nguyền hoặc bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của các
biến chứng thai sản. Theo số liệu thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc,
tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau giữa các châu lực, có tới 99% là những người
đang sống ở các nước thuộc thế giới thứ 3, đặc biệt là những phụ nữ ở Đông

7

ở nhiều cấp học của hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới.
Báo cáo của cơ quan chức năng đưa ra những con số kinh hoàng từ nạo
phá thai. Các nghiên cứu xã hội học không ngừng báo động thực tạng quan hệ
tình dục sớm, mang thai, nạo phá thai ngoài ý muốn trong thanh thiếu niên để
lại hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người trong cuộc lẫn gia đình họ và xã
hội như suy giảm sức khoẻ, thậm chí có nguy cơ tử vong cao hoặc vô sinh,
ngoài ra nó còn làm ảnh hưởng đến giá trị đạo đức xã hội và liên quan đến
vấn đề chất lượng dân số lâu dài
Hành động của con người thông thường bắt nguồn từ nhận thức, mà
nhận thức đúng đắn thường bắt nguồn từ sự có kiến thức đầy đủ, khách quan
về vấn đề đặt ra hoặc từ những kinh nghiệm thực tiễn đúc kết được trong cuộc
sống thực tế. Trong lĩnh vực chúng ta đang đề cập, vị thành niên là lứa tuổi
bước vào quan hệ tình dục, chuẩn bị lập gia đình, sinh con. Bởi vậy, vấn đề
sức khoẻ sinh sản vị thành niên có ảnh hưởng lớn đến dân số và con người
trong tương lai. Nếu vị thành niên và thanh niên mặc bệnh về đường tình
dục,lây nhiễm HIV/AIDS thì những đứa con của họ sẽ không đủ năng lực để
tham gia vào hoạt động xã hội. Do vậy, có kiến thức về sức khoẻ sinh sản sẽ
giúp cho vị thành niên thoát khỏi hậu quả vì thiếu hiểu biết.
Nhằm nâng cao nhận thức về sức khoẻ sinh sản vị thành niên, và nhằm
tìm hiểu về quan điểm của sinh viên người chủ tương lai của đất nước về vai
trò giới trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản.Tạo điều kiện cho họ tiếp
cận với các thông tin, các kỹ thuật, dịch vụ thân thiện về sức khoẻ sinh sản,
giúp họ có nhận thức đúng đắn với vấn đề này, nhận thức được tầm quan
trọng và ý nghĩa cấp bách về vấn đề này tôi lựa chọn đề tài: “ Quan niệm
của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sả 9
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
2.1. Một số nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản ở nước ngoài.

23-41%
Tình trạng quan hệ tình dục sớm và mức bệnh lây truyền qua đường
tình dục ở vị thành niên mang tính toàn cầu và thực sự phải báo động đỏ trong
mọi quan hệ tình dục sớm để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng về mang
thai, nạo hút thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình
dục, đặc biệt là căn bệnh HIV/AIDS.
Một số nghiên cứu cho thấy, Vị thành niên Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng
27% nữ và 33% nam đã có sinh hoạt tình dục, đến tuổi 17 tỷ lệ này tăng lên
50% và 66%.Nếu tính riêng trong nhóm vị thành niên học sinh thì có đến 72%
số học sinh ở Mỹ có quan hệ tình dục khi bước vào năm học cuối phổ thông
trung học, trong số đó có tới 40%các học sinh ở tuổi 15.Theo ước tính của
văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS vị thành niên thì có ít nhất 80% số
người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc Sahara ( Châu Phi) đã trải qua
quan hệ tình dục.Vì thế nên đây cúng là nơi mắc các bệnh lây truyền qua
đường tình dục lớn nhất, chẳng hạn như HIV/ADIS theo UNAIDS (Quỹ liên
hiệp quốc về phòng chống AIDS) thì ở đây số người mắc HIV/AIDS chiếm
2/3 bệnh nhân này của thế giới.
ở Thái Lan ngay từ những năm 79 (TK XX) các nghiên cứu đã có tới
60% vị thành niên nam có quan hệ tình dục trong đó một số không nhỏ mới ở
tuổi 13; ở Trung Quốc các thống kê mới đây khẳng định có 20% nữ học sinh
có quan hệ tình dục,ở Băngladesh 25% và ở Nêpan 34% Vị thành niên nữ 14
tuổi đã kết hôn; Châu Phi là lục địa có tỷ lệ vị thành niên có quan hệ tình dục
và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục lớn nhất thế giới. Các nghiên
cứu cụ thể cho thấy, ở Botswana ( 1995) có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15 -

11
16 đã có quan hệ tình dục, ở Camaroon (1996) 55% nữ và 70% nam đã có
quan hệ tình dục ở tuổi 15, nghiên cứu này còn khẳng định, vị thành niên
càng lớn tuổi mức độ quan hệ tình dục càng tăng và có tới 5% nữ và 16% nam
ở tuổi từ 12-17 đã có trên hai bạn tình thường xuyên.

khi hội nghị này khai mạc ngày, 14/1/1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng
đã ra Nghị quyết số 04/NQ-HNTƯ xác định: “Thực hiện công bằng xã hội
trong chăm sóc sức khoẻ, quan tâm những người có công với nước, những
người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số. Bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ bà
mẹ và trẻ em, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh tật về dinh dưỡng ở
trẻ em”.
Và “Cải thiện chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ
em, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh …”
Về trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện dân số – kế hoạch
hoá gia đình:
Chỉ thị 99/TTg ngày 16/8/1963 của Thủ tướng chính phủ về công tác
hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, phần phương pháp tiến hành công tác hướng
dẫn sinh đẻ,có viết.
“Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những người có vợ chồng, những
người sắp trở thành vợ chồng. Đối tượng bao gồm nam nữ thanh niên, những
người trung niên và các bậc phụ lão, vì các cụ hay đòi sớm có con cháu. Cần
chú trọng thanh niên và nam giới.Tuyên truyền, giáo dục phải thích hợp với
từng đối tượng…”
Quan điểm giới sớm được chú ý đến trong các chính sách về dân số ở
nước ta, và nó thường được nhắc lại trong các văn bản ở những năm sau:

13
Chỉ thị 265/CP ngày 19/10/1978 của chính phủ về đẩy mạnh cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch, phần phương pháp tiến hành chỉ rõ: “ Đối tượng là
những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, đồng thời phải coi trọng tuyên truyền vận
động trong nam giới, trong quân đội và công an. Phải giải thích cho các bậc
phụ lão hiểu rõ để ủng hộ chủ trương này”.
Chương V “ Thông điệp truyền thông” của Quyết định 315/HĐBT xác định:
*Trách nhiệm của nam giới.
Làm cho nam giới hiểu rằng kế hoạch hoá gia đình không chỉ là việc

tầm nhìn chiến lược hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh
vực dân số và phát triển và tầm quan trọng của công tác dân số – kế hoạch
hoá gia đình đối với sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong tổng quan chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (
2001 -2010), Đảng ta đã chỉ rõ “đầu tư cho sức khoẻ nói chung và cho sức
khoẻ sinh sản nói riêng là đầu tư cho phát triển”.
Sức khoẻ đặc biệt là sức khoẻ sinh sản là vấn đề được nhiều nhà khoa
học quan tâm, nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước. ở nước ta trong
những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước nên vấn đề sức khoẻ
sinh sản vị thành niên và thanh niên cũng được đề cập nhiều trong các báo
cáo của các cơ quan chức năng như Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Bộ ý
tế,Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…
ở Việt Nam khái niệm về sức khoẻ sinh sản đã được đề cập tự hội nghị
Dân số và phát triển họp tại Cairo (Ai cập) năm 1994 và cho đến sau hội nghị
Bắc Kinh ( Trung Quốc) chương trình hành động vì sức khoẻ sinh sản vị
thành niên mới được tiến hành.
Mặc dù chưa có nghiên cứu đầy đủ, nhưng kết quả của mốt số nghiên
cứu cụ thể phần nào nhận diện những khía cạnh của sức khoẻ sinh sản vị

15
thành niên ở Việt Nam. Chẳng hạn, theo báo cáo của hội thảo “vị thành niên,
sức khoẻ và phát triển” do tổ chức WHO và viện xã hội học tổ chức tại Hà
Nội năm 2003 thì có tới 15% thanh niên Hà Nội và 25 thanh niên thành phố
Hồ Chí Minh có quan hệ tình dục trước hôn nhân và có 30 đến 70% vị thành
niên nông thôn có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Cũng theo báo cáo này,
hàng năm Việt Nam có khoảng 1 đến 1,4 triệu ca nạo hút thai và trong đó có
khoảng 20 đến 30% thuộc nhóm vị thành niên ( Phạm Thị Minh Đức,2001).
Theo báo cáo nạo phá thai ở vị thành niên trong 6 tháng giữa năm 2001 có
19,5% số nữ thanh niên tuổi từ 16-24 đến nạo phá thai trong đó vị thành niên
là 6% và số học sinh, sinh viên chiếm 17,29% tổng số người đến nạo phá thai

của Nguyễn Linh Khiếu thì con số có thể phải tới 90% chưa có chồng mới là sự
thật.
Cùng với các vấn đề quan hệ tình dục, nạo phá thai, sinh con sớm ảnh
hưởng mạnh mẽ đến SKSS vị thành niên các vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em,
mại dâm trẻ em và mắc BLTQĐTD (bệnh lây truyền qua đường tình dục)
cũng là những vấn đề mới và hết sức bức xúc.So với các nước trong khu vực
thì tỉ số tội hiếp dâm ở nước ta thuộc loại thấp, nhưng hiện nay loại tội phạm
này đang có xu hướng gia tăng. Một báo cáo cho biết, nếu những năm đầu đổi
mới tỷ lệ tội hiếp dâm trẻ em chỉ chiếm từ 4 -6% số tội phạm hiếp dâm thì các
năm sau đó tỷ lệ này thống kê được là 1993: 14,6%; 1994: 16,6%;1995: 30%
và 6 tháng đầu năm 1996 hiếp dâm trẻ em tăng hơn hẳn cùng kỳ năm trước.
Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, trong số 1.407 vụ hiếp dâm
bị khởi tố năm 1998 thì có tới 505 số vụ này là hiếp dâm trẻ em.
Nghiên cứu của Đoàn Kim Thắng trong đề tài: Kiến thức, thái độ và
hành vi của trẻ em vị thành niên về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản,
thì nhìn chung các em chưa thật hài lòng với những kiến thức đã có về các

17
lĩnh vực cơ bản của giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản. Có thể nhận xét
chung là những kiến thức mà các em có được trong nội dung của khái niệm
giáo dục giới tính hay sức khoẻ sinh sản, cũng không phải là quá ít như chúng
ta vẫn thường nghĩ. Song có thể nói những kiến thức ấy còn thiếu tính toàn
diện, hệ thống và cũng không đầy đủ trong mọi khía cạnh khoa học của nó.
Cần tiếp tục phân tích xem những nguyên nhân hay những hạn chế nào trong
quá trình trang bị cho các em một cách đầy đủ những kiến thức mà chúng ta
mong muốn có ở các em, sự phân tích này được tìm hiểu trong những thái độ
của các em khi được hỏi về những vấn đề trên.
Về quan điểm giới về vấn đề sức khoẻ sinh sản Ts Hoàng Bá Thịnh đã
nói đến trong bài viết Quan điểm giới và chính sách dân số: Về trách nhiệm
của nam giới trong việc thức hiện dân số – kế hoạch hoá gia đình. Mặc dù

quan điểm của sinh viên về vai trò giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh
sản từ đó đưa ra giải pháp mang tính khả thi cho các chương trình chính sách
về sức khoẻ sinh sản phù hợp với thanh thiếu niên.
3.ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1.ý nghĩa khoa học
- Bổ sung dữ liệu cho những nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản
-Vận dụng những luận điểm trong hệ thống lý thuyết như : Lý thuyết về
hành động xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý…làm cơ sở lý luận cho vấn đề
nghiên cứu.
-Góp phần làm rõ vấn đề giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
3.2. ý nghĩa thực tiễn

19
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các bạn sinh viên kiến thức và tầm
quan trọng của các kiến thức về sức khoẻ sinh sản và giúp tăng cường ý thức
chủ động tìm hiểu, những chủ trương chính sách về sức khoẻ sinh sản thanh
thiếu niên và đặc biệt là về quan điểm, nhận thức của sinh viên về vai trò giới
trong vấn đề này.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cho gia đình, nhà trường và cộng đồng
hiểu rõ tầm quan trọng của mình trong việc giáo dục, định hướng và tạo cơ
hội tiếp cận, sử dụng các kiến thức và dịch vụ sức khoẻ sinh sản cho đối
tượng là thanh thiếu niên.
-Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các nhà quản lý, các nhà khoa học
tham khảo , đưa ra những biện pháp cũng như các giải pháp giúp cho vị sinh
viên có những kiến thức đẩy đủ, toàn diện hơn về sức khoẻ sinh sản, đặc biệt
là để họ nhận thức đúng đắn trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hai giới trong
lĩnh vực này.
4.Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu quan điểm của sinh viên về vấn đề sức khoẻ sinh sản

6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp luận

21
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận xã
hội học Macxit và các lý thuyết khác cũng được vận dụng như: Lý thuyết về
hành động xã hội, lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết chức năng…
Việc tìm hiểu quan điểm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc
sức khoẻ sinh sản đặc biệt chú ý tới cách tiếp cận hệ thống, có nghĩa là mọi
đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể thống nhất, trong mối quan hệ tương
với các yếu tố thuộc môi trường xung quanh. Do đó khi xem xét nguyên nhân
dẫn đến nhận thức của sinh viên chúng ta phải đặt nguyên nhân trong mối
quan hệ với các yếu tố khác của môi trường xã hội xung quanh chứ không
tách rời chúng để nghiên cứu một cách siêu hình.
Nhìn đối tượng như một chỉnh thể có nghĩa là nhìn đối tượng như một
hệ thống có cấu trúc nhiều chiều, hay nói cách khác hệ thống đó được cấu tạo
bởi nhiều yếu tố. Do vậy, khi nghiên cứu quan điểm của sinh viên về vai trò
giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chúng ta phải xem xét từ nhiều
khía cạnh với một hệ quả có nhiều nguyên nhân gây nên.
Đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, trước hết phải nghiên cứu từ
chính bản thân sự vật như chúng vốn tồn tại trong thực tế, chỉ nhận mọi chi
tiết, mọi biểu hiện của chúng, loại trừ mọi phán đoán chủ quan, thiếu căn cứ
của người nghiên cứu, các kết luận phải nghiên cứu đúng thực tế.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2 1.Phương pháp phân tích tài liệu
Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã tiếp thu và sử dụng một số kết quả
nghiên cứu trước đây có liên quan tới vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
Đồng thời người viết thu thập và phân tích những bài viết về sức khoẻ sinh
sản và kế hoạch hoá gia đình đã được đăng tải trên các tạp chí, các kết quả
nghiên cứu của Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình.

`

Nhận thức -thái độ -hành vi trong chăm sóc sức
khoẻ sinh sản

Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội

Quan niệm của sinh viên về chăm sóc sức
khoẻ sinh sản. Quan niệm xã hội: Phong
tục tập quán, bất bình
đẳng giới
Sự tự học hỏi của sinh
viên
Môi trường bên ngoài:
Truyền thông, gia đình, bạn
bè, nhà trường

Trích đoạn Môi trường nhà trường Từ phía gia đình Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status