Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2010
Giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách lãi suất
nhằm ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển châu Á
BMI
Cơ quan khảo sát thị trường quốc tế
CSLS
Chính sách lãi suất
CSTK
Tổng phương tiện thanh toán
TTCK
Thị trường chứng khoán
TTM
Thị trường mở
TTTC
Thị trường tài chính
TTTT
Thị trường tiền tệ 2 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. XNK và cán cân thương mại giai đoạn 2002 - nửa đầu năm 2007 35
Bảng 2. Dự báo về chỉ số CPI của IMF trong các năm tới 59
Bảng 3. Dự báo của EIU và BMI về tỷ giá USD/VND 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Quan hệ giữa cung cầu vốn và lãi suất 12
Biểu đồ 2: Mô hình khuôn mẫu ưa thích tiền mặt 13
Biểu đồ 3. Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn 2002 – nửa đầu 2007 31
Biểu đồ 4. Khối lượng giao dịch nghiệp vụ TTM từ năm 2002 đến tháng 10 – 2006 32
Biểu đồ 5. Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực và tỷ lệ lạm phát CPI: 1996-2007 32
Biểu đồ 6. Tích lũy tài sản quốc gia giai đoạn 2002 – 2007 32
Biểu đồ7. LSCB và lạm phát giai đoạn 07/2007-06/2008 37
Biểu đồ 8. Diễn biến điều chỉnh lãi suất chỉ đạo và dự trữ bắt buộc từ 6/2008 đến 6/2009
của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên cùng với quá trình toàn cầu hoá, những mặt trái
của nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ rõ nét, đa dạng và phức tạp hơn. Công tác
nghiên cứu cũng vì thế ngày càng được đẩy mạnh và đi sâu giải quyết các vấn đề không
chỉ mang tính toàn cầu mà còn phải có tính ứng dụng cao, phù hợp với từng quốc gia,
từng khu vực. Bằng cách tập trung vào tác động của chính sách lãi suất đến kiềm chế
lạm phát và tăng trưởng kinh tế, thông qua việc phân tích những số liệu mới nhất, bài
viết là bức tranh sát thực nhất về chính sách lãi suất đã và đang được NHNN áp dụng tại
thời điểm hiện nay. Nhờ vậy, các giải pháp mà nhóm chúng tôi đưa ra cũng mang tính
thực tiễn khá lớn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là hiệu quả của chính sách lãi suất đối với
việc ổn định và phát triển nền kinh tế. Nhóm chúng tôi tập trung phân tích hiệu quả
chính sách lãi suất thời gian tại Việt Nam từ năm 2002 đến 6 tháng đầu năm 2009, và từ
đó đưa ra giải pháp trong 5 năm tiếp theo (từ 2010 đến 2015).
4. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc phân tích, đánh giá và tìm ra nguyên nhân giải thích thực trạng tác động
của chính sách lãi suất lên nền kinh tế Việt Nam, nhóm nghiên cứu sẽ tìm ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách lãi suất đối với việc ổn định và phát triển kinh
tế nước ta trong thời gian sắp tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành dựa trên các phương pháp thu thập thông tin, xử lý số liệu,
tổng hợp, so sánh, phân tích, và hệ thống hóa.
6. Kết quả nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu, kết hợp phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm của các
quốc gia trên thế giới cũng như tình hình công tác điều hành chính sách lãi suất và
những đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, nhóm nghiên cứu nhận thấy tuy đã đạt được
nhiều kết quả hết sức tích cực nhưng chúng ta vẫn còn không ít những mặt hạn chế. Bài
tính chất khoản vay, giá trị thực của tiền lãi, tính linh hoạt của lãi suất, loại tiền cho vay
và nguồn tín dụng hình thành.
Căn cứ vào tính chất của khoản vay, lãi suất được chia thành lãi suất tiền
gửi ngân hàng, lãi suất tín dụng ngân hàng, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, lãi
suất liên ngân hàng và lãi suất cơ bản.
Lãi suất tiền gửi ngân hàng là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào
ngân hàng.Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau, phụ thuộc vào loại tiền
gửi (nội tệ hay ngoại tệ), loại tài khoản (tiền gửi thanh toán hay tiền gửi tiết kiệm), loại
thời hạn (không kỳ hạn, ngắn hạn hay dài hạn) và qui mô tiền gửi.
Lãi suất tín dụng ngân hàng là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng là
người cho vay. Lãi suất tín dụng ngân hàng cũng có nhiều mức tùy theo loại tiền, thời
hạn, phương thức, mục đích của tiền vay, và theo quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng.
6
Lãi suất chiết khấu là mức lãi suất áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay
dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh
toán của khách hàng. Lãi suất chiết khấu được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá
của giấy tờ có giá.
Lãi suất tái chiết khấu được áp dụng khi NHTW cho các ngân hàng trung gian
vay dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn
chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Lãi suất tái chiếu khấu cũng được tính
bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá.
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay
trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ
cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các
ngân hàng trung gian vay của NHTW. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển
của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW của các ngân hàng
trung gian.
suất ngoại tệ.
Lãi suất nội tệ là lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng nội tệ. Lãi suất ngoại tệ: là
lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng ngoại tệ.
Mối liên hệ giữa hai lãi suất này là:
i
D
= i
F
+ ΔE
Trong đó: i
D
là lãi suất nội tệ, i
F
là lãi suất ngoại tệ, ΔE là mức tăng tỷ giá dự tính
của đồng ngoại tệ.
Căn cứ vào nguồn vốn tín dụng trong nước, lãi suất bao gồm lãi suất trong
nước và lãi suất quốc tế.
Lãi suất trong nước hay lãi suất nội địa là lãi suất được áp dụng cho các hợp đồng
tín dụng trong một quốc gia.
Lãi suất quốc tế là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tín dụng quốc tế.Các hợp
đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất của thị trường quốc gia nào thì lãi suất của
thị trường quốc gia đó trở thành lãi suất quốc tế.
1.1.2. ộ t
1.1.2.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu vốn vay
Đường cung cầu vốn vay cho các nhà kinh tế học một mô hình để xác định lãi
suất thị trường, được gọi là mô hình “Khuôn mẫu tiền vay”.
8
Thứ ba,tình hình ngân sách chính phủ, thiếu hụt ngân sách chính phủ lớn sẽ làm
tăng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.
1.1.2.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung, cầu tiền tệ
Theo mô hình “Khuôn mẫu ưa thích tiền mặt”, lãi suất cân bằng thay đổi khi các
đường cung, cầu tiền tệ dịch chuyển.
Biểu đồ 2: Mô hình khuôn mẫu ưa thích tiền mặt
i MS1 MS2
i
1 I MD
M
1
M
2
M
Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cầu tiền
Thứ nhất,thu nhập tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu nắm giữ tiền để giao dịch và làm
nơi cất giữ giá trị, do đó làm cho lượng cầu tiền tăng lên và ngược lại.
Thứ hai, mức giá tăng sẽ làm lượng cầu tiền tăng lên làm cho cầu tiên danh nghĩa
tăng lên, còn cầu tiền thực tế ứng với một mức lãi suất và thu nhập nhất định có xu
hướng không đổi.
a) Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cung tiền
Cung tiền tăng làm đường cung tiền dịch sang phải và ngược lại.
Trước hết, chính sách tiền tệ của các NHTƯ tác động tới cung tiền trong nền kinh
tế. Dưới đây là bốn tác dụng của CSTT mở rộng tới lãi suất:
Kiểm soát lạm phát:Trong nền kinh tế thị trường, kiểm soát lạm phát, ổn
định sức mua của đồng tiền là yếu tố cơ bản giúp ổn định nền kinh tế, tạo đà cho sự tăng
trưởng. Trong thực tế, cứ tăng trưởng kinh tế cao thì thường kéo theo lạm phát. Hiện
tượng này gần như là một nguyên lý mà các nhà kinh tế, kế hoạch, tài chính quốc gia
phải luôn luôn quan tâm để hài hoà giữa phát triển và kiểm soát lạm phát, trong đó việc
cân đối liều lượng, thời điểm, phương thức áp dụng các biện pháp là rất quan trọng. Nếu
như lạm phát không được kiểm soát sẽ dẫn đến những hậu quả không chỉ về kinh tế mà
còn cả về xã hội cho quốc gia, triệt tiêu hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.
1
1
Mục tiêu kiểm soát lạm phát, do vậy là một trong những mục tiêu rất quan trọng
của chính sách lãi suất của NHTW cũng như chính sách tiền tệ nói chung. Thông qua
các công cụ của chính sách lãi suất, NHTW có thể thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt
hay nới lỏng trong từng thời kỳ để điều tiết và khống chế tỷ lệ lạm phát ở một mức độ
hợp lý.
Ổn định tỷ giá, đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền:Thông qua
chính sách lãi suất, NHTW có thể duy trì hoặc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu
kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia, tạo sự nền
tảng ổn định cho các hoạt động kinh tế , đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu.
Ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng và thị trường tài chính :Chính sách
lãi suất của NHTW phải đảm bảo sự hoạt động ổn định của hệ thống các tổ chức tín
dụng, và thông qua đó là sự ổn định ,thông suốt của thị trường tài chính trong mọi điều
kiện kinh tế. Hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng cũng như thị trường tài chính
có vai trò đặc biệt với nền kinh tế trong sự phân bổ nguồn lực và thực hiện các mục tiêu
được hoạch định của chính sách tiền tệ.
Tăng trưởng kinh tế :Chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất
nói riêng về cơ bản và lâu dài phải đảm bảo được sự tăng lên của GDP thực tế. Một nền
kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất cứ một chính sách
đi tính linh hoạt và quyền tự chủ trong kinh doanh, nó dể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn
trong ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự
trữ ngoại tệ, bất động sản trong khi ngân hàng hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn
cho vay.
- Ấn định khung lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: NHTW có thể ấn định khung
lãi suất dưới nhiều hình thức như lãi suất sàn, lãi suất trần và mức chênh lệch giữa lãi
suất cho vay bình quân với mức lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất trần, lãi suất cơ bản
vv…và bắt buộc các NHTM phải xây dựng biểu lãi suất kinh doanh nằm trong khung lãi
suất. Biện pháp điều tiết này có ưu điểm là các NHTM được phép xây dựng mức lãi suất
linh hoạt hơn và bước đầu có quyền tự chủ qui định mức lãi suất kinh doanh. Đồng thời
giúp cho các NHTM lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại bỏ những dự án kém
hiệu quả. Nhìn chung việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay ngày càng ít được
áp dụng ở các nước theo cơ chế thị trường. Bởi vì trong cơ chế thị trường, lãi suất rất
1
3
nhạy cảm với vốn đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị
trường.
Tác động gián tiếp là tác động thông qua công cụ lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự
trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở
- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối với các
NHTM và TCTD dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá chưa đến thời hạn
thanh toán.Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, NHTW có thể tác động đến khả năng
vay của NHTM và do đó làm cho cung cầu tiền tệ tăng lên hay giảm xuống. Khi lãi suất
tái chiết khấu tăng lên, các NHTM sẽ bất lợi trong việc vay vốn của NHTW. Trong điều
kiện đó, các NHTM không có khả năng mở rộng tín dụng. Ngược lại, khi lãi suất tái
chiết khấu giảm, các NHTM có khả năng mở rộng cho vay đối với khách hàng. Do đó,
sự thay đổi lãi suất lãi suất tái chiết khấu được coi như dấu hiệu của định hướng CSTT
của NHTW. Mức độ phát huy hiệu quả các công cụ này căn cứ vào mức độ phụ thuộc về
thời mở rộng khối lượng tiền. Lý luận tương tự như trên thì việc tăng cung tiền cũng sẽ
dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng).
Lãi suất chiết khấu cũng tác động không nhỏ đến chỉ số lạm phát. Khi NHTW
nâng lãi suất chiết khấu, NHTM buộc phải nâng lãi suất tín dụng của mình để không bị
lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, kéo theo cầu tín dụng (nhu cầu vay vốn) và cầu về
tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của người dân) giảm. Trường hợp ngược lại tức là NHTW
kích thích tăng cung cầu tiền tệ và làm cho giá tăng (tỷ lệ lạm phát tăng).
Trong nghiệp vụ thị trường mở, với việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, NHTW
có thể điều tiết cả khối lượng tiền tệ và lãi suất tín dụng. Tiền sẽ được đưa vào hoặc rút
ra khỏi lưu thông qua các mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia. Điều này tác
động trước hết đến khối lượng tiền dự trữ trong quĩ dự trữ của các NHTM và các tổ chức
tài chính, hạn chế tiền năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó thay
đổi khối lượng tiền trên toàn thị trường. Rõ ràng, khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp
tới tỷ lệ lạm phát, do đó điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.
Khi có lạm phát, NHTW sẽ tăng lãi suất tiền gửi, nên việc đầu tư vào ngân hàng
(gửi tiết kiệm) mang lại lợi nhuận dự kiến lớn hơn là đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ tự động thắt chặt hơn trong chi tiêu, phân bổ nguồn
vốn… Tỷ lệ lạm phát theo đó cũng giảm xuống.
1
5
Ngoài ra, NHTW còn sử dụng còn dùng hạn mức tín dụng để điều hành, làm cho
khối lượng tín dụng đối với NHTM không vượt quá mức cho phép, để từ đó đảm bảo
mức lạm phát đã được phê duyệt. Khi hạn mức tín dụng giảm, cung tiền giảm, dẫn tới
tổng đầu tư giảm làm cho tổng cầu giảm và cuối cùng làm giá giảm.
2.2. Tác động của lãi suất, chính sách lãi suất đến tiêu dùng, tiết kiệm
và đầu tư
Bằng cách tác động vào các công cụ của chính sách lãi suất, NHTƯ có thể làm
giảm hoặc tăng lãi suất tác động đến mức tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư.
nội tệ và đồng ngoại tệ, thông qua cung cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối.
Xét trong điều kiện không có yếu tố lạm phát, khi lãi suất nội tệ cao hơn lãi suất
ngoại tệ (chính sách lãi suất cao) sẽ có tác động làm chuyển hóa lượng ngoại tệ trong
nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn đồng thời hấp dẫn các luồng vốn
nước ngoài chảy vào trong nước. Điều này làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng
có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá,
hay đồng nội tệ sẽ tăng giá, dẫn đến tỷ giá giảm. Một chính sách lãi suất thấp, tương tự
như vậy sẽ có hiệu ứng theo hướng ngược lại lên tỷ giá.
Trong điều kiện có yếu tố lạm phát, sự chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ và
ngoại tệ phải được đánh giá trên cơ sở lãi suất thực. Sự chênh lệch về lãi suất thực mới
tạo ra sự lưu chuyển và chuyển đổi vốn trên thị trường ngoại hối, và qua đó ảnh hưởng
lên tỷ giá hối đoái.
Như đã nói ở trên, mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái là mối quan hệ
gián tiếp, lô-gic, không phải là mối quan hệ trực tiếp hay nhân quả. Tỷ giá hối đoái được
hình thành trên cơ sở cung và cầu ngoại tệ, và chủ yếu do tình trạng dư thừa hay thiếu
hụt của cán cân thanh toán quyết định. Sự thay đổi tỷ giá là quá trình chịu tác động của
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, các yếu tố này thường đan xen vào nhau và tùy
thuộc lẫn nhau, trong từng hoàn cảnh và thời điểm cụ thể có yếu tố nổi bật trở thành
nguyên nhân của sự thay đổi tỷ giá, cũng có yếu tố trở thành hệ quả của sự thay đổi tỷ
giá. Mặt khác, tác động của lãi suất lên tỷ giá thông qua cung cầu ngoại tệ nói trên chỉ
đúng với các nền kinh tế mở có đồng tiền tự do chuyển đổi và tự do lưu chuyển vốn.
Như vậy, lãi suất và chính sách lãi suất chỉ có một ảnh hưởng nhất định và có giới hạn
lên sự biến động của tỷ giá hối đoái, và trên thực tế dự đoán và điều tiết, xử lý tác động
của lãi suất đến tỷ giá là một vấn đề khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, chính sách lãi suất
1
7
hiện nay vẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh sự tăng giảm của tỷ giá hối
đoái.
tâm đến việc khoản vay của họ có thực sự tiềm ẩn nhiều rủi ro hay không hay người đi
vay có đủ khả năng hoàn trả tiền và lãi vay khi đến hạn hay không. Người cho vay chỉ
cho vay khi họ nhận thấy con nợ của mình hoạt động thực sự hiệu quả. Chính điều nay
giúp cho các nguồn lực tài chính được phân bổ đúng đắn đến những người sử dụng
chúng một cách hiệu quả nhất. Một dự án nào càng đem lại hiệu quả cao thì càng thu hút
nhiều nguồn lực đổ vào đó.
Từ đó, ta có thể kết luận được rằng, lãi suất là một loại giá cả, nó có vai trò quan
trọng trong việc phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực vốn đã khan hiếm của xã hội
và là yếu tố cần thiết ban đầu trước khi đi đến bất kỳ quyết định cho vay nào.
3. Bài học kinh nghiệm: Chính sách lãi suất của Trung Quốc hậu khủng
hoảng kinh tế
3.1. Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC)
Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC) là ngân hàng trung ương của Trung
Quốc. Mục tiêu chính của PBC là duy trì sự ổn định giá cả trong nước và tạo điều kiện
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tuy nhiên PBC cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác
như: quản lý ngoại hối, ổn định tỷ giá, ổn định thị trường tài chính vv…
Hoạt động của PBC nằm dưới sự chỉ đạo của chính phủ, mô hình này được gọi là
độc lập tự chủ hạn chế, đây là cấp độ độc lập tự chủ thấp nhất, theo đó Chính phủ là nơi
quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá
trình triển khai thực thi CSTT.
PBC điều hành chính sách lãi suất bằng cả hai biện pháp là kiểm soát trực tiếp và
gián tiếp lãi suất TTTT. PBC xác định các mức lãi suất cơ bản đối với tiền gửi và cho
vay của các NHTM đối với khách hàng; các NHTM theo đó sẽ ấn định các mức lãi suất
của mình trong một biên độ nhất định. Đồng thời PBC cũng sử dụng các công cụ gián
tiếp như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, nghiệp vụ thị
trường mở để kiểm soát khối lượng tiền, từ đó tác động đến quan hệ cung cầu vốn trên
TTTT để ổn định hoặc thay đổi lãi suất thị trường.
3.2. Chính sách lãi suất của Trung Quốc hậu khủng hoảng kinh tế
phát huy tác dụng truyền dẫn hiệu quả. 9 tháng đầu năm 2009, các khoản cho vay mới
2
0
bằng đồng NDT là 8670 tỷ NDT, tăng 5190 tỷ NDT so với cùng kỳ. Trong đó, các
khoản vay mới của cư dân tăng 1840 tỷ NDT, của DNVVN tăng 3080 tỷ NDT
31
.
Chính sách tiền tệ lỏng lẻo một cách thích đáng
Bước sang năm 2010, Trung Quốc chủ trương tiếp tục thực hiện chính sách tiền
tệ nới lỏng ở mức độ phù hợp, hay còn gọi là “lỏng lẻo một cách thích đáng”. Trong đó
việc tăng cường tính trọng điểm, sự linh hoạt và ổn định trong điều hành CSLS được coi
là mục tiêu quan trọng hàng đầu. CSLS sẽ thực hiện theo hướng có sự phối hợp, hỗ trợ
tích cực của chính sách tài chính, chính sách ngành nghề và chính sách phân phối thu
nhập, đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường vốn và tối ưu hóa cơ cấu nguồn cung.
Chính sách tiền tệ nới lỏng cần được duy trì trong năm 2010 này là do việc Trung
Quốc tiếp tục xuất siêu sẽ khiến cho hệ thống ngân hàng hạn chế đầu tư vào thị trường
ngoại hối, đồng thời tạo ra nguy cơ khủng hoảng tiền tệ mang tính hệ thống đối với
NHTW.
Hiện CSLS và chính sách tỷ giá của Trung Quốc đang phải chịu áp lực rất lớn từ
sự xuất siêu, đặc biệt là lượng dự trữ ngoại hối ngày càng gia tăng. Vừa qua, Ngân hàng
Trung ương Trung Quốc đã phải phát hành tới 3.990 tỷ Nhân dân tệ trái phiếu để giảm
áp lực do lượng cung Nhân dân tệ quá lớn tạo ra.
Kiểm soát chặt chẽ và thay đổi cơ cấu cung cấp vốn cơ bản của Nhà nước
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc kiềm chế lạm phát và khống chế bong
bóng tài sản, Trung Quốc đã có kế hoạch kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc cung cấp
vốn cơ bản của Nhà nước. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả của CSLS, Chính phủ và
NHTW nước này cũng xét tới việc thay đổi cơ cấu cung cấp vốn theo hướng hợp lý và
linh hoạt hơn; hoàn thiện cơ cấu đầu tư và điều chỉnh kết cấu ngành nghề; phát triển
điều chỉnh tỷ giá USD/NDT nhưng mức điều chỉnh vẫn còn rất hạn chế.
Với những giải pháp đồng bộ, quyết liệt và sử dụng linh hoạt, thận trọng các công
cụ trong CSTT, CSTK, Trung Quốc đã dạt được những thành tựu rất đáng kể trong quá
trình phục hồi kinh tế hậu khủng hoảng. Theo đánh giá bởi các chuyên gia, nền kinh tế
Trung Quốc hiện đang tăng trưởng theo hình chữ “V”. Trong quý I/2010, tỷ lệ tăng
trưởng là 11,9%, lạm phát ở mức thấp 2,2%, trong tháng 5 vừa qua con số này cũng chỉ
dừng lại ở 3,1%. Theo dự đoán của WB, tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong cả năm
2010 sẽ là 9,5% so với mức tăng trưởng bình quân toàn thế giới là 3,4%
32
. Những con số
2
2
nêu trên đã phản ánh tính hiệu quả của sự điều hành vĩ mô nền kinh của Chính phủ
Trung Quốc.
Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh chính sách điều hành vĩ mô nói
chung, CSLS nói riêng của chính phủ Trung Quốc, song cho đến nay chúng ta không thể
phủ nhận những thành quả mà nó mang lại. Vẫn còn rất nhiều những khó khăn trước mắt
nhưng với sự điều chỉnh theo cơ chế tự do hóa lãi suất, đưa lãi suất vận hành theo quy
luật cung cầu của thị trường, chính sách lãi suất của Trung Quốc đã và đang đóng một
vai trò quan trọng, trở thành một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế hiệu quả, giúp kiểm
soát và điều hành lãi suất trên thị trường phù hợp vơi các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất
nước, hạn chế và giảm thiểu các tác động tiêu cực của những biến động kinh tế bất
thường trên thế giới.
2
3
Chương II: THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
2
4
lớn, có uy tín của các NHTM có uy mô lớn, hoạt động kinh doanh bình thường; diễn
biến về lãi suất và biến động vốn huy động, cho vay của TCTD; diễn biến kinh tế vĩ mô;
quan hệ với tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối. Biên độ được quy định hợp lý, đảm
bảo cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh một các linh hoạt, phù hợp với
điều kiện và mức độ rủi ro có thể, đồng thời NHNN kiểm soát được lãi suất.
Cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ
Đối với lãi suất USD, NHNN bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay mà chuyển
sang cơ chế lãi suất linh hoạt theo thị trường quốc tế nhưng vẫn có sự kiểm soát. NHNN
quy định lãi suất cho vay ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống) không vượt quá mức lãi suất
LIBOR (lãi suất thị trường liên ngân hàng London) hoặt lãi suất SIBOR (lãi suất thị
trường liên ngân hàng Singapore) kỳ hạn 3 tháng + tối đa 1,9%/năm. Lãi suất cho vay
trung, dài hạn (từ 1năm trở lên) không vượt quá mức LIBOR hoặc SIBOR kỳ hạn 6
tháng + tối đa 2,5%/năm.
Đối với các loại ngoại tệ khác, do chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt động tiền gửi và tín
dụng trên thị trường, nên NHNN cho phép các NHTM tự xem xét quyết định lãi suất
tiền gửi, lãi suất cho vay của các loại ngoại tệ này trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế
và cung cầu vốn tín dụng của từng loại ngoại tệ trong nước.
Theo dõi diễn biến thị trường tiền tệ và kinh tế vĩ mô 5 tháng cuối năm 2000 cho
thấy, cơ chế mới về điều hành lãi suất không làm tăng mặt bằng lãi suất của thị trường.
Trái lại, nó tạo ra cơ chế thông thống cho lãi suất thị trường biến động phù hợp với cung
cầu vốn - nguyên tắc của cơ chế thị trường. Đồng thời, NHNN vẫn kiểm soát nhưng nới
lỏng với biên độ cao hơn, tạo cho sự phân bổ vốn đầu tư, phù hợp với cơ cấu thị trường
tiền tệ. Có thể nói, chính sách lãi suất đã góp phần đẩy nhanh tốc độ hồi phục của kinh tế
nước nhà. Tín dụng tăng trưởng cao trong năm 2000 là 20%, sau 2 năm trì trệ, tạo tiền
đề cho các hoạt động đầu tư và thương mại mở rộng. Chặn đứng được đà giảm sút kinh
tế 5 năm từ 1995 đến 1999, kinh tế bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi với tốc độ tăng
trưởng đạt 6,75%, cao hơn so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 5,5-6,5%.Thu nhập bình