1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phranxi Bêcơn (Francis Bacon, 1561 – 1626) là nhà triết học duy vật Anh,
người sáng lập chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và đồng thời là người tiên
phong mở đường cho khoa học thực nghiệm tự nhiên hiện đại. Các Mác gọi ông là
bố đẻ chính thống của chủ nghĩa duy vật Anh và của toàn bộ khoa học thực
nghiệm hiện đại. Ph.Bêcơn thực sự để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử triết học
nói riêng và lịch sử tư tưởng nói chung với phong cách tư duy mới, thể hiện bước
phát triển tất yếu của tư duy con người trước những biến đổi lớn lao của thực tiễn.
Nước Anh, cũng như toàn thể châu Âu ở thế kỷ XVI – XVII, diễn ra những sự
thay đổi bước ngoặt trong phương thức sản xuất, dẫn đến những sự biến chuyển
trong đời sống tinh thần xã hội.
Tinh thần phê phán và khám phá của triết học Ph.Bêcơn đã ảnh hưởng sâu
rộng đến nền triết học Anh và Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII. Đặc biệt, tuyên bố
của ông “Tri thức là sức mạnh” đã trở thành tuyên ngôn của thời đại. Đoạn tuyệt
với triết học kinh viện và các hình thức tri thức trung cổ, các nhà khoa học và
triết học hướng sự nghiên cứu của mình vào việc phục vụ nhu cầu thực tiễn.
Những phát minh khoa học ra đời được ứng dụng rộng rãi, nhằm nâng cao sức
sản xuất xã hội. Các tổ chức, thiết chế khoa học (Science Institutions) được thiết
lập. Tri thức khoa học từng bước giúp con người nhận thức giới tự nhiên, chinh
phục tự nhiên, khẳng định quyền lực con người trước tự nhiên. Với vai trò mở
đường cho tinh thần triết học mới, Ph.Bêcơn đã tạo ra một thời đại sôi động và
cách mạng trong triết học, trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản trong
cuộc đấu tranh chống lại trật tự phong kiến và giáo hội và những uy quyền tư
tưởng trung cổ.
Khẳng định của Ph.Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học trong đời sống xã
hội suốt mấy thế kỷ qua vẫn tiếp tục được triển khai bởi các trào lưu triết học ở
phương Tây. Thuyết kỹ trị, thuyết hội tụ như hệ quả tất yếu của sự phát triển tư
tưởng của nhân loại trong việc đề cao tri thức khoa học, trí tuệ con người. Sự
phát triển xã hội gắn liền với những thành tựu to lớn của khoa học kỹ thuật và
trước tới nay trên thế giới.
Trước hết, có thể kể đến một số công trình về Ph.Bêcơn của tác giả ngoài
nước như Fulton H. Anderson (1962) với tác phẩm Francis Bacon – His career
and his thought, tác giả Loren Eiseley (1973) với The Man Who Saw Through
Time, tác giả B.Farrington (1999) với Francis Bacon – Philosopher of Industrial
Science, tác giả J.Fourastié với A.Laleuf. Revolution ql’Quest, Pari, tác giả
Stephen Gaukroger với Francis Bacon and the Transformation of Early-morden
Philosophy, tác giả Paolo Rossi với Francis Bacon: from Magic to Science, tác
giả Brian Vikers với Francis Bacon, Brian Vikers, Ed (1996) với Francis Bacon,
Charles Whitney (1986), Francis Bacon and Mordenity
Trong cuốn Francis Bacon – Philosopher of Industrial Science, (New
York), tác giả B.Farrington đã giải thích mục đích chính của Phranxi Bêcơn chủ
yếu là vấn đề thực tiễn và khoa học công nghiệp, thể hiện giá trị to lớn của tư
tưởng triết học của Phranxi Bêcơn trong vấn đề phát triển xã hội. Fulton H.
Anderson trong tác phẩm Francis Bacon – His career and his thought trình bày
khá công phu về cuộc đời hoạt động và nghiên cứu của Phranxi Bêcơn, danh
tiếng và những năm tháng ngồi ở vị trí quan trọng của một nhà chính trị, một số
những công trình của Phranxi Bêcơn, đặc biệt là The New Organon tức Công cụ
mới.
3
Tác giả Paolo Rossi vào năm 1968 phát hành cuốn Francis Bacon: from
Magic to Science. Trong tác phẩm này, tác giả đã bàn về tư tưởng và hoạt động
của Phranxi Bêcơn trong bối cảnh tác động của môi trường văn hoá Tây Âu cũng
như sự ảnh hưởng trở lại của tư tưởng Phranxi Bêcơn với xã hội.
Loren Eiseley (1973) viết The Man Who Saw Through Time được xem như
là sự tri ân của một người Mỹ đối với Phranxi Bêcơn. Ông ca ngợi Phranxi
Bêcơn với tư cách là người mang lại một cách nhìn nhận mới về thế giới với tinh
thần đầy khám phá, phát hoang để tìm đến những vùng đất mới, mà trước hết là
sự thay đổi về cách tư duy.
Charles Whitney (1986) với Francis Bacon and Mordenity đã có sự nghiên
Đại phục hồi khoa học, Công cụ mới, Về phẩm giá và sự phát triển của khoa
học… Trong đó, tác giả J.P.Mikhalencô (1975) với Ph.Bêcơn và học thuyết của
ông (Ю. П. Михаленко: Ф.Бэкон и его учение; Издательство “Наука”,
Москва, 1975) đã có nhiều phân tích sắc sảo về Ph.Bêcơn và đánh giá cao vai trò
tư tưởng triết học của ông.
Tại Việt Nam tư tưởng triết học của Ph.Bêcơn được xem xét trong dòng
chảy của lịch sử triết học phương Tây thế kỷ XVII – XVIII, mà Ph.Bêcơn và
R.Đềcáctơ là những người mở đường.
GS.TS Nguyễn Hữu Vui trong Lịch sử triết học (Nhà xuất bản chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1998), trình bày khái quát tư tưởng triết học của Ph.Bêcơn về thế
giới quan, nhận thức luận, phương pháp luận. Tác giả đề cập đến học thuyết ảo
tượng của Ph.Bêcơn và việc xây dựng phương pháp mới của ông – phương pháp
qui nạp khoa học. Tác giả Lê Tôn Nghiêm trong “Lịch sử triết học Tây phương”
do nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000 cũng nhấn mạnh dấu
ấn của Ph.Bêcơn trong lịch sử tư tưởng phương Tây nói riêng và nhân loại nói
chung. Trong cuốn “Lịch sử thế giới cổ trung đại” do Bộ giáo dục và Đào tạo ấn
hành năm 2004, tư tưởng triết học Ph.Bêcơn được xem như điểm xuất phát cho
công cuộc cải tổ môi trường tri thức ở Anh đêm trước của cách mạng tư sản 1640
– 1642. Trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Nxb Tổng hợp
Tp. Hồ Chí Minh), PGS.TS Đỗ Minh Hợp và PGS.TS Nguyễn Thanh cùng TS.
Nguyễn Anh Tuấn bằng cách tiếp cận lôgic – lịch sử đã phân tích tư tưởng triết
học Ph.Bêcơn trong mối liên hệ với thời đại tư bản chủ nghĩa, đồng thời nhấn
mạnh dấu ấn Bêcơn trong tư tưởng hiện đại. Trước đó, vào những năm sáu mươi
của thế kỷ trước, vai trò của Ph.Bêcơn, R.Đềcáctơ và nhiều nhà tư tưởng cận đại
được nhắc đến, chẳng hạn trong cuốn “Lịch sử triết học thời kỳ tiền tư bản chủ
nghĩa” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960).
Những nghiên cứu của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch về lịch sử triết học
phương Tây trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Đại học Tổng
hợp Tp. Hồ Chí Minh, 1993) và các chuyên đề triết học sau đại học chuyên triết
góp phần nhìn nhận Ph.Bêcơn không chỉ từ góc độ người sáng lập triết học cận
học nói riêng.
- Phân tích, làm rõ nội dung và ý nghĩa của Dự án “Đại phục hồi khoa học”
của Ph.Bêcơn, phê phán tri thức kinh viện và các ngẫu tượng của nhận thức, làm
rõ phương pháp luận khoa học của Ph.Bêcơn, khái quát và vạch ra ý nghĩa của
tác phẩm “Átlantích mới”, qua đó thể hiện tư tưởng của Ph.Bêcơn ở ba nội dung:
phê phán và phủ định, xây dựng và thiết kế, vận dụng và hiện thực hoá tri thức
khoa học trong thực tiễn.
- Rút ra ý nghĩa của quan điểm “tri thức là quyền lực” do Ph.Bêcơn xây
dựng, từ đó nêu lên mối liên hệ lịch sử giữa quan điểm về tri thức của Ph.Bêcơn
trong dòng chảy tư tưởng của nhân loại và sự phát triển kinh tế tri thức trong thời
đại ngày nay. Làm rõ tính tất yếu và những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức,
phân tích sự cần thiết cũng như những điều kiện, tiền đề, thực trạng và giải pháp
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6
Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, tác giả sử dụng hệ
thống các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm phương pháp phân tích và
tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, lôgíc và lịch sử, hệ thống và cấu trúc, so sánh, đối
chiếu, lý luận thống nhất với thực tiễn…
5. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, với sự nghiên cứu các tác phẩm gốc của Ph.Bêcơn bằng tiếng Anh
và tiếng Nga, luận án đã góp phần giới thiệu tư tưởng của Ph.Bêcơn nói chung và
hệ thống hoá toàn bộ tư tưởng của ông về vai trò của tri thức khoa học và làm rõ
quan điểm nổi tiếng “Tri thức là sức mạnh” của Ph.Bêcơn.
Thứ hai, thông qua trình bày, phân tích toàn bộ tư tưởng của Ph.Bêcơn về
vai trò của tri thức khoa học, luận án đã chỉ ra được giá trị, ảnh hưởng và ý
nghĩa của tư tưởng Ph.Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát
triển xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển kinh tế tri thức trong thời đại ngày
nay.
vực chính trị, xã hội, văn hóa.
Về kinh tế, từ nửa sau thế kỷ XVI, nước Anh trở thành quốc gia điển hình về
tích luỹ tư bản nguyên thuỷ và hình thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông
thôn tại nước Anh. Về chính trị - xã hội, cùng với sự hình thành chế độ chuyên
chế tập quyền, tầng lớp quí tộc mới có khuynh hướng tư sản hoá chiếm vị trí đặc
biệt trong cơ cấu chính trị - xã hội của nước Anh ở đêm trước cách mạng tư sản.
Xã hội nước Anh cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII đã báo trước sự sụp đổ của
chế độ chuyên chế phong kiến, tạo tiền đề cho cuộc cách mạng tư sản Anh năm
1640. Chính những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội đã tác động đến đời
sống sinh hoạt tinh thần tại Anh. Các tín đồ Thanh giáo tuyên truyền rộng rãi đạo
đức, tôn giáo mới và những tổ chức chính trị của giai cấp tư sản và quí tộc mới
bậc trung và một số nông dân, bình dân thành thị ra đời.
Như vậy, xét toàn cảnh nước Anh, từ nửa sau thế kỷ XVI, xu hướng cải cách
chính trị, xã hội và đời sống tinh thần đã trở nên phổ biến. Mặc dù Ph.Bêcơn
thuộc về tầng lớp quý tộc, không ủng hộ đổi mới chính trị, song xu thế đổi mới
đời sống xã hội lại tác động đến cách nhìn của ông trong sinh hoạt tư tưởng, nhất
là vấn đề lành mạnh hóa môi trường giáo dục, hình thành quan điểm nhận thức
mới.
1.2. Tiền đề lý luận và tiền đề khoa học hình thành tư tưởng triết học
của Ph. Bêcơn
1
Tiền đề lý luận sâu xa của triết học Ph.Bêcơn là văn hoá Phục hưng, và cùng
với nó là những phát minh khoa học của thời đại, góp phần làm thay đổi tư duy
con người. Tư tưởng triết học Ph.Bêcơn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những thành
quả của khoa học tự nhiên và truyền thống lý luận Tây Âu, từ những gợi mở của
1
Bắt đầu từ đây NCS viết gọn Phranxi Bêcơn thành Ph.Bêcơn
8
còn niềm tin, theo Ph.Bêcơn, có tác dụng trong quá trình đạo đức. Xét ở phương
diện tích cực, Ph.Bêcơn đã tiếp tục tinh thần phê phán và đấu tranh cương quyết
chống lại những xiềng xích của Giáo hội và Thần học đối với nhận thức của con
người. Phong trào cải cách tôn giáo như giá đỡ cho ông trong sự nghiệp cải cách
triết học và khoa học, là động lực cho ông trong cuộc hành trình chống lại tri
thức kinh viện, tìm kiếm hướng đi mới cho triết học và khoa học, nhấn mạnh tính
ứng dụng của tri thức trong thực tiễn.
9
Cuối cùng, xét một cách tổng thể, tư tưởng đổi mới của triết học Ph.Bêcơn
nói chung, quan điểm Ph.Bêcơn về tri thức khoa học nói riêng, được cổ suý bởi
tinh thần Phục hưng văn hoá, mà Ph.Bêcơn là sự kết thúc của tinh thần đó, đồng
thời cũng là sự bắt đầu của thời đại mới.
Tiếp thu tinh thần của chủ nghĩa nhân văn, triết học Ph.Bêcơn thể hiện tư
tưởng tôn vinh, đề cao con người, xem con người là điểm xuất phát và mục đích
cuối cùng của mình. Ở Ph.Bêcơn, chủ nghĩa nhân văn gắn với vấn đề khẳng định
quyền lực của con người trước tự nhiên và việc giải phóng con người khỏi những
uy quyền tư tưởng của thời đại.
Có thể nói, khát vọng khám phá, cuộc đấu tranh chống ý thức hệ phong kiến
trung cổ, những phát minh trong khoa học tự nhiên, những phát biến của văn hoá
nhân văn và phong trào cải cách tôn giáo là những yếu tố tác động đến sự hình
thành tư tưởng Ph.Bêcơn nói chung, quan niệm về vai trò của tri thức khoa học
nói riêng.
1.3. Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Ph.Bêcơn
Phranxi Bêcơn sinh ngày 22/1/1561 tại Luân Đôn trong gia đình thuộc dòng
dõi quí tộc Anh. Bố của ông, Nicôlai Bêcơn, là Quan giữ ấn (Lord Keeper of The
Seal) của Nữ hoàng Elidabet I.
Năm 1573, Ph.Bêcơn học ở Cambridge; năm 1577 sang Pháp; tháng 2/1579
trở lại nước Anh. Năm 1584, Ph.Bêcơn viết tác phẩm triết học đầu. Năm 1586,
Ph.Bêcơn trở thành luật sư tập sự. Năm 1593, ông được bầu vào dân biểu. Năm
1597, Bêcơn xuất bản tác phẩm “Khảo luận, hay những chỉ dẫn về đạo đức và
tác phẩm cuối đời – “Átlantic mới”). Lôgíc của sự triển khai tư tưởng như sau:
trước hết cần thực hiện “thanh tẩy” lý trí, loại bỏ những chướng ngại trên con
đường nhận thức chân lý; tiếp đó xây dựng phương pháp khoa học, nhờ đó con
người đạt được tri thức đúng, thực sự hiệu quả, không chỉ giải thích tự nhiên, mà
còn khẳng định quyền lực của mình trước tự nhiên (“tri thức là sức mạnh”); sau
cùng là vận dụng thành công tri thức khoa học vào thực tiễn xã hội, xây dựng
một xã hội tốt đẹp dựa trên “quyền lực” của tri thức.
Di sản mà Ph.Bêcơn để lại cho thời đại sau không đồ sộ như một số nhà tư
tưởng khác, nhưng những ý tưởng mà ông gợi mở về sự cần thiết cải tổ tri thức,
vượt qua nền quân chủ trong khoa học, vượt qua uy quyền để khẳng định tinh
thần khám phá của con người – những ý tưởng ấy thực sự mở đường cho sự vận
động của lịch sử nhân loại trong cuộc vận động tiến về phía trước, khẳng định
quyền lực của con người không chỉ trước tự nhiên, mà cả trước các lực lượng tự
phát của xã hội.
Chương 2. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA PH. BÊCƠN VỀ VAI
TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
2.1. Dự án “Đại phục hồi khoa học” – cương lĩnh của Ph.Bêcơn về vai
trò của tri thức khoa học
2.1.1. Kết cấu, nội dung và ý nghĩa của Dự án "Đại phục hồi khoa học"
“Đại phục hồi khoa học” (Tiếng Latinh: Instauratio Magna Scentiarum,
tiếng Anh: The Great Instauration of Science) gồm sáu nội dung với các tác
11
phẩm tương ứng: 1) Phân loại khoa học, tác phẩm “Phẩm giá của khoa học” (De
Dignitate et Augmentis Scientiarum); 2) Công cụ mới, hay những chỉ dẫn cho
việc giải thích tự nhiên, tác phẩm “Công cụ mới” (Novum Organum
Scientiarum); 3) Các hiện tượng của thế giới, hay lịch sử tự nhiên và lịch sử thực
nghiệm dành cho cơ sở của triết học, với những tác phẩm ngắn và những trích
đoạn; 4) Cây thang lý trí, với những trích đoạn; 5) Trước ngưỡng cửa triết học
thứ hai (triết học mới), với những trích đoạn; 6) Triết học thứ hai (đệ nhị triết
nhiên là trần thuật và qui nạp, gồm Lịch sử các hiện tượng thường nhật, Lịch sử
các hiện tượng đặc biệt và Lịch sử nghệ thuật. Lịch sử công dân đặc thù được
12
Ph.Bêcơn triển khai hết sức chi tiết, gồm nhiều hệ bộ phận cấu thành, như ở phần
Kỷ niệm, gồm Chú giải và Liệt kê; ở phần Lịch sử đối chiếu gồm Thông tin thời
gian, Tiểu sử và Tường thuật, trong Thông tin thời gian lại gồm Lịch sử chung,
Lịch sử đặc thù, Biên niên sử và Nhật ký; phần Cổ đại, Lịch sử thuần khiết và
Lịch sử hỗn tạp. Ngoài ra, Ph.Bêcơn còn đưa vào nhóm khoa học Lịch sử phần
Bổ trợ lịch sử, gồm Ngôn ngữ, Chữ viết và Cách ngôn.
Thứ hai, Ph.Bêcơn cũng xếp thơ ca vào lĩnh vực khoa học, vì nó thể hiện
khả năng của con người – khả năng tưởng tượng (phantasia), gồm Sử thi, Kịch
và Parabol (parabolitos).
Thứ ba, phần quan trọng nhất được Ph.Bêcơn triển khai kỹ nhất, chi tiết nhất
là triết học. Chịu ảnh hưởng của quan niệm triết học là khoa học của mọi khoa
học – quan niệm thống trị suốt thời cổ đại, Ph.Bêcơn hiểu triết học theo nghĩa
rộng. Theo ông, triết học là tổng thể các tri thức lý luận của con người về
Thượng đế, về giới tự nhiên và về bản thân con người. Từ đó, Ph.Bêcơn phân
loại triết học ra những lĩnh vực khác nhau gồm Thần học tự nhiên (học thuyết về
thần), Triết học tự nhiên (học thuyết về tự nhiên), Triết học thứ nhất, hay Đệ nhất
triết học, mà trọng tâm là triết học con người (học thuyết về con người). Như vậy
đối tượng của triết học, theo Ph.Bêcơn, là: Thượng đế, tự nhiên, và con người.
Học thuyết về tự nhiên trong triết học được Ph.Bêcơn gần như đồng nhất với các
khoa học tự nhiên. Bản thân Ph.Bêcơn hiểu triết học theo hai cách. Triết học theo
nghĩa rộng đồng nhất với các khoa học, bao trùm các khoa học khác. Triết học
theo nghĩa hẹp là bộ phận cơ bản nhất trong tổng thể các khoa học, được
Ph.Bêcơn gọi là triết học thứ nhất, là nền tảng và cơ sở của các khoa học khác.
Nhưng ngay khi bản thân triết học hiểu theo nghĩa hẹp, nó cũng đã bao quát toàn
bộ các lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Trên cơ sở phân loại khoa học, Ph.Bêcơn nhấn mạnh rằng, tri thức phải là
tri thức khoa học, và để đạt đến tri thức khoa học, theo ông, đầu tiên là phê phán
lẽ “chân lý là đứa con của thời gian, chứ không phải của uy quyền”.
Thực chất học thuyết về ngẫu tượng của Ph.Bêcơn nhằm đấu tranh chống lại
những uy quyền tư tưởng thời Trung cổ, thanh tẩy lý trí, hướng nhận thức con
người theo ánh sáng trí tuệ để đạt tới tri thức khoa học, là mục đích của cuộc đời
ông.
2.2.2. Xây dựng phương pháp qui nạp khoa học
Phương pháp khoa học là công cụ hiệu quả nhất để khắc phục ngẫu tượng,
phương pháp đó có được bằng kinh nghiệm khoa học và phương pháp nhận thức
tối ưu là phương pháp qui nạp khoa học (Inductive scientific method)
Ph.Bêcơn khẳng định: “Khoa học là khoa học kinh nghiệm, và thực chất đó là áp
dụng phương pháp hợp lý vào trong các tư liệu cảm tính”
2
.
Để xác lập công cụ khoa học mới, điều trước tiên là loại trừ ảnh hưởng của
tam đoạn luận và phương pháp kinh nghiệm của Arixtốt (Aristotes), thay diễn
dịch tam đoạn luận bằng thực nghiệm - quy nạp.
Sau khi vạch ra, đánh giá có phê phán hai loại quy nạp đã từng được ứng
dụng là “quy nạp hoàn toàn” và “quy nạp không hoàn toàn”, Ph.Bêcơn nhấn
mạnh sự cần thiết sử dụng quy nạp khoa học, hay quy nạp chân lý, đưa ra nhiều
2
F.Bacon (1958) The Works, Vol. II, London, England, tr.142
14
kết luận xác thực và mới mẻ. Điểm xuất phát của phương pháp quy nạp khoa học
là “thắp lên một ngọn đuốc trí tuệ” soi đường, tiếp đó thực hiện các bước theo
một trình tự hợp lý, từ việc thu thập dữ liệu, phân tích, phân loại, tìm ra những
liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, đến xác lập, kiểm chứng. Kết luận chung
cuộc là kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc và thận trọng. Như vậy, có
thể nói Ph.Bêcơn đã đoán trước phương pháp nghiên cứu thực nghiệm mà vào
giữa thế kỷ XIX phát triển khá rầm rộ.
tan những bóng đen vây bọc trí tuệ con người. Ph.Bêcơn đã thành công khi xác
3
The Works of Lord Bacon, (1955), Vol II, London, England, tr.40
15
lập cương lĩnh, hay dự án “Đại phục hồi khoa học”, cụ thể hoá nó qua việc phê
phán tri thức kinh viện, các ngẫu tượng của nhận thức, đi đến xây dựng phương
pháp luận kinh nghiệm – quy nạp, như đã phân tích ở trên. Ph.Bêcơn đòi hỏi phải
tiến hành những cải cách cương quyết, không khoan nhượng trong toàn bộ lĩnh
vực rộng lớn của tư duy và nhận thức của con người, phải theo cách mới hướng
tới sự vật với những phương tiện tối ưu nhất và thực hiện việc khôi phục các
khoa học và nghệ thuật, cũng như toàn bộ tri thức loài người nói chung, được
khẳng định trên những cơ sở cần con người. Nhiệm vụ này không dễ dàng, con
đường của nhận thức cũng không dễ dàng. Sự nghiệp “Đại phục hồi khoa học”
chỉ có thể thực hiện được khi nào con người nghiên cứu một cách nghiêm túc các
nguyên lý của nhận thức. Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo, thực thể có
lý trí cần phải từ bỏ các lý luận và kinh nghiệm không đúng đắn.
Tóm lại, cùng với những biến chuyển của xã hội, Ph.Bêcơn đã có những
thay đổi bước ngoặt trong nhận thức, tạo ra một thời đại mới với một đời sống
tinh thần đầy lý trí, mà trong đó nổi bật lên với dự án Đại phục hồi khoa học và
khát vọng phát triển khoa học theo hướng phục vụ thực tiễn. Tư tưởng triết học
của Ph.Bêcơn về Đại phục hồi khoa học, về phê phán những ngẫu tượng trong
nhận thức, về việc xác lập phương pháp nhận thức mới qui nạp khoa học, về
phẩm giá và vai trò của khoa học… vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn trong thời
đại ngày nay.
2.3.2. Vai trò hàng đầu của tri thức khoa học trong việc góp phần phát
triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy nhanh nhịp độ của tiến bộ xã hội
Ph.Bêcơn tưởng tượng về một xã hội với những thành quả khoa học – kỹ
thuật mà vào thời đại hiện nay đã không còn xa lạ, nói khác đi, Ph.Bêcơn đã
đoán trước xu thế của lịch sử ở bình diện tri thức. Đảo Benxalem được Ph.Bêcơn
đầu. Ph.Bêcơn bước đầu đã chỉ ra sự cần thiết quản lý xã hội một cách sáng suốt
và “có tri thức”, nhưng ông không hề có ý cải tạo xã hội, thay thế chế độ chính
trị hiện tại của nước Anh. Ph.Bêcơn là người mở đường cho thời đại mới, nhưng
không phải là người tạo tiền đề cho cách mạng tư sản Anh về lý luận. Dẫu sao,
thái độ của ông đối với cải cách xã hội trong khuôn khổ chế độ hiện tại cũng góp
phần phá vỡ chế độ ấy từ bên trong, vì nó báo trước tính không tương thích của
những định chế truyền thống đối với tiến bộ xã hội.
2.3.4. Vai trò của khoa học trở thành một thiết chế xã hội (The Social
Institution)
Trước hết, có thể thấy rằng, vào thời Ph.Bêcơn, cũng như trước và sau đó, tư
duy không tưởng về một xã hội tốt đẹp, hoàn thiện, luôn chiếm vị trí xứng đáng.
Học thuyết không tưởng của Ph.Bêcơn bám sát vào thành quả của khoa học
thế kỷ XVII, vào trình độ nhận thức chung. Vào thế kỷ XVII, khoa học từ chỗ là
hoạt động nghiên cứu tự do dần dần trở thành thiết chế xã hội, một thành tố
không thể thiếu trong đời sống của một quốc gia. Khi trở thành một thiết chế
trong hệ thống vận hành của xã hội, thì khoa học cũng thâm nhập vào các lĩnh
vực khác nhau, ngoài kinh tế, chính trị, còn có văn hoá, tư tưởng. Chẳng hạn, khi
mô tả nhà nước Benxalem trên đảo Átlantích, Ph.Bêcơn đã cho chúng ta thấy
việc tổ chức đời sống xã hội thông qua việc cùng chung hưởng thụ thành quả
khoa học như thế nào, con người trở nên đồng thuận ra sao. Có thể thấy
Ph.Bêcơn đã lấy khoa học làm toạ độ của toàn bộ hệ thống xã hội. Người đứng
đầu nhà nước là người biết điều phối, sử dụng các thành quả khoa học vì lợi ích
chung. “Ngôi nhà Xôlômôn” là gì, nếu không phải là một thiết chế xã hội, nơi
17
quy tụ những gì ưu tú nhất từ các phát minh khoa học, rồi đưa nó vào hệ thống
xã hội với sự sắp xếp hợp lý? Các nhà khoa học bước đầu liên kết với nhau trong
nỗ lực khẳng định vị thế và sức mạnh của con người. Cũng chính ở đây thể hiện
tầm nhìn xa của ông về cái cần có trong xã hội tương lai dưới ánh sáng của tiến
bộ khoa học, kỹ thuật. Sau khi Ph.Bêcơn mất, Tây Âu đã bước sang kỷ nguyên
mới, gắn liền với những tiến bộ khoa học – kỹ thuật và những đổi thay tích cực
Có năm luận điểm cơ bản của thuyết kỹ trị được đúc kết lại, trong đó chứa
đựng những mặt tích cực lẫn những điều cần tranh luận, đặc biệt là tiêu chuẩn
của tiến bộ xã hội.
Thứ nhất, nhờ có bước ngoặt diễn ra trong lĩnh vực chọn lọc và xử lý thông
tin, trong tổ chức quản lý, mà tiến bộ khoa học – công nghệ trở nên có tính chất
vạn năng, tạo thành toạ độ của sự phát triển xã hội. Thứ hai, cách mạng khoa học
kỹ thuật đã làm cho việc biến khả năng thành hiện thực tiến triển nhanh hơn.
Chính cách mạng khoa học – kỹ thuật đã đưa đến sự thay đổi sâu sắc trong cơ
cấu sản xuất và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội, chuyển trọng tâm từ
sản xuất hàng hoá sang sản xuất phương tiện dịch vụ. Thứ ba, do chỗ chức năng
quản lý sản xuất có ý nghĩa ngày càng lớn hơn so với chiếm hữu tư bản (thời kỳ
chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh), và nhờ sự “khuếch tán” của cái cuối cùng
(phân ra những xí nghiệp vừa và nhỏ gắn với sự phổ biến tư bản cổ phần), vấn đề
sở hữu mất đi tính chất gay gắt trước đây và tác động ngày càng ít hơn đến quá
trình phát triển xã hội. Thứ tư, kết quả của những biến đổi do cách mạng khoa
học – kỹ thuật mang lại là, trong cơ cấu xã hội, những người lao động trí óc bắt
đầu chiếm ưu thế. Thứ năm, những thay đổi trong cơ cấu xã hội dẫn đến những
thay đổi trong nội dung quyền lực nhà nước: các nhà chuyên môn, giới “thượng
lưu xã hội” trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị.
Trong năm luận điểm đó, có những luận điểm mang tính gợi mở tích cực,
chẳng hạn luận điểm về vai trò của khoa học – công nghệ trong đánh giá trình độ
phát triển của các nước, hay luận điểm về tỷ trọng cao của dịch vụ, về vai trò của
các chuyên gia kỹ thuật, về sự thay đổi cơ cấu xã hội. Song cách tiếp cận kỹ trị
vẫn còn nét phiến diện, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể và mang tính áp đặt khiên
cưỡng. Nó không khác gì cách tiếp cận của Ph.Bêcơn về một xã hội lý tưởng dựa
trên việc sử dụng thành quả khoa học, nhưng lại không xác định chủ thể thực sự
của nó và những hệ lụy xã hội từ tiến bộ khoa học.
3.1.2. Thuyết hội tụ
Thuyết hội tụ (Theory of Convergence), theo tiếng Latinh, Convergo có
nghĩa là tương đồng, làm cho gần nhau, hợp lại với nhau) là một quan niệm triết
cao quyền lực của tri thức, khoa học, kỹ thuật và công nghệ, coi đó là chìa khoá
vạn năng để giải quyết những vấn đề chung của xã hội. Rõ ràng trong lý luận về
vai trò của tri thức khoa học, hiệu quả xã hội do tri thức khoa học đem đến cách
tiếp cận kỹ trị, xuất phát từ Ph.Bêcơn, kế thừa, phát triển phổ biến trong thuyết
kỹ trị hiện đại không tránh khỏi những phiến diện, lệch lạc. Tuy nhiên, xét một
cách tổng thể, sự gợi mở của Ph.Bêcơn cũng như cách đặt vấn đề của các nhà kỹ
trị cận đại cũng như của Ph.Bêcơn về vai trò của tri thức có ý nghĩa thiết thực
trong thời đại ngày nay – thời đại kinh tế tri thức.
3.2. Kinh tế tri thức – từ dự báo của Ph.Bêcơn đến hiện thực trong
thời đại ngày nay
3.2.1. Kinh tế tri thức – xu thế phát triển tất yếu trong thời đại ngày nay
Một trong những nét đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng khoa học – công
nghệ hiện đại là cuộc cách mạng tri thức, là cuộc cách mạng trong công nghệ, kỹ
thuật, kinh tế và cũng là cuộc cách mạng trong các khái niệm. Với cách mạng tri
thức, con người dễ dàng truy cập, khai thác, sử dụng tri thức mới vào mục đích
phát triển. Việc tạo ra, truy cập, sử dụng tri thức trở thành một yếu tố cơ bản nhất
20
của cạnh tranh toàn cầu. Vì thế, trên thực tế, nền kinh tế tri thức đang được xác
lập. Điều đó khẳng định vai trò của tri thức trong thực tiễn.
Để gọi tên nền kinh tế mới đang hình thành và phát triển, trên thế giới đã sử
dụng nhiều thuật ngữ khác nhau, như:
Nền kinh tế số (Digital Economy) hoặc nền kinh tế mạng (Network
Economy) nhằm nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin, của việc tạo ra và
truyền tải thông tin so với sản xuất và phân phối hàng hóa vật chất và dịch vụ
thông thường; Nền kinh tế thông tin (Information Economy) nhấn mạnh yếu tố
quan trọng hàng đầu hiện nay trong phát triển kinh tế - xã hội không phải là tài
nguyên vật thể mà là thông tin – tri thức; Nền kinh tế học hỏi (Learning
Economy) nhấn mạnh đến yêu cầu học tập, vai trò của giáo dục với việc nâng
cao trình độ và làm giàu tri thức của mỗi thành viên xã hội nhằm góp phần tích
cực vào phát triển kinh tế - xã hội; Nền kinh tế mới (New Economy) nhấn mạnh
3.2.2. Vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh thế giới chuyển mình mạnh mẽ đi vào kinh tế tri thức, nước
ta muốn phát triển tất yếu phải xây dựng kinh tế tri thức. Để phát triển kinh tế tri
thức, Việt Nam phải hội đủ các điều kiện cần thiết, bao gồm:
+ Ba lực lượng tham gia phát triển kinh tế tri thức đủ mạnh và có tinh thần
trách nhiệm cao, gồm Nhà nước và đội ngũ doanh nghiệp mạnh, đội ngũ trí thức
có trình độ cao và có lòng yêu nước nồng nàn, và lực lượng lao động sáng tạo.
+ Cơ cấu kinh tế điều chỉnh theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Chú
trọng lĩnh vực tư vấn, thiết kế, tham gia phân phối sản phẩm là những lĩnh vực
mang lại giá trị lớn.
+ Nhanh chóng tham gia hệ thống sáng tạo toàn cầu, hình thành những trung
tâm nghiên cứu khoa học công nghệ cao và xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh,
hợp tác hữu hiệu với các trung tâm sáng tạo quốc tế.
+ Đảm bảo đủ nguồn lực đáp ứng nhu cầu của kinh tế tri thức, bao gồm
nguồn lực trong nước và nước ngoài. Trong đó, việc sử dụng nguồn lực cho
nghiên cứu khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng đội
ngũ trí thức vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế tri thức.
Nước ta muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần hình thành bốn trụ cốt
chính:
Thứ nhất, có nền giáo dục tiên tiến đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng quốc
tế để đáp ứng nhu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, năng động sáng
tạo, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng. Hình thành chế độ học tập suốt
đời, xã hội học tập.
Thứ hai, năng lực khoa học, công nghệ đủ mạnh để cho ra đời những sản
phẩm khoa học công nghệ, có khả năng phát minh sáng chế, có đội ngũ cán bộ
khoa học năng động sáng tạo, đủ sức làm chủ các thành tựu khoa học công nghệ
mới, ứng dụng nhanh vào thực tiễn; có khả năng sáng tạo những công nghệ mới
cần thiết cho đất nước. Thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo trên phạm vi quốc
gia.
22
chiến lược đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo định hướng phát triển
kinh tế tri thức, nhất là chưa phát triển thị trường vốn hoàn chỉnh để tạo kênh dẫn
vốn cho doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ.
Chiến lược phát triển kinh tế của nước ta hiện nay là dựa vào tri thức. Nội
dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta là vận dụng các yếu tố của kinh
tế tri thức. Trên cơ sở đó, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ chủ yếu
23
của đất nước là “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng
nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức”
4
.
Một số giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam:
Thứ nhất, nhà nước cần đổi mới cơ chế quản lý và chính sách, tạo lập khuôn
khổ pháp lý mới, cải cách hành chính. Trước tiên, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế
quản lý kinh tế, tạo môi trường hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành
mạnh, công khai, minh bạch, có trật tự, kỷ cương; nhà nước đảm bảo môi trường
pháp lý hữu hiệu, hiệu quả mà trong đó các ngành kinh tế phát triển dựa trên
khoa học và công nghệ; nhà nước bảo đảm hình thành và phát triển hệ thống đổi
mới quốc gia nhằm hỗ trợ và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Cần
phải thiết lập khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, cần nhanh chóng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nền
tảng cơ bản nhất của kinh tế tri thức. Trước hết, xây dựng và phát huy đội ngũ trí
thức và công nhân tri thức, lực lượng tiên phong và chủ lực để phát triển kinh tế
tri thức. Do đó, cần phải cải cách triệt để nền giáo dục để nhanh chóng đào tạo
nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức. Nhà nước đầu tư để phát triển giáo dục, coi
việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư
phát triển, đổi mới cơ bản chính sách tài chính cho giáo dục. Giáo dục, đào tạo
phải có môi trường xã hội thuận lợi, sử dụng và đãi ngộ đúng năng lực và thoả
Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ trong phương thức sản xuất là những đột phá về
mặt đời sống tinh thần, thể hiện sự đoạn tuyệt với chế độ phong kiến nặng nề và
những uy quyền trung cổ đã từng phong toả, kìm hãm lý trí con người. Nhiều
nhà tư tưởng đã mở đường cho tinh thần mới của thời đại, mà Ph.Bêcơn là một
trong những người tiên phong và có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử nhân loại.
Sau gần 400 năm, tinh thần triết học mới của Ph.Bêcơn đã trở thành hiện
thực. Những tư tưởng mà ông đề xướng đã ảnh hưởng sâu sắc và chi phối sự phát
triển của nhận thức và thúc đẩy xã hội phát triển, kể từ cuộc cách mạng biến đổi
nước Anh thế kỷ XVII, cho đến sự bùng nổ của các cuộc cách mạng công
nghiệp, kỹ thuật, công nghệ, dẫn đến sự ra đời kinh tế tri thức. Như đã đề cập,
Ph.Bêcơn không phải là người trực tiếp khởi xướng kinh tế tri thức, nhưng những
gợi mở đầy khát vọng, quyết liệt, mạnh mẽ của ông về tri thức khoa học, phục
hồi khoa học, phương pháp nhận thức khoa học, về ứng dụng tri thức khoa học
trong đời sống, về tiến bộ xã hội…đã được triển khai không ngừng trong dòng
chảy lịch sử của nhân loại, mở ra thời đại hiện đại của văn minh trí tuệ, của kinh
tế tri thức. Khát vọng về một xã hội tốt đẹp dựa trên sự tổ chức và ứng dụng khoa
học của Ph.Bêcơn đang hiện thực hoá ngày càng rõ nét. Kinh tế tri thức là tất yếu
trên con đường phát triển của nhân loại. Tiến hành xây dựng và phát triển kinh tế
tri thức, chúng ta trân trọng tư tưởng của Ph.Bêcơn trên tinh thần kế thừa, học
hỏi và vận dụng theo quan điểm lịch sử – cụ thể, gắn lý luận với thực tiễn và
phương pháp luận biện chứng mácxít. Đứng trước nhu cầu phát triển của đất
nước, Đảng và Nhà nước luôn có những chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng
tạo, cùng với sự đồng thuận của xã hội, nước ta sẽ sớm đi vào kinh tế tri thức.
25
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN