ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC DỰ ÁN
CẤP NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ NHỎ
(Nghiên cứu Chương trình cấp nước Phần Lan
tại Hải Phòng và Bắc Cạn) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC 1
Mục lục
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 4
1. Đặt vấn đề 4
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
2.1. Ý nghĩa khoa học 5
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 5
3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 6
3.1. Mục đích nghiên cứu 6
3.2. Mục tiêu nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
5.1. Phương pháp chọn mẫu 7
5.2. Phương pháp thu thập thông tin 7
5.2.1. Các phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong khuôn khổ dự án 7
5.2.1.1 Thảo luận nhóm 7
5.2.1.2. Phỏng vấn cấu trúc 8
5.2.1.3. Phỏng vấn bán cấu trúc 8
5.2.2. Các phương pháp thu thập thông tin được chính tác giả sử dụng 8
5.2.2.1. Phƣơng pháp quan sát 8
5.2.2.2. Phƣơng pháp phỏng vấn bán cấu trúc 8
5.2.2.3. Nghiên cứu tài liệu 9
5.3. Phương pháp xử lý thông tin 9
6. Câu hỏi nghiên cứu 9
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Khung lý thuyết ……………………………………………………………………… 10
2.3. Thảo luận 65
2.3.1. Phụ nữ trong dự án “cấp nước cho các thị trấn nhỏ Việt Nam” tham gia 65
2.3.2. Những yếu tố rào cản và thúc đẩy phụ nữ tham gia vào dự án cấp nước 67
KẾT LUẬN 69
1. Kết luận 69
2. Những ngụ ý về mặt chính sách 71
Tài liệu tham khảo 72
Phụ lục 77
Hình 1.3: Chu trình của một dự án đầu tƣ xây dựng 26
Hình 1.4: Các bƣớc trong giai đoạn lập dự án đầu tƣ xây dựng 27
Hình 2.1: Những thông tin về dự án mà ngƣời dân nghe và biết 29
Hình 2.2: Tỉ lệ hình thức mong muốn đóng góp vào việc xây dựng nhà máy nƣớc (%) 35
Hình 2.3: Tỉ lệ các hình thức đóng góp tham gia xây dựng nhà máy nƣớc (%) 35
Hình 2.4: Việc tuyên truyền của phụ nữ trong khu vực dự án 37
Hình 2.5: Các hình thức tham gia của phụ nữ trong dự án cấp nƣớc nhỏ 44
Hình 2.6: Mức thang tƣơng ứng với sự tham gia của nam giới và phụ nữ vào dự án 66
Hình 2.7: Mức thang tham gia vào các giai đoạn của dự án của nam giới và phụ nữ 66
4
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa, nhiều dự án đầu tƣ liên tục đƣợc các nhà
tài trợ nƣớc ngoài thực hiện nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng trong công
cuộc đổi mới. Trong đó, lĩnh vực cấp nƣớc và vệ sinh là một trong những lĩnh vực đƣợc
các nhà tài trợ nhƣ Ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á (ADB), cơ
quan phát triển Đan Mạch (DANIDA), bộ ngoại giao Phần Lan (FINIDA),…quan tâm
hàng đầu.
Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trƣớc, nƣớc bạn Phần Lan đã có
những chƣơng trình hỗ trợ chuyên về ngành nƣớc cho các khu vực đô thị, trong đó phải
kể đến việc thủ đô Hà Nội có một hệ thống cấp nƣớc máy nhƣ ngày hôm nay một phần
rất lớn nhờ vào sự hỗ trợ của nƣớc bạn Phần Lan.
Tiếp tục chƣơng trình hợp tác giữa hai quốc gia, chính phủ Phần Lan viện trợ
không hoàn lại dự án cấp nƣớc và vệ sinh cho 8 thị trấn nhỏ tại 4 tỉnh giai đoạn 2003-
2008, trong đó xây dựng hai công trình cấp nƣớc tập trung cho hai thị trấn Nà Phặc (tỉnh
Bắc Cạn) và thị trấn Tiên Lãng (thành phố Hải Phòng), nhằm nâng cao sức khỏe và cải
thiện mức sống của các thành viên trong cộng đồng. Dự án đặt ra rất nhiều mục tiêu, một
trong các mục tiêu đó là bình đẳng giới. Phụ nữ là một trong những đối tƣợng đƣợc dự án
Qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu phần nào giúp các
nhà hoạch định chính sách nói chung và các nhà lập dự án phát triển tại Việt Nam nói
riêng có những chính sách cụ thể nhằm giúp phụ nữ có cơ hội hơn nữa trong việc tham
gia vào các dự án phát triển và đảm bảo tính bền vững của các dự án.
3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng một lý thuyết về sự tham gia của phụ nữ trong các dự án
phát triển, trong đó đặc biệt liên quan đến các yếu tố thúc đẩy và yếu tố rào cản đối với
sự tham gia của phụ nữ.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu cách thức tham gia của phụ nữ trong các chu trình của dự án cấp nƣớc
+ Những biểu hiện của sự tham gia và các bƣớc tham gia của phụ nữ trong các giai
đoạn của dự án cấp nƣớc
+ Yếu tố rào cản và thúc đẩy quá trình tham gia của phụ nữ vào dự án cấp nƣớc
4. Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: sự tham gia của phụ nữ vào các dự án phát triển
- Khách thể nghiên cứu: những ngƣời phụ nữ và nam giới trong khu vực dự án
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu trong khuôn khổ dự án cấp nƣớc và vệ sinh cho các thị
trấn nhỏ Việt Nam do Bộ ngoại giao Phần Lan tài trợ, tại hai thị trấn Nà Phặc (huyện
Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn) và Tiên Lãng (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng)
- Thời gian nghiên cứu:
+ Tháng 6-7/2005: tham gia khảo sát kinh tế xã hội cho dự án này tại thị trấn Tiên
Lãng và Nà Phặc
+ Tháng 1/2006: tham gia khảo sát cam kết đấu nối cho thị trấn Nà Phặc
+ Tháng 1/2007: tham gia khảo sát cam kết đấu nối cho thị trấn Tiên Lãng
+ Tháng 7/2009: phỏng vấn bán cấu trúc 30 trƣờng hợp tại 2 thị trấn
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp chọn mẫu
- Mẫu khảo sát định lƣợng:
5.2.2.1. Phương pháp quan sát
Phƣơng pháp quan sát là phƣơng pháp đƣợc tác giả sử dụng ngay từ khi tham gia
vào dự án này. Tác giả quan sát việc dùng nƣớc của phụ nữ, nguồn nƣớc ngƣời dân đang
sử dụng,… cũng nhƣ việc xây dựng nhà máy nƣớc đến đâu, thái độ của ngƣời dân tham
dự các cuộc họp/thảo luận nhóm nhƣ thế nào.
Tác giả sử dụng cả quan sát tự do (phi tiêu chuẩn) (trong thời gian tham gia dự án)
nhằm xây dựng ý tƣởng nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu; quan sát có chủ đích có bảng
kiểm. Bảng kiểm sẽ đƣợc trình bày trong phần phụ lục.
5.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Tác giả tiến hành phỏng vấn 30 trƣờng hợp cho cả 2 thị trấn. Mỗi thị trấn có 15
phỏng vấn (10 đối với nữ và 5 đối với nam).
Nếu nhƣ trong thời gian tham gia dự án, mục đích của phỏng vấn tập trung chủ
yếu vào những vấn đề dự án yêu cầu, thì 30 trƣờng hợp phỏng vấn sau này tập trung vào
sự tham gia của phụ nữ, những rào cản, trở ngại, hình thức tham gia của phụ nữ trong khu
vực dự án.
Việc lựa chọn đối tƣợng để phỏng vấn bao gồm các tiêu chí: phải là những ngƣời
tham gia vào dự án (ít nhất họ cũng đã từng đƣợc mời đi họp về dự án một lần);
Phỏng vấn này dựa trên những vấn đề đã nêu trong hƣớng dẫn phỏng vấn (Hƣớng
dẫn phỏng vấn này sẽ đƣợc nêu trong phần phụ lục).
5.2.2.3. Nghiên cứu tài liệu
Ngoài những phƣơng pháp thu thập số liệu trực tiếp nêu trên, tác giả còn sử dụng
phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu, trong đó các tài liệu đƣợc thu thập từ Internet, các thƣ
viện, các viện nghiên cứu. Ƣớc tính có khoảng 150 tài liệu xoay quanh các từ khóa: giới,
sự tham gia, phụ nữ, các dự án phát triển đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này.
Qua việc nghiên cứu tài liệu tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề nghiên
cứu và thu thập một số dữ liệu rất có ích cho nghiên cứu của mình.
5.3. Phương pháp xử lý thông tin
- Phƣơng pháp xử lý thông tin định lƣợng: toàn bộ các bảng hỏi đƣợc mã hóa và xử lý
bằng phần mềm thống kê xã hội SPSS
đình
- Ngƣời chồng
Yếu tố văn hóa xã hội:
- Chính sách của Việt Nam
- Chính sách của nhà tài trợ
- Văn hóa xã hội
Yếu tố khác:
- Địa lý và
điều kiện tự
nhiên
Sự tham gia của phụ nữ trong
dự án cấp nƣớc đô thị nhỏ
Các hình thức tham gia của
phụ nữ
Các yếu tố thúc đẩy và rào
cản đối với sự tham gia
Bối cảnh kinh tế xã hội
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1. Lý thuyết tiếp cận
Trong nghiên cứu này, cách tiếp cận lí thuyết sự tham gia để xem xét sự tham gia
của phụ nữ trong dự án cấp nƣớc ở Bắc Cạn và Hải Phòng.
Về mặt khái niệm. Tham gia là một quá trình hƣớng tới sự tham gia và chia sẻ
giữa các bên liên quan trong các hoạt động: “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó
những bên liên quan ảnh hƣởng và chia sẻ việc quản lý đối với các sáng kiến phát triển
và quyết định nguồn lực ảnh hƣởng đến chúng” [69, tr34] Anita Kelles-Viitanen (2002)
Mức độ trao quyền cho công dân
6
Đối tác
5
Xoa dịu
4
Tham vấn
Mức độ có dấu hiệu của sự tham gia
3
Cung cấp thông tin
2
Trị liệu/tâm lý
Mức độ không tham gia
1
Vận động/lôi kéo Cách tiếp cận của Brager và Specht xuất phát từ lập trƣờng của ngƣời dân để mô
tả mức độ mà họ đạt được trong tiến trình tham gia dự án.
Hình 1.2: Các mức độ của sự tham gia của Brager và Specht [70, tr62-78]
Cấp độ tham gia
Hành động của ngƣời tham gia
THẤP
Tham gia vào lập kế hoạch
- có một sự kỳ vọng lớn hơn về từ thay đổi từ những nhà tổ
chức.
Có quyền
- cộng đồng đƣợc tham gia vào trong quá trình lập cộng
đồng từ lúc lập dự án, nhƣng vẫn còn các yếu tố từ trên
xuống
Có quyền kiểm soát
- cộng đồng thực hiện cả xác định vấn đề và tìm cách giải
quyết
Sự phân chia của WB có phần đơn giản hơn. Sự tham gia gồm 4 phƣơng thức và
cấp độ nhƣ chia sẻ thông tin, tham vấn, tranh luận hoặc hợp tác và cuối cùng là trao
quyền [51, tr 32].
1.2. Tổng quan nghiên cứu
“Tham gia” là một thuật ngữ đƣợc đề cập rộng rãi trong các hoạt động chính trị,
các nghiên cứu mang tính học thuật cũng nhƣ các nghiên cứu và hoạt động của các dự án
phát triển. Ở nước ngoài, các nghiên cứu về sự tham gia nói chung và sự tham gia của
phụ nữ nói riêng cũng nhận đƣợc rất nhiều quan tâm của các học giả cũng nhƣ các tổ
chức thực hiện các dự án phát triển, đặc biệt nhƣ Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát
triển Châu Á v.v
Về mặt lí luận, các nghiên cứu từ thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã tập trung mổ
xẻ các khía cạnh của sự tham gia. Sự tham gia của cộng đồng đƣợc xem là quyền lực
công dân (Sherry R. Arnstein, 1969,1971). Arnstein đã phân chia sự tham gia thành 8 nấc
thang tƣơng ứng với 3 cấp độ, từ không tham gia tới các dấu hiệu có sự tham gia và tới
các cấp độ quyền lực công dân. Brager và Specht (1973) cũng đƣa ra một phân tích về
mức độ tham gia của cộng đồng với 7 cấp độ trên một thang hai cực, từ cực thấp là không
tham gia tới cực cao là có quyền quản lý. Nhƣ vậy, trao quyền là mục tiêu cuối cùng và là
cấp độ cao nhất cần hƣớng tới khi thực hiện quá trình tham gia của một dự án, chƣơng
trình (Xem them Ruth Alsop, Mette Bertelsen và Jeremy Holland, 2006).
nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố hạn chế và thúc đẩy sự tham gia. Đó là: Một, sự thiếu
cam kết của chính phủ đối với việc chấp nhận cách tiếp cận có sự tham gia (với nghiên
cứu của Thomas Carroll; Conrad Kottak & cộng sự); Hai, sự không sẵn lòng của các viên
chức đối với việc từ bỏ quyền lãnh đạo đối với các hoạt động và các quyết định (với
Azefor & Bradley); Ba, sự thiếu các động cơ và các kỹ năng của cán bộ dự án để giúp họ
chấp nhận cách tiếp cận có sự tham gia; Bốn, năng lực giới hạn của các tổ chức cấp địa
phƣơng (tài chính và quản lý) và sự thiếu đầu tƣ trong việc xây dựng năng lực cộng đồng
(nhƣ Kottak và cộng sự; NIACONSULT); Năm, sự tham gia đƣợc bắt đầu triển khai quá
chậm (Della McMilan và cộng sự); Sáu, sự mất tin tưởng giữa chính quyền và các bên
tham gia cấp địa phƣơng (Stephen Stern; Maria Mejia và cộng sự).
Maria Aycrigg (1998) bàn đến các lực cản về thể chế (đồng thuận quản lý; các
giới hạn nguồn lực; sự tham vấn đối với sự tham gia và bằng chứng về các giá trị thêm về
sự tham gia); các lực cản trong quốc gia (năng lực của NGO và sự cam kết của chính
quyền); những hƣởng ứng mang tính thể chế nhƣ sự đầu tƣ vào nguồn lực con ngƣời; các
thủ tục và chính sách.[54, tr 62]. Trond Vedeld (2001) xác định các các cản trở đối với sự
tham gia gồm các cản trở trong quốc gia đối với sự tham gia của ngƣời hƣởng lợi (cấu
trúc đẳng cấp của các thiết chế ở Ấn Độ; sự thiếu hụt về sự cam kết của chính phủ và
năng lực thể chế; tính đa dạng về cấu trúc, chuyên nghiệp và tổ chức; các thái độ và các
văn hóa của những viên chức; sự thiếu hụt về năng lực của NGO đối với việc quản lý quá
trình có sự tham gia; các lực cản từ năng lực địa phƣơng [66, tr 423].
So với sự tham gia chung của cộng đồng, vấn đề phụ nữ đặc biệt đặc thù nên việc
xác định các yếu tố thúc đẩy và cản trở đối với sự tham gia của phụ nữ trong dự án cũng
có những đặc thù cần đi sâu mổ xẻ hơn: “Điểm yếu chung của các tổ chức cộng đồng
trong khu vực dự án là thiếu sự lôi kéo phụ nữ tham gia, thậm chí mặc dầu hầu hết các
lãnh đạo tổ chức cảm thấy rằng phụ nữ cam kết đối với tổ chức (và dành thời gian nhiều
hơn cho sự tham gia) so với nam giới”[67, tr7]. (Conrad Kottak – Chƣơng trình phát triển
nông thôn bắc Brazil).
Một nghiên cứu khác của Ngân hàng thế giới (1994) khi tập trung mổ xẻ các giới
hạn đối với phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế nhƣ khoảng cách giới đang tồn tại
trong giáo dục, sức khỏe; rào cản liên quan đến cán bộ dự án nơi mà phụ nữ bị giới hạn
Đỗ Hậu (2000) phân tích sự tham gia của cộng đồng đối với việc quy hoạch đô thị và
phân chia sự tham gia của cộng đồng thành 4 giai đoạn theo chu trình dự án. Nguyễn
Khánh Bích Trâm (2001) xuất phát từ quan điểm giới để phân tích tác động của các
chƣơng trình tín dụng đối với các phụ nữ nghèo. Nguyễn Thu Nguyệt (2004) cho rằng
các yếu tố cản trở phụ nữ tham gia trong xóa đói giảm nghèo là tập quán, sự thiếu tôn
trọng phụ nữ, địa vị thấp kém trong gia đình, khối lƣợng công việc nhà lớn…Lê Thị Quý
(2004) cho biết nguyên nhân cản trở phụ nữ tham gia vào chƣơng trình của dự án là: 1)
Nam giới thƣờng là chủ hộ; 2) Phong tục; 3) Phụ nữ chỉ đi họp về kế hoạch hóa gia đình;
4) Phụ nữ bận các công việc gia đình; 5) Sự hạn chế về trình độ văn hóa và hiểu biết về
tiếng Kinh; 6) Định kiến xã hội đối với nữ giới. Các nhóm chuyên gia của WB ở Việt
Nam thƣờng xuyên tiếp cận từ góc độ sự tham gia. Các báo cáo đánh giá đói nghèo sử
dụng cách tiếp cận có sự tham gia (Xem WB, 2003, 2004, 2005) hoặc Lê Ngọc Hùng
(2003) về sự hội nhập giới chỉ rõ sự tham gia của phụ nữ vào quá trình chuẩn bị và thực
hiện dự án.
Kết lại, chúng ta có thể tóm lƣợc tình hình nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ
ở Việt Nam với mấy đặc điểm: 1) Các nghiên cứu về giới tƣơng đối đa dạng, với nhiều
chủ đề, đặc biệt là vấn đề bạo lực giới, bất bình đẳng giới; 2) Các nghiên cứu về sự tham
gia chỉ đƣợc đề cập trên cấp độ cộng đồng nói chung, chƣa đề cập nhiều tới sự tham gia
của phụ nữ với nhiều đặc thù của nhóm đối tƣợng này; 3) Các nghiên cứu về phụ nữ và
giới, cũng đã chỉ ra đƣợc các vấn đề tham gia của phụ nữ, nhƣng chƣa thể hiện đƣợc cách
tiếp cận lí thuyết về sự tham gia nhƣ các nấc thang của việc tham gia, các yếu tố cản trở
và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ…
Tóm lại, trên những thiếu sót của các nghiên cứu về giới và sự tham gia Việt Nam
cũng nhƣ sự xuất hiện ngày càng nhiều các dự án phát triển nhƣ hiện nay, tác giả cho
rằng nhu cầu nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong sự tham gia chung là một bổ
sung hợp lý và cần thiết đối với vấn đề giới. Do vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu về vấn
đề “Sự tham gia của phụ nữ trong dự án phát triển. Nghiên cứu trƣờng hợp dự án cấp
nƣớc tại thị trấn Tiên Lãng – Hải Phòng và thị trấn Nà Phặc – Bắc Cạn”.
1.3. Các khái niệm công cụ
+ Dự án phát triển: là những dự án đƣợc xây dựng nhằm phục vụ cho đời sống của
thƣờng cũng cao hơn so với mật độ dân số tại các xã [65].
+ Sự tham gia : “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó, những bên liên quan
ảnh hƣởng và chia sẻ việc quản lý đối với việc phát triển các sáng kiến , các quyết định
và nguồn lực ảnh hƣởng đến chúng [69, tr30].
Trong tiếp cận tham gia, tham vấn và lắng nghe đƣợc xem là điều kiện tiên quyết
thiết yếu cho sự tham gia. Sự tham gia “phổ biến” là sự tham gia của ngƣời nghèo và
những ngƣời thiếu điều kiện thuận lợi về mặt sức khỏe, giáo dục, mang tính sắc tộc và
giới [69, tr 6].
+ Bình đẳng giới: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
đƣợc tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng
đồng, của gia đình và thụ hƣởng nhƣ nhau về thành quả của sự phát triển đó [65].
Bình đẳng giới có thể hiểu là sự ngang bằng về mặt cơ hội giữa nam giới và phụ
nữ trong quá trình phát triển.
Ngƣợc lại, bất bình đẳng giới có thể đƣợc hiểu là sự không ngang bằng giữa nam
giới và phụ nữ trong quá trình phát triển.
+ Định kiến giới: Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu
cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [65].
1.4. Các chính sách và bối cảnh xã hội của các chính sách về sự tham gia
1.4.1. Các chính sách của Việt Nam
Có thể nói, Việt Nam là một trong những nƣớc bị ảnh hƣởng bởi những tƣ tƣởng
Nho Giáo khá nặng nề. Việc “trọng nam khinh nữ” là một trong những hậu quả của quá
trình ảnh hƣởng đó.
Ngƣời phụ nữ Việt Nam thời phong kiến không có quyền hành gì đáng kể trong
gia đình và xã hội. Những quyết định đều do ngƣời đàn ông đảm nhận. Phụ nữ chỉ đảm
nhận vai trò “phụ” trong những quyết định của nam giới. Sự ra đời của pháp luật nƣớc
Việt Nam dân chủ cộng hòa (từ hiến pháp năm 1946 đến hiến pháp năm 1992) đã có
nhiều điều khoản bảo vệ quyền của ngƣời phụ nữ.
Để nâng cao các quyền về kinh tế cho nữ giới, Quốc hội Việt Nam đã thông qua
Luật Sửa đổi đất đai năm 2003, trong đó có ghi rõ tất cả các giấy tờ liên quan đến quyền
sử dụng đất đều phải đƣợc cấp bao gồm tên của cả vợ và chồng.
trong xóa đói giảm nghèo và thực hiện cam kết thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh
vực. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) của Việt
Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên 105 trong số 177 nƣớc, chỉ số giới (GDI) đạt tăng
hạng từ 109/177 nƣớc lên 91/157, chỉ số khoảng cách giới đạt mức 0,678- đứng vị trí thứ
68 trong số 130 nƣớc và trở thành quốc gia đạt đƣợc sự thay đổi nhanh chóng nhất trong
xóa bỏ khoảng cách giới trong vòng 20 năm trở lại đây ở khu vực Đông Á [65].
Tuy nhiên, do ảnh hƣởng nặng nề của chế độ xã hội cũ nên dù chủ ý hay vô tình,
ngƣời phụ nữ cũng vẫn chỉ là “cái bóng” của nam giới trong gia đình cũng nhƣ ngoài xã
hội . Điều này thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, văn hóa, tham gia quản lý,
hoạt động xã hội.
1.4.2. Các chính sách về sự tham gia và các chính sách về giới của các nhà tài trợ
quốc tế
Có thể nói, để đƣợc các tổ chức nƣớc ngoài tài trợ cho những khoản tiền ƣu đãi
trong các dự án phát triển, các cơ quan hành chính của Việt Nam phải chịu “áp lực” nhất
định trong việc phải tuân theo những quy định chặt chẽ về mặt môi trƣờng và xã hội của
các nhà tài trợ. Việc đảm bảo an toàn về xã hội là một trong những “chính sách” mà các
tổ chức nƣớc ngoài quan tâm nhất.
1.4.2.1 Các chính sách về sự tham gia
Trong Tài liệu chiến lƣợc về giảm nghèo (PRSPs), quá trình tham gia bao gồm các
tài liệu, thảo luận và đàm phán trong các chƣơng trình thực hiện, và giám sát đánh giá có
sự tham gia hiệu quả nhất khi chúng đƣợc thiết kế theo “định hƣớng kết quả”. Kết quả
của chiến lƣợc giảm nghèo không chỉ nằm trên giấy mà còn là hành động của cả cộng
đồng mục đích để giảm nghèo. Do đó, việc xây dựng tiến trình có sự tham gia, điều quan
trọng là giữ đƣợc nguyên tắc tiếp cận dựa trên kết quả đã đƣợc xác định ngay từ đầu và
việc bố trí về mặt thể chế hỗ trợ họ có thể có ảnh hƣởng lâu dài thông qua việc lập chính
sách và thực hiện.Quá trình tham gia không đầy đủ có thể dẫn đến những khuyến nghị
chung chung không rõ ràng và có thể ảnh hƣởng đến những chính sách chống đói nghèo.
Ngƣợc lại, cách tiếp cận dựa trên kết quả cho phép sự tham gia đƣơc xây dựng theo cách
mà tất cả các bên liên quan cảm thấy có mình trong đó, có quyền sở hữu và có thể ảnh
hƣởng đến tiến trình. Hơn nữa, họ cho phép quá trình tham gia đƣợc dựa trên nội dung