Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 1945 - 1954 - Pdf 25

Đại học Quốc gia hà nội
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Thị Phương Hoa Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
giai đoạn 1945-1954 Luận văn thạc sĩ Đông phương học
Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
giai đoạn 1945-1954

Chuyên ngành : Trung Quốc học
Mã số :

Luận văn thạc sĩ Đông phương học

Người hướng dẫn khoa học
TS. Đỗ Tiến Sâm

Hà Nội 10-2005

1.1.1 Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc
11
1.1.2. Từ năm 938 đến năm 1858
14
1.1.2.1. Quan hệ giữa hai nhà nước phong kiến
14
1.1.2.2. Quan hệ trao đổi buôn bán giữa hai nước
17
1.2. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ Pháp thuộc
19
1.2.1. Từ năm 1858 đến những năm 20 của thế kỷ XX
19
1.2.1.1. ảnh hưởng và giúp đỡ của những nhà cách mạng Trung
Quốc đối với Việt Nam
19
1.2.1.2. Tình hữu nghị của nhân dân ta dành cho cuộc đấu tranh
của nhân dân Trung Quốc
22
1.2.2. Từ những năm 20 đến năm 1945 của thế kỷ XX
24
1.2.2.1. Hoạt động của những nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc
24
1.2.2.2. Tinh thần quốc tế vô sản của những người cộng sản Việt Nam
26
Chương 2
Quan hệ Việt - Trung từ năm 1945 đến năm 1949

31
2.1. Tình hình Việt Nam, Trung Quốc và thế giới
31

60
3.1.2. ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao
61
3.2. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong các lĩnh vực
64
3.2.1. Quan hệ chính trị, quân sự
64
3.2.1.1. Quan hệ chính trị
64
3.2.1.2. Viện trợ của Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống
Pháp của Việt Nam
67
3.2.1.3. Đóng góp của Trung Quốc trong Hội nghị Giơnevơ về vấn
đề giải quyết chiến tranh ở Đông Dương
72
3.2.2. Quan hệ kinh tế, thương mại
76
3.2.3. Quan hệ giao thông vận tải, thông tin liên lạc
81
3.2.4. Quan hệ giáo dục văn hoá
83
Kết luận
88
Phụ lục
92
Tài liệu tham khảo
107

Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc. Trong khi bản thân còn gặp rất nhiều
khó khăn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những việc làm thiết
thực để ủng hộ nhân dân Trung Quốc, ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc
trong cuộc nội chiến.
Ngày 18-1-1950, Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao, bắt đầu thời kỳ lịch sử hiện đại trong quan hệ hai nước. Từ
đây, hai bên có điều kiện tăng cường và mở rộng quan hệ với nhau một
cách công khai, trên mọi lĩnh vực với tư cách là hai Nhà nước có chủ
quyền.
Quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1945-1954, tức là từ sau khi nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến khi kháng chiến chống Pháp thành
công, là những năm tháng đáng nhớ trong ký ức các tầng lớp nhân dân Việt
Nam, đặc biệt là lớp người trưởng thành trong Cách mạng tháng Tám và
kháng chiến chống Pháp. Nếu xét giai đoạn này trong cả chặng đường phát
triển của quan hệ Việt - Trung thì đây là giai đoạn mở đầu cũng là giai
đoạn quan hệ hai nước ở thời kỳ tốt đẹp nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khái quát mối quan hệ trong thời kỳ này là: “Mối tình thắm thiết Việt -
Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”. “Đồng chí” là bởi Việt Nam và
Trung Quốc đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cùng xây dựng và phát triển
đất nước theo con đường XHCN, do đó về mặt tính chất, quan hệ Việt -
Trung trong thời kỳ lịch sử hiện đại khác hẳn so với quan hệ hai nước trong
tất cả các thời kỳ lịch sử trước đây. “Anh em” là bởi Đảng Cộng sản và
nhân dân Trung Quốc đã dành sự giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần
cho cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của nhân dân ta trong lúc
nước Trung Quốc mới mới thành lập còn khó khăn mọi bề. “Anh em, đồng
chí” còn bởi giữa lãnh đạo của hai nước thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí

3
Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai có mối quan hệ
gắn bó, thân thiết được xây dựng từ những ngày tháng cùng hoạt động ở

Quốc trong 30 năm qua. Cuốn Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự
kiện 1945-1954 trình bày các sự kiện của quan hệ hai nước trong thời gian
này khá đầy đủ, rõ ràng nhưng đó là một cuốn biên niên lịch sử, vì thế
không có đánh giá, nhận xét. Còn cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc trong 30 năm qua của Bộ Ngoại giao, xuất bản năm 1979 khi
quan hệ hai nước ở đỉnh điểm của bất hoà nên một số đánh giá, nhận xét
trong cuốn sách không tránh khỏi thiên lệch.
Ngoài ra, quan hệ Việt - Trung giai đoạn này cũng được đề cập rải rác,
trên từng lĩnh vực trong một số cuốn sách. Có thể chia làm mấy lĩnh vực
chủ yếu sau:
Về lĩnh vực quan hệ chính trị, ngoại giao: Cuốn Ngoại giao Việt Nam
1945-1954 đề cập đến những sự kiện chính của quan hệ hai nước trong các
hoạt động ngoại giao chung của Việt Nam. Cuốn này không có phần riêng
viết về quan hệ giữa nước ta với từng nước, trong đó có Trung Quốc.
Về lĩnh vực kinh tế, thương mại: Quan hệ kinh tế thương mại giữa hai
nước giai đoạn này được nhắc đến trong một số sách chuyên về kinh tế.
Cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 của Đặng Phong nêu lên một số
sự kiện về quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước trong thời kỳ 1945-
1954, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số nhận xét, đánh giá tuy ngắn
nhưng có giá trị khái quát cao. Cuốn Buôn bán qua biên giới Việt - Trung
lịch sử, hiện trạng, triển vọng do Nguyễn Minh Hằng chủ biên đề cập đến
quan hệ thương mại giữa hai nước thời kỳ này tỉ mỉ hơn với hai phần: Quan

5
hệ thương mại từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đến khi nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 và giai đoạn 1950-1954.
Về lĩnh vực quân sự: Đây là lĩnh vực được đề cập đến nhiều nhất và
kỹ lưỡng nhất vì nó liên quan đến sự giúp đỡ, viện trợ của Trung Quốc
dành cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Lịch sử cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 cũng như Tổng kết cuộc

đến năm 1978, từ sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, và đến giai
đoạn bình thường hoá. Trong phần viết về quan hệ Trung - Việt thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, tác giả đã nêu lên ý nghĩa của việc hai nước thiết
lập quan hệ ngoại giao và một số vấn đề của quan hệ Trung - Việt trong
thời kỳ kháng chiến chống Pháp như chiến dịch Biên giới, chiến dịch Điện
Biên Phủ và quan hệ Trung - Việt, ý nghĩa của việc ký kết hiệp định
Giơnevơ năm 1954 và quan hệ Trung - Việt. Ngoài ra, tác giả đã khái quát
những đặc điểm của quan hệ hai nước trong thời kỳ này. Bên cạnh cuốn
sách này, cuốn Biên tuyển tư liệu về quan hệ Trung - Việt hiện đại tập hợp
tất cả những văn kiện, bài báo viết về quan hệ hai nước kể từ sau khi thiết
lập quan hệ ngoại giao cũng có giá trị lớn về mặt tư liệu.
Những tài liệu viết về quan hệ Trung - Việt trong giai đoạn từ khi thiết
lập quan hệ ngoại giao đến năm 1954 cũng khá nhiều. Tất cả các cuốn sách
viết về ngoại giao của Trung Quốc được xuất bản trong các năm như Lịch
sử ngoại giao nước CHND Trung Hoa 1949-1956 của Bùi Kiên Chương,
Lịch sử ngoại giao Trung Quốc của Ngô Đông Chi, Lịch sử ngoại giao
Trung Quốc mới của Hoàng An Dư đều có mục riêng về quan hệ Trung
Quốc - Việt Nam, nêu lên khái quát những sự kiện chính trong quan hệ hai
nước. Ngoài ra cuốn Quan hệ Trung Quốc với các nước xung quanh của
Đường Hi Trung cũng đề cập nhiều đến quan hệ Trung Quốc với Việt
Nam.

7
Ngoài ra, một vấn đề được Trung Quốc đặc biệt quan tâm đó là viện
trợ của Trung Quốc dành cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của
Việt Nam. Vì thế, có một số lượng đáng kể công trình chuyên viết về vấn
đề này như Cuộc chiến tranh đầu tiên sau ngày thành lập nước - Những bí
mật trong cuộc viện trợ Việt Nam chống Pháp, quyết thắng Điện Biên Phủ
của Trần Chí Bân, Thực lục chiến tranh Việt Nam của Giải Lực Phu, Sự
thực lịch sử về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam kháng

hội nghị này. Việc nghiên cứu vấn đề này đã đạt đến trình độ sâu sắc nhất
định. Bài Mao Trạch Đông và chiến tranh Đông Dương của Dương Khuê
Tùng và bài Sự khác biệt về sách lược của Trung Quốc và Việt Nam trong
chiến tranh Đông Dương của Khúc Tinh trong cuốn Trung Quốc và chiến
tranh Đông Dương nhiều lần đề cập đến chính sách Đông Dương của
Trung Quốc trước và sau Hội nghị Giơnevơ cũng như việc giải quyết vấn
đề hoà bình ở Đông Dương. Tác phẩm 50 năm ngoại giao Trung Quốc của
Khúc Tinh hay Diễn biến 40 năm quan hệ Trung - Việt của Quách Minh
cũng trình bày và phân tích khá kỹ về đóng góp của Trung Quốc trong việc
ký kết Hiệp định đình chiến ở Đông Dương.
Có thể nói, các học giả Trung Quốc đã dành sự quan tâm nhất định đối
với quan hệ Trung - Việt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên
những tài liệu này vẫn còn những chỗ phản ánh không đúng sự thực lịch
sử, thông qua đó chúng ta có thể thấy đánh giá, nhìn nhận của các học giả
Trung Quốc đối với vấn đề này.
Các học giả nước ngoài cũng khá quan tâm đến quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc thời kỳ từ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho
đến khi ký kết Hiệp định đình chiến ở Đông Dương. Có thể kể ra đây hai

9
tác phẩm tiêu biểu, được hầu hết các học giả phương Tây tham khảo khi
nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung đó là Trung Quốc với việc giải quyết
cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Francois Joyaux và Việt
Nam và Trung Quốc của King C. Chen. Tác phẩm của Francois Joyaux đã
nghiên cứu tỉ mỉ, có những nhận định sắc bén, cung cấp cho người đọc Việt
Nam cái nhìn khách quan của một học giả nước ngoài về việc Trung Quốc
giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dương thông qua Hội nghị Giơnevơ.
Còn cuốn Việt Nam và Trung Quốc thì đề cập đến những nét nổi bật trong
quan hệ Việt - Trung từ năm 1938 đến năm 1954.
Từ việc điểm qua tình hình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh và
biên niên sự kiện.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn chia làm
3 chương:
Chương 1: Khái quát quan hệ Việt - Trung trước năm 1945
Chương 2: Quan hệ Việt - Trung từ năm 1945 đến năm 1949
Chương 3: Quan hệ Việt - Trung từ năm 1950 đến năm 1954

11
Chương 1
Khái quát lịch sử quan hệ việt - trung trước năm 1945
1.1. quan hệ việt nam - Trung Quốc trước thời pháp thuộc
1.1.1. Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc
Ngay từ rất sớm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đã có con
người sinh sống. Trải qua văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá Đồng Đậu, văn
hoá Gò Mun đến văn hoá Đông Sơn với chặng đường gần 2000 năm, con
người Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế nguyên thuỷ với công cụ sản xuất
bằng đá là phổ biến sang một nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề. Đến
thời kỳ văn hoá Đông Sơn toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn của sông
Hồng, sông Mã, sông Cả đã được khai phá căn bản với những làng xóm
đông đúc, hệ thống giao thông, thủy lợi khá phát triển. Cùng với tình trạng
phân hóa xã hội do sức sản xuất phát triển và nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu tự
vệ chống ngoại xâm, vào thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, nhà nước
Văn Lang, nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đã ra đời.

hoàn toàn dấu vết của đất nước Âu Lạc xưa, đồng hoá và sáp nhập hẳn vào
lãnh thổ Trung Quốc. Qua các đời, chính sách đô hộ, đồng hoá ngày càng
thâm độc và tinh vi hơn.
Khi chính sách đô hộ, bóc lột của kẻ thống trị càng nặng nề thì phong
trào khởi nghĩa đấu tranh chống ách đô hộ càng mạnh mẽ, liên tiếp nổ ra.
Đó không chỉ là sự phản kháng bình thường mà là biểu hiện của lòng yêu
nước, tinh thần dân tộc, chống đồng hoá. Những cuộc khởi nghĩa lúc ngấm
ngầm, lúc công khai, lúc thành công, lúc thất bại nhưng diễn ra liên tục, thu
hút đông đảo nhân dân tham gia. Từ cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, các
tầng lớp nhân dân ta ở khắp nơi đều không ngừng nổi dậy đấu tranh đánh
đuổi quân xâm lược, hết giặc Ngô, giặc Tấn, giặc Tống, giặc Lương cho

13
đến Tuỳ, Đường. Cuối cùng, cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đã đánh tan
cuộc tiến công xâm lược của quân Nam Hán. Chiến thắng lừng lẫy trên
sông Bạch Đằng là một mốc son trong lịch sử, chấm dứt vĩnh viễn nền đô
hộ trên 10 thế kỷ của phong kiến phương Bắc.
Trong giai đoạn lịch sử này, không chỉ nổi bật quan hệ Bắc thuộc và
chống Bắc thuộc mà còn có một dòng chảy khác, tuy âm thầm nhưng bền
bỉ và cũng có vai trò không nhỏ trong việc duy trì, giữ gìn và phát huy sức
sống của dân tộc: đó là chống đồng hoá. Cuộc chiến này tuy âm thầm
nhưng cũng không kém phần quyết liệt so với chống giặc ngoại xâm.
Cùng với việc huỷ hoại nền văn hoá bản địa, phong kiến phương Bắc
từng bước, qua từng triều đại thực hiện truyền bá lối sống, văn hoá Hán vào
nước ta. Sự truyền bá đó diễn ra theo hai con đường: con đường chính
thống từ triều đình và nho sĩ và con đường dân gian. Hai con đường này
một là truyền bá cưỡng bức qua bọn quan lại đô hộ hành chính và một là sự
truyền bá ôn hoà qua giao lưu kinh tế văn hoá của cư dân Trung Quốc sang
sinh sống trên đất Việt. Con đường triều đình, Nho sĩ là con đường chuyển
tải có hệ thống và có chủ trương nhưng thường vấp phải sự phản kháng của

Hoa nữa và Trung Hoa cũng phải chấp nhận cho Việt Nam nằm ngoài
cương vực của mình" [3,3]. King C. Chen nhận xét về đặc điểm của quan
hệ Việt - Trung trong giai đoạn này là: "Trước khi Pháp chiếm Đông
Dương, sự giao thiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam đã độc lập trên bình
diện sau: Hễ Trung Quốc mạnh và hùng cường thì Việt Nam thần phục và
hoà với lân bang phương Bắc, hễ Trung Quốc xâm lược thì Việt Nam
chống lại" [3,7]. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này chính là bên cạnh
những cuộc xâm lược quy mô lớn của phong kiến phương Bắc là mối quan
hệ giao hảo giữa Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc.

15
Từ khi giành được độc lập, trải qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,
Trần, Hồ, Nguyễn nước ta từng bước phát triển chế độ phong kiến, đất
nước có lúc thịnh lúc suy, lúc trị lúc loạn. Hơn 1000 năm chịu ách đô hộ
của phong kiến phương Bắc, đến lúc giành được độc lập, khẳng định chủ
quyền đất nước, đời vua nào cũng ý thức được mối đe doạ thường trực từ
nước phong kiến khổng lồ ở phương Bắc, đồng thời cũng hiểu rõ tương
quan lực lượng giữa một nước nhỏ mới giành độc lập, đang từng bước xây
dựng nhà nước phong kiến với một đế chế phong kiến có lịch sử phát triển
lâu hơn hàng ngàn năm. Vì thế, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn
biết giữ mình, khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là
khi đất nước ở trong tình trạng bất ổn hoặc vừa mới xây dựng triều đại mới.
Còn các đế chế Trung Hoa, mặc dù nước ta đã có tên riêng, có độc lập chủ
quyền nhưng trong tư tưởng của họ Việt Nam vẫn là một nước phụ thuộc,
bởi theo họ thì nước nhỏ phải phụ thuộc nước lớn. Khi các triều đại của
nước ta mạnh thì phải thần phục triều cống nhưng khi có nội loạn, triều đình
lục đục thì phong kiến phương Bắc liền đem quân sang xâm lược.
Nước ta triều cống theo định kỳ, vua mới lên phải cầu phong như
Đinh Tiên Hoàng, sau khi lên ngôi, đặt niên hiệu Thái Bình đã cử sứ bộ
sang giao hảo với nhà Tống. Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận

triều cống ở một mức độ nào đó là một kiểu qua lại mang tính nghi lễ",
"các vương triều phong kiến Trung Quốc rất ít can thiệp vào công việc nội
bộ của vương triều phong kiến Việt Nam".
Trong giai đoạn này, nước ta một mặt có chính sách đối ngoại mềm
dẻo như triều cống, tỏ ra thần phục phong kiến Trung Quốc để tránh xảy ra
chiến tranh nhưng mặt khác lại luôn khẳng định vị trí độc lập của mình,
không chịu khuất phục đầu hàng trước những cuộc xâm lược của phong
kiến phương Bắc. Với tư tưởng đại Hán, coi mình là trung tâm của thiên
hạ, gánh vác nhiệm vụ "bình thiên hạ" cho nên phong kiến phương Bắc

17
luôn có ý đồ xâm lược, thôn tính Đại Việt, đưa Đại Việt trở lại là quận,
huyện của Trung Quốc như trước đây. Mặc dù sau khi lên ngôi, vua của
nước ta đều sai sứ sang Trung Quốc đặt quan hệ giao hảo, xin sắc phong và
triều cống đều đặn nhưng điều đó vẫn không đảm bảo được sẽ không xảy ra
chiến tranh, không ngăn chặn được nguy cơ bị xâm lược, mất nước. Trước
thế lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh, nhân dân ta với truyền thống
yêu nước đã không chịu lùi bước, không chịu khuất phục. Hai lần chiến
thắng quân Tống, ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, chiến thắng
quân Minh sau bao năm "nếm mật nằm gai" của Lê Lợi, chiến thắng quân
Thanh của Quang Trung đã viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc. Nhưng
sau mỗi lần buộc phải kháng chiến chống ngoại xâm thì nhân dân ta lại
vượt lên đau thương, khoan dung mềm mỏng khôi phục bang giao với
mong muốn để chiến tranh không xảy ra. Điều này đã trở thành nét đẹp
truyền thống khiêm nhường, bao dung và yêu chuộng hoà bình của dân tộc
ta.
1.2.2.2. Quan hệ trao đổi buôn bán giữa hai nước
Trong thời gian này, ngoài triều cống, sắc phong, quan hệ trao đổi
buôn bán giữa hai nước cũng được thiết lập và từng bước phát triển. Quá
trình buôn bán, trao đổi này thay đổi theo sự phát triển, hưng thịnh của nền

buôn của Trung Quốc không chỉ buôn bán với Việt Nam mà còn là cầu nối
giữa các cảng ở vùng Đông á và Đông Nam á. "Trong khoảng thời gian từ
năm 1651 đến năm 1724 số chuyến các tàu buôn lớn (các loại tàu có trọng
tải từ 150 - 200 tấn) của Trung Quốc chở hàng từ các cảng của Đại Việt
đến cảng Nagadaki của Nhật Bản là 251 chuyến, trong đó có 52 chuyến từ
các cảng Đàng Ngoài và 199 chuyến từ các cảng Đàng Trong” [30, 374].
Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhiều người Hoa đã ở hẳn các cảng thị
của Đại Việt. Theo thương nhân P.Poavrơ, thế kỷ XVIII "ở Hội An có đến

19
6000 Hoa kiều mà phần lớn là lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hoá, vừa
làm môi giới cho khách phương Tây, giữ các chức vụ trong các tàu ti" [30,
374]. ở phố Hiến, thương nhân người Hoa đã xây dựng ở đây một khu phố
lớn có tên là Bắc Hoà với ba phần thượng, trung, hạ. Cuối thế kỷ XVIII,
khi các thương nhân ngoại quốc khác rút đi thì thương nhân Trung Quốc
hầu như làm chủ thị trường Đại Việt. Hàng hoá do thương nhân Trung
Quốc mang đến là gấm vóc, đoạn, giấy, các loại đồ đồng, gốm sứ, bạc,
kẽm, diêm sinh, khí giới và mua đi hồ tiêu, đường, gỗ quý, các loại hương
liệu, yến sào, sừng tê, ngà voi, tơ tằm.
Thế kỷ XIX, quan hệ kinh tế thương mại Việt - Trung không còn nhộn
nhịp như trước đây bởi một mặt nhà Nguyễn chủ trương đóng cửa, không
buôn bán với các nước phương Tây, khách thương còn lại chủ yếu là người
Hoa, Xiêm, Mã Lai. Mặt khác, khác với các triều đại trước, nhà Nguyễn
độc quyền ngoại thương khá chặt và tổ chức các chuyến buôn và công cán
ở nước ngoài. Vì thế thời gian 1831-1832, việc cử thuyền buôn đi buôn bán
sang các nước Đông Nam á và Trung Quốc ngày càng nhiều. Nhân hoạt
động này, một số thương nhân giàu có cũng lén lút chở gạo, lâm thổ sản
quý sang Quảng Đông buôn bán. Hàng đem bán là gạo, đường, lâm thổ sản
quý, hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược.
Quan hệ Việt - Trung trong thời kỳ từ đầu đến năm 1857 đã có một

phu Việt Nam hướng đến tư tưởng mới chủ yếu qua làn sóng cải lương ở Trung
Quốc.
Những trước tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu như Đại đồng
thư, ẩm băng thất văn tập có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tình cảm của sĩ
phu yêu nước Việt Nam. Báo Thần chung tháng 11 - 1929 viết: "Tập ẩm
băng thất của Lương tiên sinh với sĩ phu ta chẳng khác chi thuốc hay với

Trích đoạn Từ năm 1858 đến những năm 20 của thế kỷ Từ những năm 20 đến năm 1945 của thế kỷ Tình hình Việt Nam Tình hình Trung Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status