TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 2009 - Pdf 69

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1990 2009
1. ĐẦU TƯ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. Tỷ trọng đầu tư trong GDP cao:
Ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2007 vừa qua kinh tế cũng đạt được
những thành tựu khả quan. Tốc độ tăng trưởng hằng năm cao, ổn định (khoảng
7,6%). Trong đó tỷ lệ đầu tư chiếm tỷ trọng khá lớn (>30%).
Năm 2008 khủng hoảng kinh tế tác động mạnh tới kinh tế Việt Nam làm
giảm tăng trưởng GDP xuống còn 6.18%, năm 2009 tăng trưởng GDP là 5,32%
đầu tư tăng gần 17% chiếm gần 43% GDP
Bảng: Dự báo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008
1.2. Đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây liên tục gia tăng
nhưng chất lượng tăng trưởng chưa cao, chủ yếu do đóng góp từ việc gia tăng
quy mô vốn mà chưa phải là gia tăng chất lượng sử dụng nguồn lực.
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc
40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, năm 2007
đạt 40,4%, năm 2009 là 42,8%), kế hoạch năm 2010 ước chừng tầm 40-42%.
Đây là một trong những tỉ lệ cao nhất của thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc.
Ngồn: số liệu Tổng cục thống kê Việt Nam
Để làm rõ vấn đề này, đề tài sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh để hồi
quy và phân tích những đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản đến tăng
trưởng và từ đó đánh giá tác động của việc sử dụng vốn đến chất lượng tăng
trưởng kinh tế Việt Nam thời gian qua, như thể hiện trong các bảng sau.
Bảng : Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản cho tăng trưởng
kinh tế Việt Nam giai đoạn 1994-2003
Đơn vị : %
Năm
Tăng trưởng
kinh tế
Vốn đầu tư Lao động

- Lao động 15,90 20,00 19,07
- TFP 14,80 22,60 28,20
Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương và Thời báo kinh tế
Việt Nam
Số liệu tính toán ở các bảng trên cho phép rút ra một số kết luận sau:
• Thứ nhất, đóng góp của vốn đầu từ đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam giai đoạn 1994-2004 là rất đáng kể và có xu hướng ngày càng gia tăng.
Nếu như vào năm 1994, vốn đầu từ chỉ đóng góp 28.8% vào tăng trưởng kinh tế
thì đến năm 2002 mức đóng góp đã là 48.7% và năm 2003 là 49.6%. Cá biệt có
năm 1998, 1999 mức đóng góp của vốn đầu tư là 56.3 và 68.8%. Nguyên nhân
là do đây là thời kì nền kinh tế nước ta bắt đầu trong quá trình mở cửa và nền
kinh tế mới nổi đầy tiềm năng này đã thu hút được các nhà đầu tư. Nhưng quy
mô vốn đầu tư là chưa cao, chưa tương xứng.
+ Tuy nhiên trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2000 đến năm 2004, đây là
thời kì đánh dấu bước chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta đã thu
hút được rất nhiều vốn đầu tư từ trong nước, nước ngoài, từ các nguồn viện
trợ ...và tỷ trọng vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức cao
nhưng chưa phát triển một cách liên tục.
• Thứ hai, kết quả tính toán cũng cho thấy mức đóng góp của lao động vào
tăng trưởng là tương đối ổn định. Giai đoạn 1998-2004 nếu tính cả sự đóng góp
của yếu tố số lượng vốn đầu tư và sự đóng góp của yếu tố số lượng lao động, thì
hai yếu tố này đã đóng góp trên ba phần tư tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam. Điều đó chứng tỏ, sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng tốc độ
tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba
tỷ trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay.
• Thứ ba, mức đóng góp của năng suất nhân tố tổng thể có xu hướng giảm.
Nếu như năm 1994, mức đóng góp của năng suất nhân tố tổng thể là 48.1% thì
đến năm 2003 chỉ còn đóng góp 23.3% vào mức tăng trưởng kinh tế. Điểm đáng
lưu ý là mức đóng góp của năng suất nhân tố tổng thể vào tăng trưởng kinh tế
có mối quan hệ chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Quan sát hai bảng dưới để thấy rõ được điều này:
Bảng: Tốc độ tăng trưởng và hệ số ICOR các năm
trong giai đoạn 1986-2007

m
Tốc độ tăng
trưởng %
ICOR Năm
Tốc độ tăng
trưởng %
ICOR
1986 2.4 4.8 1997 8.2 4.2
1987 3.7 3 1998 5.8 5.6
1988 5.9 2.4 1999 4.8 6.9
1989 8.0 1.5 2000 6.8 4.9
1990 5.1 2.8 2001 6.8 4.95
1991 6.0 2.5 2002 7.0 5.09
1992 8.6 2.1 2003 7.24 5.0
1993 8.1 3.1 2004 7.7 5.0
1994 8.8 2.9 2005 8.44 5.3
1995 9.5 3.3 2006 8.17 4.88
1996 9.3 3.4 2007 8.48 4.90
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong khu vực có cùng giai đoạn phát
triển kinh tế, ICOR của Việt Nam cao hơn rất nhiều.

Điều đó chứng tỏ, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp.
Hiệu quả đầu tư còn được tính theo cách lấy GDP chia cho vốn đầu tư
hàng năm (đều tính theo giá thực tế). Theo cách này, thì GDP/vốn đầu tư (có
nghĩa là 1 đồng vốn đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng GDP) của Việt Nam đã

+ Thứ nhất, vào những năm đầu của thập kỉ 1990 tăng trưởng kinh tế
chủ yếu thiên về bề rộng, vì thế hiệu suất sử dụng vốn đầu tư được gắn liền với
chính sách đổi mới kinh tế và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế. Do vậy nhu cầu
về vốn đầu tư thấp mà hiệu quả vẫn cao.
+ Thứ hai, trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi tăng trưởng kinh tế theo
chiều sâu, nhìn chung các yếu tố về đổi mới cơ chế chính sách đã phát huy hết
tiềm năng vốn có của nó. Để tăng trưởng cần đầu tư nhiều vốn hơn.
3. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải đầu tư, đầu tư đó được
biểu hiện dưới dạng tiền gọi là vốn đầu tư.
Xét về phương diện toàn xã hội thì vốn đầu tư là toàn bộ giá trị nhân lực,
tài lực được bỏ thêm vào cho hoạt động của toàn xã hội trong thời gian nhất
định thường là một năm.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đầu tư gồm:
- Đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng và bảo vệ
môi trường;
- Đầu tư cho sức khoẻ con người và phát triển trí tuệ văn hoá xã hội;
- Đầu tư khác như: đầu tư cho bộ máy quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng,
hợp tác quốc tế,..
Suy cho cùng, đầu tư đều đưa tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng tác
động đến tăng trưởng kinh tế thì đầu tư ở mỗi lĩnh vực lại không giống nhau;
Đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng và
bảo vệ môi trường có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và hiệu quả của
đầu tư cho thấy nhanh hơn, rõ ràng hơn. Chính vì vậy vốn đầu tư vào lĩnh vực
này được xem là quan trọng nhất, đặc biệt với các nước đang phát triển. Trong
nhiều diễn đàn đầu tư người ta xem đây là đầu tư vào kinh tế và dùng để tính
các chỉ tiêu phát triển kinh tế tầm vĩ mô.
Đầu tư cho sức khoẻ con người, phát triển trí tuệ, văn hoá xã hội và đầu
tư khác cũng có tác động không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội,
nhưng gián tiếp qua nguồn nhân lực và các nhân tố về môi trường đầu tư; hơn

của nền kinh tế.
3.2.2. Cơ cấu đầu tư theo 3 nhóm ngành là: Công nghiệp, Nông lâm ngư nghiệp
và Dịch vụ.
Bảng: Cơ cấu đầu tư phân theo ngành thời kỳ 1996-2009.
Đơn vị tính:%
Khối ngành 1996-2000 2001-2005 1996-2005 2006-2009
Tổng vốn đầu tư xã hội 100 100 100 100
Công nghiệp 36,1 40,6 38,9 39,9
Nông, lâm, ngư nghiệp 13,7 9,1 10,8 22,0
Dịch vụ 50,2 50,3 50,3 38,1
(Nguồn: Niên giám thống kê).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status