quan điểm của phranxi bêcơn về vai trò của tri thức khoa học và vấn đề phát triển kinh tế tri thức trong thời đại hiện nay - Pdf 24


1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phranxi Bêcơn (Francis Bacon, 1561 – 1626) là nhà triết học duy vật
Anh, người sáng lập chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và đồng thời là bố
đẻ của khoa học thực nghiệm tự nhiên hiện đại. Các Mác viết: “Người bố đẻ
chính tông của chủ nghĩa duy vật Anh và của toàn bộ khoa học thực nghiệm
hiện đại là Bêcơn” (63, 195). Là đại biểu tiêu biểu của nền triết học Tây Âu
cận đại, Phranxi Bêcơn được xem là người đồng sáng lập tinh thần triết học
mới cùng với nhà triết học người Pháp, Rơnê Đềcáctơ (René Descartes, 1596
– 1650). Phranxi Bêcơn thực sự để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử triết học
nói riêng và lịch sử tư tưởng nói chung với phong cách tư duy mới, thể hiện
bước phát triển tất yếu của tư duy con người trước những biến đổi lớn lao của
thực tiễn. Nước Anh, cũng như toàn thể châu Âu ở thế kỷ XVI – XVII, diễn
ra những sự thay đổi bước ngoặt trong phương thức sản xuất, dẫn đến những
sự biến chuyển trong đời sống tinh thần xã hội. Đó là thời đại nối tiếp tinh
thần văn hoá Phục hưng, đấu tranh chống chế độ chuyên chế phong kiến và
giáo hội, từng bước hình thành phương thức sản xuất mới với vai trò lịch sử
của giai cấp tư sản, đêm trước của các cuộc cách mạng tư sản. Phranxi Bêcơn,
từ đỉnh cao của một nhà chính trị, vị thế của một nhà tư tưởng, triết gia, bằng
vốn sống và kinh nghiệm của mình, bằng năng lực nhạy bén và sáng suốt của
mình, đã thâu tóm được những biến đổi của thời đại và đưa ra những phương
án cải cách đáp ứng nhu cầu thực tiễn của cuộc sống.
Ông là người đầu tiên lên tiếng đòi trả lại phẩm giá cho khoa học đã bị
chìm lấp trong đêm trường trung cổ bởi thần học. Ngay từ rất sớm, (1592),
khi đang còn ở nấc thang danh vọng của sự nghiệp chính trị, Phranxi Bêcơn
đã đưa ra một lời hứa, được coi là mục đích của cuộc đời ông, đó chính là

2

Phranxi Bêcơn đã tạo ra một thời đại sôi động và cách mạng trong triết học,
trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại
trật tự phong kiến và giáo hội và những uy quyền tư tưởng trung cổ.
Khẳng định của Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học trong đời
sống xã hội suốt mấy thế kỷ qua vẫn tiếp tục được triển khai bởi các trào lưu
triết học ở phương Tây. Thuyết kỹ trị, thuyết hội tụ như hệ quả tất yếu của sự
phát triển tư tưởng của nhân loại trong việc đề cao tri thức khoa học, trí tuệ
con người. Sự phát triển xã hội gắn liền với những thành tựu to lớn của khoa
học kỹ thuật và công nghệ thể hiện năng lực tư duy và sức sáng tạo vô tận của
con người. Sau gần 400 năm, tinh thần triết học Phranxi Bêcơn được chứng
minh một cách trọn vẹn ở thời đại của chúng ta – thời đại kinh tế tri thức. Vào
thập niên năm mươi của thế kỷ XX, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và
công nghệ đã khẳng định một thời đại mới, thời đại mà khoa học thực sự trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần to lớn vào sự phát triển của xã
hội. Làn sóng văn minh, trí tuệ đang lan toả toàn cầu, kéo theo nó là sự ra đời
nền kinh tế tri thức. Điều đó càng chứng tỏ giá trị bền vững của tư tưởng
Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học. Tri thức khoa học đang dường
như trở thành một thứ quyền lực tối thượng trong xã hội ngày nay. Vì thế,
việc tìm hiểu quan điểm của Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học
trong đời sống xã hội hết sức có ý nghĩa đối với chúng ta trong bối cảnh xây
dựng và phát triển kinh tế tri thức. Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những giá trị
tư tưởng của nhân loại theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chúng ta nghiên cứu tư tưởng của Phranxi Bêcơn với mục đích làm rõ quan
điểm của ông về tri thức khoa học và vai trò – sức mạnh của nó trong thực
tiễn cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội. Qua đó, chúng ta làm rõ được ý
nghĩa to lớn của tri thức khoa học và khả năng vận dụng những thành quả trí

4
tuệ của con người vào quá trình xây dựng một xã hội lý tưởng, giàu mạnh dựa
trên quyền lực của tri thức, gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế tri thức

Hai hướng nghiên cứu này về Phranxi Bêcơn diễn ra song song với nhau từ
trước tới nay trên thế giới.
Trước hết, có thể kể đến một số công trình về Phranxi Bêcơn của các tác
giả ngoài nước như Fulton H. Anderson với tác phẩm Francis Bacon – His
career and his thought, (Los Angeles, University of Southern California
Press, 1962), tác giả Loren Eiseley (1973) với The Man Who Saw Through
Time, (New York, Scribners), tác giả B.Farrington (1999) với Francis Bacon
– Philosopher of Industrial Science, (New York), tác giả J.Fourastié (1957)
với A.Laleuf. Revolution ql’Quest, Pari, tác giả Stephen Gaukroger (2001) với
Francis Bacon and the Transformation of Early-morden Philosophy,
(Cambridge, U.K, New York, Cambridge University Press), tác giả Paolo
Rossi (1968) với Francis Bacon: from Magic to Science, (Trans, Sacha
Rabinovitch, Chicago, University of Chicago Press), tác giả Brian Vikers
(1978) với Francis Bacon, (Harlow, UK, Longman Group), Vikers, Brian, Ed
(1996) với Francis Bacon, (New York, Oxford University Press), Charles
Whitney (1986) với Francis Bacon and Mordenity, New Haven, CN, Yale
University Press…
Trong cuốn Francis Bacon – Philosopher of Industrial Science, (New
York), tác giả B.Farrington đã giải thích mục đích chính của Phranxi Bêcơn
chủ yếu là vấn đề thực tiễn và khoa học công nghiệp, thể hiện giá trị to lớn của
tư tưởng triết học của Phranxi Bêcơn trong vấn đề phát triển xã hội. Fulton H.
Anderson trong tác phẩm Francis Bacon – His career and his thought trình bày
khá công phu về cuộc đời hoạt động và nghiên cứu của Phranxi Bêcơn, danh
tiếng và những năm tháng ngồi ở vị trí quan trọng của một nhà chính trị, một số

6
những công trình của Phranxi Bêcơn, đặc biệt là The New Organon tức Công
cụ mới. Đây là một tác phẩm được phát hành nhân kỷ niệm 400 năm ngày sinh
của Phranxi Bêcơn, như là một sự tri ân đối với người đã có ảnh hưởng trực
tiếp đến thời đại của mình và là người mở đường cho tinh thần triết học mới

Phranxi Bêcơn như một huyền thoại về lòng say mê khoa học, trong Câu
chuyện triết học (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000).
Đặc biệt, Các Mác trong “Gia đình thần thánh” đã nhận định về Phranxi
Bêcơn với vai trò là người mở đường cho khoa học tự nhiên hiện đại, cho
thấy Phranxi Bêcơn là một triết gia có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của
khoa học và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Sau C.Mác, nhà tương lai học Anvin Tốphlơ (Anvil Toffler) là người ủng
hộ, cổ súy cho những quan điểm tích cực, tiên phong mang tính thực tiễn của
Phranxi Bêcơn. Ông nhiều lần nhắc đi nhắc lại tinh thần triết học của Phranxi
Bêcơn “Tri thức là sức mạnh”. Trong tác phẩm “Thăng trầm quyền lực” tác
giả Anvin Tốphlơ cũng đã nhiều lần nhắc đến mối liên hệ lịch sử giữa Phranxi
Bêcơn và thời đại ngày nay - thời đại kinh tế tri thức. Tương tự, trong tác
phẩm “Cú sốc tương lai”, Anvin Tốphlơ đã trích dẫn câu nói được xem như
tuyên ngôn của Phranxi Bêcơn “Tri thức là sức mạnh” và nhấn mạnh đặc tính
thời đại của tri thức “Tri thức là biến đổi”.
Tác giả cũng đã tiếp cận những tác phẩm gốc tiếng Anh quan trọng chứa
đựng nguyên tác của Phranxi Bêcơn đóng vai trò nền tảng cho luận án gồm :
“The English Philosophers from Bacon to Mill”(The Modern Library, 1939),
“The Works of Lord Bacon” (London, 1995), “From Descartes to Kant của
T.V.Smith và Marjorie (1994)”.

Một số tài liệu bằng tiếng Nga viết về Phranxi Bêcơn như tác phẩm Bí
mật của “Átlantích mới”của Ph. Bêcơn của Putilov S. trong t/c “Người cùng

8
thời” (Путилов С. Тайны «Новой Атлантиды» Ф. Бэкона // Наш
современник, № 2. С.171-176, 1993). Đặc biệt quan trọng là quyển
“F.Bacon, Tác phẩm, gồm 2 tập (Фрэнсис Бэкон, Сочинения в двух томах.
Москва, Мысль, 1971 - 1972) in nhiều tác phẩm quan trọng của Phranxi
Bêcơn như Đại phục hồi khoa học, Công cụ mới, Về phẩm giá và sự phát

Những nghiên cứu của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch về lịch sử triết học
phương Tây trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Đại học
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 1993) và các chuyên đề triết học sau đại học
chuyên triết góp phần nhìn nhận Phranxi Bêcơn không chỉ từ góc độ người
sáng lập triết học cận đại, mà còn từ góc độ sâu xa của thuyết kỹ trị hiện đại.
Bên cạnh những tác phẩm bàn về tư tưởng triết học Phranxi Bêcơn là
những tài liệu nghiên cứu về kinh tế tri thức của rất nhiều tác giả trong nước
và trên thế giới. Có thể kể đến những báo cáo tranh luận tại các Hội thảo về
kinh tế tri thức, những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, diễn đàn,
Internet…và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học… Trong đó, ở
Việt Nam đã có rất nhiều tác giả có uy tín nghiên cứu về kinh tế tri thức, như
GS Đặng Hữu với cuốn “Kinh tế tri thức – Thời cơ và thách thức đối với sự
phát triển của Việt Nam”, Đặng Hữu (2002), “Phát triển kinh tế tri thức rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Cộng sản; Hoàng Thu
Hòa (2001), Kinh tế tri thức – Vấn đề và giải pháp; Lưu Ngọc Trịnh (2002),
Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức trên thế giới (Nxb. Giáo dục, Hà Nội)
Trong các công trình nghiên cứu về Phranxi Bêcơn đã nêu ở trên, việc
xem xét quan điểm của Phranxi Bêcơn về tri thức khoa học, ảnh hưởng của
quan điểm đó đến thế giới hiện đại chưa được đề cập, phân tích có hệ thống.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả về Phranxi Bêcơn, luận
án đi sâu vào nghiên cứu quan điểm của Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức

10
khoa học và vấn đề phát triển kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay, với tư
cách là một công trình nghiên cứu độc lập.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận án:
Thông qua việc trình bày, phân tích và làm sáng tỏ quan điểm của Phranxi
Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học, luận án chỉ ra ảnh hưởng và ý nghĩa lịch
sử của tư tưởng Phranxi Bêcơn đối với sự hình thành và phát triển kinh tế tri

Thứ hai, thông qua trình bày, phân tích toàn bộ tư tưởng của Phranxi
Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học, luận án đã chỉ ra được giá trị, ảnh
hưởng và ý nghĩa của tư tưởng Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học
đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển kinh tế tri thức
trong thời đại ngày nay.
Thứ ba, từ luận giải về tính tất yếu của phát triển kinh tế tri thức trên thế
giới và ở Việt Nam, luận án đã góp phần làm rõ những điều kiện, tiền đề, thực
trạng và các giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Thứ tư, qua phương pháp nghiên cứu lôgíc – lịch sử, luận án đã chỉ rõ
dòng chảy tư tưởng xuyên suốt về vai trò của của tri thức khoa học đối với sự
phát triển xã hội trong lịch sử tư tưởng nhân loại theo tinh thần kế thừa và
phát triển.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa lý luận, trên cơ sở trình bày và phân tích quan điểm của
Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học trong đời sống xã hội thông
qua dự án “Đại phục hồi khoa học”, học thuyết về ngẫu tượng, về phương
pháp luận qui nạp khoa học, về “Átlantích mới”, luận án góp phần làm rõ hệ
thống triết học của ông. Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị đối với việc

12
tìm hiểu lịch sử triết học phương Tây thế kỷ XVII – XVIII, triết học Anh nói
chung và tư tưởng của Phranxi Bêcơn nói riêng.
Đặc biệt, từ mối liên hệ giữa tư tưởng Phranxi Bêcơn với quá trình hiện thực
hóa vai trò của tri thức khoa học, mà đỉnh cao là sự ra đời nền kinh tế tri thức, luận
án làm sáng tỏ thêm qui luật kế thừa và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại.
Luận án cung cấp những luận cứ cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức.
Đồng thời, những nghiên cứu của luận án về vai trò của tri thức khoa học
và những vấn đề lý luận về kinh tế tri thức có thể góp phần tạo lập cơ sở cho
những chiến lược, sách lược phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trong

trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Tuy nhiên, trong trường học, triết học trung
cổ vẫn đang ngự trị làm nặng nề, khô cứng đời sống tư tưởng, tinh thần của
xã hội lúc bấy giờ. Thế giới quan triết học thống trị trong sự phát triển tinh
thần của xã hội phong kiến là chủ nghĩa kinh viện. Chủ nghĩa kinh viện mang
tính tôn giáo thần bí, các nhà triết học chủ yếu là các nhà thần học. Họ đều
lấy việc chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, thần thánh làm nhiệm vụ

14
trung tâm. Sự hưng thịnh và suy vong của triết học kinh viện gắn liền với
toàn bộ tiến trình lịch sử ở Tây Âu thế kỷ IX – XV, và có ảnh hưởng to lớn
đến nội dung tư tưởng của thời đại với tư cách là một nền chuyên chính tinh
thần như nhận định của Ph.Ăngghen. Hai vấn đề chi phối toàn bộ nội dung
của triết học kinh viện là quan hệ giữa tri thức và niềm tin và cuộc tranh luận
xoay quanh khái niệm phổ biến (universia hay genera). Những tên tuổi tiêu
biểu cho triết học kinh viện trung cổ như Xcốt Erigơn (Scot Erigène, 810 –
877), Tômát Đaquin (Thomas D’Aquin, 1225 – 1274), Đunxcốt (Duns
Scotus, khoảng 1265 – 1308)…
Thế kỷ XIII là đỉnh cao của triết học kinh viện, nhưng đồng thời cũng
báo hiệu sự sụp đổ của nó. Ngay vào thời điểm ấy đã xuất hiện nhiều nhà
khoa học thực sự chống lại những cơ sở xã hội của chế độ phong kiến nói
chung, ý thức hệ nói riêng. Tiêu biểu cho tinh thần phê phán là Rôgơ Bêcơn
(Roger Bacon, khoảng 1241 – 1292), Guyliam Ốccam (William O’cam,
1300 – 1350)… Theo nhận định của Phranxi Bêcơn, triết học kinh viện
trung cổ không có gì khác hơn là sự lặp lại buồn chán những chân lý đã
chết, sự mô phỏng và tán dương theo ý đồ của những cây đại thụ về tư
tưởng mà không hề có bất kỳ phát hiện nào có giá trị thực tiễn. Chính thực
tiễn sinh hoạt tinh thần của xã hội lúc bấy giờ đã tác động mạnh mẽ đến sự
hình thành tư tưởng triết học của Phranxi Bêcơn, với vai trò là người mở
đường cho phong cách tư duy mới.
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, nước Anh, cũng như toàn Tây Âu,

địa chủ thấy rằng, đem ruộng đất cho các nhà tư bản nông nghiệp thuê, có lợi
hơn là tiến hành bóc lột phong kiến đối với nông dân.
Kết quả là từ nửa sau thế kỷ XVI, nước Anh trở thành quốc gia điển
hình về tích luỹ tư bản nguyên thuỷ và hình thành nền kinh tế tư bản chủ

16
nghĩa ở nông thôn tại nước Anh. Những địa chủ tiến hành việc khoanh chiếm
đất, hoặc là họ đứng ra kinh doanh nông trường theo dạng tư bản chủ nghĩa,
hoặc là đem số đất đó cho các nhà tư bản nông nghiệp thuê, đều trở thành
những người có mối liên hệ trực tiếp với tư bản chủ nghĩa, tức họ trở thành
giai cấp tư sản. C.Mác gọi những địa chủ quí tộc dạng này là tầng lớp “quí
tộc mới”, để phân biệt với quí tộc phong kiến.
Bên cạnh lĩnh vực nông nghiệp, các ngành công thương nghiệp cũng
diễn ra nhiều sự thay đổi. Ngành công nghiệp dệt len nỉ – một ngành công
nghiệp “dân tộc” của nước Anh, từ thế kỷ XVI đã xuất hiện nhân tố tư bản
chủ nghĩa. Nhiều ngành sản xuất đã sử dụng các hình thức công trường thủ
công và dần dần mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Sự phát triển của công
trường thủ công, cũng như sự tăng trưởng của mậu dịch đối ngoại, đã thúc
đẩy ngành tài chính phát triển theo. Mặc dù công thương nghiệp của Anh
không phát triển lắm, nhưng sự phát triển chung của chủ nghĩa tư bản tại
Anh, nếu so với các nước châu Âu, thì thành tựu của nó to lớn hơn nhiều.
Điều này là do mức độ xâm nhập nông nghiệp của chủ nghĩa tư bản ở Anh rất
cao mà các quốc gia khác không bằng.
Về xã hội, sự biến động về kinh tế dẫn đến những thay đổi to lớn về mặt
cơ cấu giai cấp, đặc biệt là ở nông thôn. Tầng lớp quí tộc mới có khuynh
hướng tư sản hoá chiếm vị trí đặc biệt trong cơ cấu chính trị - xã hội của
nước Anh ở đêm trước cách mạng tư sản. Tầng lớp này được hưởng những
đặc quyền và địa vị giống như tầng lớp quí tộc phong kiến cũ, nhưng địa vị
kinh tế cao hơn rất nhiều. Nếu so sánh với giai cấp tư sản công thương
nghiệp, tầng lớp quí tộc mới cũng tỏ ra ưu thế hơn, vì hầu hết đều được giữ

mang tính cách mạng, báo trước sự sụp đổ của chế độ chuyên chế phong
kiến, tạo tiền đề cho cuộc cách mạng tư sản Anh 1640.

18
Chính những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội đã tác động đến sinh
hoạt tinh thần tại Anh. Mặc dầu nước Anh theo tín ngưỡng Thiên chúa giáo
rất sớm, nhưng đến thế kỷ XVI đã diễn ra phong trào cải cách tôn giáo dưới
chủ trương của vua Henry VIII. Trong cuộc cải cách tôn giáo này, vua Henry
đã cắt đứt mối quan hệ giữa các giáo hội của nước Anh với Giáo hoàng La
Mã, lập ra giáo hội quốc giáo nước Anh. Về mặt giáo lý, quốc giáo Anh cơ
bản giống với Thiên chúa giáo. Nhưng, thay vì quyền lực tối cao thuộc về
Giáo hoàng La Mã thì nay thuộc về nhà vua nước Anh. Tầng lớp quí tộc mới
thuộc giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh, dần dần cảm thấy quốc giáo không
có lợi cho sự phát triển của họ. Để chống lại quốc giáo, giai cấp tư sản đã lấy
giáo lý sẵn có của giáo phái Canvanh (Calvin) làm vũ khí đấu tranh. Giáo
phái này ở Anh còn được gọi là Thanh giáo với ý nghĩa là thanh trừ những
tàn tích của Thiên chúa giáo. Giáo lý của Thanh giáo thể hiện rõ ý thức hệ
của giai cấp tư sản. Các tín đồ Thanh giáo tuyên truyền rộng rãi đạo đức, tôn
giáo mới và những tổ chức chính trị của giai cấp tư sản. Họ đã đoàn kết giai
cấp tư sản và quí tộc mới trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa chuyên
chế. Tuy nhiên, nội bộ Thanh giáo chia làm hai phái: “Hội trưởng lão” là phái
đại diện cho tập đoàn giàu có nhất bao gồm tầng lớp quí tộc mới, thuộc tầng
lớp trên trong giai cấp đại tư sản, chủ trương dựa vào hình thức của giáo phái
Canvanh để cải cách triệt để giáo hội quốc giáo và đòi hỏi những bậc trưởng
lão phải có tác dụng chủ yếu trong giáo hội cũng như trong bộ máy quốc gia;
phái còn lại thì chủ trương mỗi đoàn thể tôn giáo đều phải đứng độc lập ngoài
quyền lực của quốc gia và quyền lực của giáo hội, mỗi tín đồ không cần phải
phục tùng giáo hoàng và nhà vua cũng như các trưởng lão và các hội nghị tôn
giáo. Vì thế, phái này gọi là “Phái độc lập”, gồm những người thuộc giai cấp
tư sản và quí tộc mới bậc trung và một số nông dân, bình dân thành thị.

20
nhận vị trí của giai cấp bị trị, khi mà trong tay họ là toàn bộ sức mạnh kinh tế,
đang làm lay chuyển đời sống tinh thần, biến đổi cơ cấu xã hội, khiến cho các
giá trị hiện tồn bị hoài nghi. Tính chất cách mạng của giai cấp tư sản Anh, một
mặt, tạo nên sức lan toả nhanh chóng trong xã hội, thu hút các lực lượng xã hội
khác nhau, hình thành cả phong trào rộng lớn chống chế độ chuyên chế, mặt
khác, trung lập hoá hoặc làm suy yếu và phân hoá giai cấp thống trị, từ đó hình
thành tầng lớp quí tộc mới, đúng hơn, quí tộc tư sản hoá. Chính lực lượng này
đã làm giá đỡ cho những tư tưởng tích cực, tiến bộ, hậu thuẫn cho những phát
minh khoa học và ứng dụng kỹ thuật. Thứ hai, những biến động kinh tế, chính
trị – xã hội góp phần làm thay đổi và quyết định môi trường sáng tạo văn hóa,
xác lập nên hệ biến thái giá trị mới. Những gì lạc hậu, cũ xưa, không phù hợp
với điều kiện xã hội mới đều bị loại trừ. Tính chất thực dụng thay thế cho sự phô
trương hình thức trong đời sống cộng đồng. Nền văn hoá tư sản đòi hỏi loại bỏ
các chuẩn mực, giá trị của chế độ phong kiến, vốn mang nặng sự định kiến đẳng
cấp và quyền uy. Thực dụng và vụ lợi (Pragmatism and Utilitarianism), theo
B.Rátxen (B.Russell), vốn là đặc điểm truyền thống của người Anh và Mỹ; nó
phát huy sức mạnh của mình trong buổi giao thời của lịch sử, khi mà bản chất
của sự vật, dưới tác động của những qui luật khách quan, đã bộc lộ mình một
cách trung thực, và chính vì thế rất cần sự thẩm định khắt khe của thực tiễn luôn
biến đổi. Tính thực dụng, do đó, có nghĩa tích cực trong lĩnh vực văn hoá nói
chung, tri thức khoa học nói riêng. Về văn hoá, nó phá vỡ “vầng hào quang thần
thánh” (diễn đạt của C.Mác – Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản)
của văn hoá trung cổ, vốn nặng về khuôn mẫu, mực thước, mà xem nhẹ yếu tố
sáng tạo, yếu tố “lệch chuẩn” và “vượt khuôn khổ”, mở đường cho cái mới.
Điều này giải thích vì sao vào thời Ph.Bêcơn, cùng với sự nở rộ các học thuyết
triết học mang tính cải cách, văn học Anh đã chứng kiến nhiều tên tuổi và tác
phẩm lớn mang ý nghĩa phê phán sâu sắc, trong đó nổi bật U.Sếchpia (William

21

nghĩa từng bước hình thành từ Italia, Hà Lan, Anh, Pháp… và trở thành một
xu thế tất yếu của lịch sử không có gì ngăn cản nổi. Từ những thay đổi trong
lực lượng sản xuất đến sự phân hoá giai cấp xã hội đã làm thay đổi cục diện
chính trị, báo trước sự sụp đổ, tiêu vong của chế độ phong kiến Tây Âu.
Hoàn cảnh lịch sử Tây Âu đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của
xã hội, sản sinh ra những con người mà theo Ph.Ăngghen: “từ xưa tới nay,
nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và
đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt
tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức
sâu rộng” [65, 459-460]. Đây là thời đại mà con người không còn có thể nhìn
ngắm thế giới trong trạng thái tĩnh mà phải nỗ lực đi tìm những lời giải từ
thực tiễn bằng sự kiếm tìm say mê và sáng tạo. Vì vậy, đặc điểm của triết học
Tây Âu thời kỳ này là chủ nghĩa duy lý, tính khoa học, thái độ phê phán và
sáng tạo. Tất cả các nhà triết học thời kỳ này đều lên án triết học kinh viện
cũ, hệ tư tưởng cũ và phát triển hệ tư tưởng mới. Triết học đặt ra nhiệm vụ
cao cả là giải phóng con người khỏi nhà thờ, tôn giáo và những xiềng xích,
uy quyền ràng buộc con người và trí tuệ con người. Nhằm mục đích thúc đẩy
sự phát triển của xã hội, triết học thời cận đại có quan hệ chặt chẽ với khoa
học, trước hết là khoa học tự nhiên, thoát khỏi sự phụ thuộc vào thần học.
Nhiều nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học tự nhiên, như
R.Đềcáctơ, G.Galilê…
Từ vị trí của nhà khai sáng, có tri thức vững vàng, nhất là tri thức về khoa
học thực nghiệm, chịu ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử, xã hội của nước
Anh cũng như Tây Âu, Phranxi Bêcơn đã táo bạo và kiên quyết đưa xu hướng
cải cách vào lĩnh vực nhận thức, thể hiện những biến đổi bước ngoặt của thời

23
đại, là triết gia tiêu biểu tiên phong cho tinh thần và phong cách tư duy mới
nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn. Ở phương diện này, Phranxi Bêcơn đã kế
thừa các thành quả của lý luận và khoa học tự nhiên thời Phục hưng, phát triển

không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có
đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La
Mã thì không có châu Âu hiện đại. Xét ở nhiều góc độ tư tưởng, có thể nói
Ph.Bêcơn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Platôn (Plato, 427-347 TCN), nhà triết
học cổ đại Hy Lạp. Platôn được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều
người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Xôcrát (Socrates,
Σωκράτης) là thầy của ông. Sinh ra ở Athena, ông được hấp thụ một nền giáo
dục tuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và
đặc biệt là triết học, ngành học mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp
Xôcrát. Ông ở Athena khoảng năm 387 TCN và sáng lập ra Viện hàn lâm -
(tên lấy theo khu vườn nơi ông ở). Đây có thể được coi là trường đại học đầu
tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu, giảng dạy khoa học và
triết học. Platôn có câu nói nổi tiếng trong lịch sử: "Tự chinh phục mình là
chiến công vĩ đại nhất."(Self-conquest is the greatest of victories.). Là kẻ thù
chính trị của chế độ dân chủ chủ nô Aten, Platôn coi “chế độ quý tộc” tức là
chế độ nhà nước của tầng lớp thượng lưu là “nhà nước lý tưởng” [147].
Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ
thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết về ý niệm. Trong học
thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế
giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực,
không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, luôn thay đổi
và vận động, không ổn định, không bền vững, không hoàn thiện; còn thế
giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân
thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con
người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan
mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh
ra thế giới cảm biết. Từ quan niệm trên Platôn đã đưa ra khái niệm "tồn tại"

25
và "không tồn tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status