ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN NAM THẮNG
QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
GIAI ĐOẠN 1992 - 2002
ĐẶC ĐIỂM VÀ KHUYNH HƯỚNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Hà Nội – 2004
HÀ NỘI - 2004
ii
PHẦN MỞ
ĐẦU
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC
THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
1
I.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1
I.2. Tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam
5
I.3. Tình hình và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc 8
94
III.1. Đặc điểm quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 1992 -2002
94
III.1.1. Đặc điểm trong quan hệ về chính trị
94
III.1.2 Đặc điểm trong quan hệ về kinh tế
99
III.1.3. Đặc điểm của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong các lĩnh vực
khác
107
III.2. Khuynh hướng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong tương lai
109
KẾT LUẬN 116 iii
PHẦN PHỤ LỤC
BẢN KÝ HIỆU VIẾT TẮT
-AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực tự do thương mại ASEAN
-APEC Asia Pacific Economic Cooperation Forum
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương
-ARF ASEAN Regional Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
-ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
-ASEAN + 1 ASEAN + Hàn Quốc
-ASEAN + 3 ASEAN + Hàn Quốc + Nhật Bản + Trung Quốc
-ASEM Asia - Europe Meeting
Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
-ASEAN PMC ASEAN Post Minister Conference
Hội nghị sau Hội nghị Ngoại trưởng của ASEAN
-CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dân
-EAFTA East Asia Free Trade Area
Khu vực tự do thương mại Đông Bắc Á
-FDI Foreign Direct Investment
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp
-FTA Free Trade Area
Khu vực tự do thương mại
ODA Official Development Aid
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển
-KHCN Khoa học công nghệ
-NICS New Industrial Countries
các xu thế phát triển và quan hệ hợp tác khu vực. Vào thời điểm hiện nay, cùng là những
quốc gia trong nhiều tổ chức khu vực và thế giới như Liên Hợp Quốc, ASEAN + 3,
2
ARF, APEC, mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc vẫn không mất đi ý nghĩa đối với mỗi
bên cũng như đối với toàn khu vực.
Do vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong thời kỳ 1992
- 2002 không chỉ góp phần làm sáng tỏ tiến trình vận động, phát triển của sự hợp tác
giữa hai nước mà quan trọng hơn là thấy rõ những thuận lợi, khó khăn cũng như triển
vọng của mối quan hệ này.
Vì những lẽ đó, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến 2002 đã được
người viết chọn làm đề tài cho luận văn này. Đây là đề tài có ý nghĩa lịch sử, mang giá
trị hiện tại, đồng thời còn có ý nghĩa khoa học, chính trị, góp phần để hiểu rõ thêm chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như vai trò của Hàn Quốc trong mối quan hệ
và hợp tác của nước ta hiện nay.
I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trước đây, Hàn Quốc là một đối tượng nghiên cứu chưa được các học giả trong
nước quan tâm nhiều, vì vậy vẫn chưa có những tác phẩm chuyên khảo sâu về vấn đề
này. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc được đề cập chủ yếu thông qua mấy hình thức sau:
thứ nhất, là các tài liệu chính thức như những văn bản của Chính phủ, của Bộ Ngoại
giao ; thứ hai, là một phần trong các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam -
Đông Bắc Á hay một phần trong các công trình nghiên cứu về Hàn Quốc; thứ ba, là các
tác phẩm nghiên cứu riêng về một giai đoạn nào đó của quan hệ này. Loại hình của các
tác phẩm nghiên cứu này tuy không nhiều nhưng khá đa dạng, phong phú như những
tuyên bố, thông cáo, sách tư liệu, thông sử, sách giới thiệu tổng quan, công trình nghiên
cứu, bài xã luận Có thể nêu ra một số tác phẩm tiêu biểu như cuốn Tương đồng văn
hoá Việt Nam - Hàn Quốc của tập thể giảng viên Khoa Ngữ văn - Đại học KHXH&NV
Hà Nội, được Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất ấn hành năm 1996, cuốn Người Việt
thu và kế thừa nhiều từ các thành tựu nghiên cứu nói trên. 4
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình diễn biến của quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc trong khoảng thời gian mười năm kể từ khi hai nước chính thức bắt đầu đặt
quan hệ ngoại giao ở cấp cao nhất, cấp đại sứ, từ 22-12-1992 đến 22-12-2002.
Quá trình diễn biến của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian này tương
đối phức tạp. Nó thay đổi tính chất theo từng thời kỳ, thậm chí theo từng giai đoạn nhỏ
với những sắc thái tương đối khác nhau. Mối quan hệ này đã diễn ra trên nhiều mặt, tuy
có khác nhau về mức độ theo từng thời kỳ nhưng lại luôn có sự tương giao mạnh mẽ.
Quan hệ này cũng là quan hệ nhiều tầng bởi nó được triển khai và thực hiện ở nhiều cấp
độ. Hơn thế nữa, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc luôn phải chịu nhiều tác động lớn từ bên
ngoài với những cách thức, cường độ và quy mô khá đa dạng Tất cả những điều này đã
làm nên tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu và đặt ra cho bản luận văn các nhiệm vụ
nghiên cứu dưới đây:
- Tập hợp, xử lý và hệ thống hoá tư liệu nhằm tái hiện lại quá trình diễn biến cơ bản
của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thời kỳ sau Chiến tranh lạnh một cách tương đối
toàn diện.
- Làm sáng tỏ cấu trúc và cơ chế vận hành của quan hệ này.
- Tìm hiểu và phân tích các nhân tố có ảnh hưởng và tác động đến quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc.
- Nhận thức những thuận lợi, khó khăn và các vấn đề đang tồn tại trong quan hệ này.
Từ đó, rút ra các bài học và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát
triển trong quan hệ giữa hai nước.
Nam - Hàn Quốc như một cấu trúc hoàn chỉnh gồm nhiều yếu tố tác động qua lại với
6
nhau, vận động theo một trục thời gian, trong một môi trường tương tác có tính biến
động cao. Nó cũng giúp chúng ta nhận thức được nguồn gốc các sự kiện, tính chất và
đặc điểm của mối quan hệ qua những thời kỳ cũng như dự báo được những xu hướng và
mục tiêu mà quan hệ này sẽ tiến tới.
IV. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Cấu trúc của luận văn được xây dựng trên quan điểm lịch sử, trong đó quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc được xem xét theo dòng chảy của thời gian. Các chương phần
được phân kỳ dựa trên các thay đổi về chất cùng những biến đổi trong đặc điểm và tính
chất cơ bản của quan hệ này.
Trên cơ sở đó, bản luận văn này đã có cấu trúc như sau:
Chƣơng I: Bối cảnh quốc tế và những cơ sở của việc thiết lập quan hệ Việt
Nam - Hàn Quốc. Chương này gồm 3 phần: Phần I.1: Bối cảnh quốc tế nhằm đưa ra
một bức tranh khái quát về thời điểm Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ với nhau.
Phần I.2: Tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam và Phần I. 3: Tình hình và
chính sách đối ngoại của Hàn Quốc phân tích những biến đổi của tình hình nội tại mỗi
nước và chính sách đối ngoại của hai nước được thực thi trong thời gian này. Cũng trong
phần này, luận văn cố gắng chứng minh nhu cầu của hai nước trong việc thiết lập quan
hệ với nhau: cơ sở và tính cấp thiết cho việc thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc
gia.
Chƣơng II. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 1992 - 2002
Chương này điểm sơ lược qua mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa nhân dân hai
nước Việt Nam và bán đảo Triều Tiên trong quá khứ, đồng thời cố gắng phác họa một
bức tranh toàn cảnh của hai nước trong giai đoạn mười năm quan hệ trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế (thương mại, đầu tư), văn hoá, giáo dục, viện trợ, lao động
Hà Nội, ngày 7 tháng 11 năm 2004
8
Người viết
Nguyễn Nam Thắng
CHƢƠNG I
BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC THIẾT LẬP
QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
I.1/ BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC
Chiến tranh Lạnh kết thúc tạo ra những biến chuyển lớn trong đời sống chính trị
thế giới nói chung và trong quan hệ quốc tế nói riêng. Bước vào thập niên 90 của thế kỷ
XX, quan hệ quốc tế có những bước phát triển mới, thay đổi cả về hình thức và tính
chất. Trật tự thế giới hai cực không còn nữa, môi trường quốc tế có nhiều biến đổi sâu
sắc và rộng khắp, từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và diễn ra trên mọi phương
diện. Sự khác biệt về ý thức hệ không còn là trở ngại trong quan hệ giữa các nước có chế
độ chính trị - xã hội khác nhau, mà thay vào đó việc phát triển kinh tế trở thành ưu tiên
hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia. Kinh tế trở thành nhân tố có ý
nghĩa quyết định trong quan hệ quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nhất là
cách mạng về công nghệ thông tin đã mở ra những triển vọng phát triển kinh tế to lớn
cho tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển ở mọi châu lục
của thế giới. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế
có những bước phát triển mạnh và ngày càng gia tăng, tác động tới mọi mặt trong quan
ngoại giao.
Xuyên suốt lịch sử của mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian từ năm
1975 đến 1992, thì tác động bên ngoài chủ yếu xuất phái từ quan hệ tay đôi Mỹ - Liên
Xô. Khoảng thời gian này, sự thay đổi của các nhân tố bên ngoài cũng như tác động của
chúng đã diễn ra mạnh mẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến những quan hệ tay đôi trên. Từ
10
đó, cả hai nước đều phải tiến hành những điều chỉnh lớn trong chính sách ngoại giao của
mình.
Xu thế hoà dịu bắt đầu tư quan hệ Xô - Mỹ đã nhanh chóng phát huy tác dụng ra
toàn thế giới. Ở châu Á - Thái Bình Dương, Liên Xô rút quân ra khỏi Afganistan, tiến
hành cắt giảm sự hiện diện quân sự và những cam kết chiến lược. Đồng thời, từ giữa
tháng 12-1989, Liên Xô đã quyết định rút một phần lực lượng quân sự ra khỏi cảng Cam
Ranh. Trong khi đó, năm 1990, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đưa ra Sáng kiến chiến lược
Đông Á nhằm giảm bớt số quân Mỹ ở đây từ 143.000 năm 1990 xuống 100.000 vào năm
1993, đóng cửa hoặc thu hẹp phạm vi hoạt động một số căn cứ quân sự trong vùng tại
Hàn Quốc, Australia Tất cả các động thái theo hướng hoà dịu này đã làm giảm đáng kể
mâu thuẫn Xô - Mỹ và các tác động của chúng đối với sự đối đầu và chia rẽ ở khu vực.
Ít nhất, lực chia rẽ từ quan hệ Xô - Mỹ trong cả thực tế lẫn trong nhận thức cũng không
còn đè nặng lên quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc như trước nữa, nhất là trong vấn đề an
ninh - chính trị.
Sau khi Liên Xô tan rã (25-12-1991), nước Nga hầu như rút khỏi các tranh chấp
quyền lực ở đây. Mâu thuẫn Nga - Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương càng trở nên nhỏ bé
so với các ưu tiên quan hệ khác. Ảnh hưởng và vai trò của Nga đã bị giảm sút đáng kể.
Quan hệ Nga - Mỹ càng ít tác động đến quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á và quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc.
Những cố gắng của Liên Xô nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc, sự suy giảm
vai trò quốc tế của Liên Xô và sự nổi lên của Mỹ như vai trò cường quốc số một cũng
khiến Liên Xô và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn. Chuyến thăm của M.S.Gorbachov
đến Trung Quốc tháng 6-1989 đánh dấu việc bình thường hoá quan hệ Xô - Trung.
ổn định ở Campuchia, thái độ đối với sự diệt chủng của Khmer Đỏ
Những khai thông trong quan hệ Mỹ - Việt được thực hiện chủ yếu trong giai
đoạn sau của thời kỳ này. Cùng với những tiến bộ đạt được trong vấn đề MIA, quan hệ
Mỹ - Việt bắt đầu bước sang một chương mới. Ngày 3-2-1994, Tổng thống Mỹ
B.Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam và mở văn phòng liên lạc tại
12
thủ đô hai nước. Ngày 11-7-1995, Việt Nam và Mỹ chính thức bình thường hoá quan hệ.
Khi Chiến tranh Lạnh đang trở thành lịch sử thì những điều chỉnh lớn của Mỹ - với tư
cách là siêu cường duy nhất - đã có một ý nghĩa rất đáng kể. Sự kiện này không chỉ tạo
điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam với chính sách mở
cửa. Trên bình diện quan hệ quốc tế, cánh cửa của con đường hội nhập thế giới đã được
mở và hội nhập như thế nào, bây giờ chủ yếu là vấn đề của chính Việt Nam. Trong phạm
vi khu vực ASEAN, sự kiện này có một giá trị không thể bỏ qua. Chỉ sau khi Việt Nam
và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, 16 ngày sau đó, Việt Nam mới chính thức trở thành
thành viên của ASEAN, mặc dù quá trình này đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước.
Với chính sách đối ngoại truyền thống của mình, chính sách Việt Nam của Hàn
Quốc vẫn tính đến quan điểm và thái độ của Mỹ đối với Việt Nam. Trong thời kỳ này,
quan hệ Mỹ - Việt tuy có tiến triển song tốc độ là tương đối chậm chạp. Đứng về phía
Mỹ, những khai thông ban đầu trong quan hệ này xuất phát từ tình thế nhiều hơn là nội
tại, dưới sức ép của các nhu cầu kinh tế hơn là thiện chí chính trị. Sự tiến bộ trong vấn
đề Campuchia là do có sự trùng hợp nhất định về quan điểm và lợi ích đối với sự ổn
định ở Đông Nam Á, thái độ đối với tội ác diệt chủng, sự lo ngại vai trò của Trung Quốc
trong thời kỳ "hậu Campuchia". Trong khi đó, việc Việt Nam không còn là ưu tiên chiến
lược của Mỹ, sự tiếp tục của quá khứ đối đầu đều là những trở lực tạo nên sự chậm chạp
của mối quan hệ Mỹ - Việt vào nửa đầu của thời kỳ này. Dù sao, những tiến bộ nhất
định trong quan hệ Mỹ - Việt và trong việc giải quyết vấn đề Campuchia có ý nghĩa
đáng kể đối với xu thế hoà hoãn, hoà dịu ở Đông Nam Á, giảm sự ngăn cách và góp
phần thúc đẩy sự ổn định ở khu vực Đông Á.
Rõ ràng, so với các thời kỳ trước, trong thời kỳ này, khi nhân tố Liên Xô/Nga mất
đầu thập niên 90 đang đối đầu với một thử thách lớn. Nhật Bản là nước có ảnh hưởng
kinh tế lớn trong thời điểm này và đã áp dụng mô hình phát triển tập thể, hướng đến
công nghiệp hoá đối ngoại, lợi dụng xuất khẩu quốc tế để phát triển. Với tư cách là một
trong ba trung tâm kinh tế hàng đầu của thế giới và cường quốc số một ở châu Á, Nhật
Bản ngày càng có vai trò lớn trong quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á. Mặc dù vai trò
14
chính trị còn khiêm tốn, nhưng với tiềm năng và các cơ sở quan hệ kinh tế đã có, Nhật
Bản ngày càng có ảnh hưởng đối với quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Trong thời kỳ này,
Nhật Bản không chỉ là nơi cung cấp các khoản đầu tư, nguồn cung cấp công nghệ mà
còn là thị trường quan trọng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của các nước trong khu vực.
Ngược lại, một mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam - Hàn Quốc sẽ góp phần củng cố
quan hệ ở khu vực, và rõ ràng Nhật Bản cũng có quyền lợi to lớn khi tiến hành hoạt
động thương mại và đầu tư trong một môi trường ổn định . Không thể phủ nhận, các
hoạt động kinh tế mạnh mẽ của Nhật và các công ty xuyên quốc gia của nó cũng góp
phần thúc đẩy xu thế tăng cường hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng và
trong khu vực nói chung.
Tóm lai, chưa bao giờ trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, những điều
kiện bên ngoài thuận lợi cho sự phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước lại được mở ra
lớn đến như vậy. Đó là các xu thế hoà dịu trong quan hệ quốc tế, xu thế hợp tác cùng
phát triển về kinh tế, sự mất đi tác động chia rẽ của các nước lớn Là hai nước sống
trong cùng khu vực, Việt Nam và Hàn Quốc đều ý thức được việc phải chuyển mình,
xoá đi những nghi kỵ, thù hằn để tăng cường hợp tác. Đó là con đường duy nhất để hai
nước giải quyết được các vấn đề còn tồn tại, thích ứng được với tình hình đang thay đổi
trong một thế giới mà tụt hậu giờ đây có nghĩa là đắm chìm.
I.2/ TÌNH HÌNH VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM
Việc kết thúc Chiến tranh lạnh với sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu, cũng như những diễn biến mới trong quan hệ quốc tế, sự phát triển như vũ bão
Á", có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm văn hiến với những đặc điểm là tinh thần yêu
nước, trí thông minh và cần cù lao động. Trong quá khứ, cả hai dân tộc đều bị các cuộc
chiến tranh xâm lược tàn phá khốc liệt và là những thuộc địa có trình độ sản xuất thấp, ít
được thế giới biết đến. Sau khi giành độc lập, chính phủ và nhân dân hai nước đều mong
muốn sống trong hoà bình, độc lập, tập trung sức lực phát triển kinh tế, khắc phục hậu
quả của quá khứ, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, rút ngắn khoảng cách với
16
các nước phát triển. Đó là những điểm thuận lợi cho hai nước dễ dàng thông hiểu và hợp
tác với nhau hơn so với các nước khác trong khu vực như Indonesia, Philippines,
Malaysia, Thái Lan
Bên cạnh đó, nền kinh tế của Hàn Quốc trước khi bước vào tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá năm 1962 và của Việt Nam trước công cuộc Đổi Mới năm 1986 đều
mang tính chất nông nghiệp là chủ yếu, trình độ sản xuất thô sơ, dân số đông, điều kiện
thời tiết không thuận hoà, đất đai manh mún không đủ để sản xuất lớn, các ngành công
nghiệp địa phương chỉ thoả mãn nhu cầu nội địa, không đủ khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới. Vì vậy, khi hai nước hợp tác với nhau, nhất là trong lĩnh vực kinh tế,
Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm phát triển trong những năm qua và có thể chia sẻ cũng
như giúp Việt Nam vượt qua những khó khăn trong quá trình đổi mới đất nước.
I.3/ TÌNH HÌNH VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HÀN QUỐC
Trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc đạt tốc độ phát
triển nhanh và mạnh. Bước sang thập niên 80, Hàn Quốc đã trở thành một nước công
nghiệp hoá mới (NIC), và được mệnh danh là một "con rồng kinh tế châu Á". Hàn Quốc
đã lợi dụng được những mặt tích cực của xu thế mới trên thế giới và khu vực để phát
triển kinh tế thành công, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Từ cuối những năm 80, quá trình dân chủ hóa trong nền chính trị Hàn Quốc được
thúc đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời các chính sách mới, phù hợp với
tình hình phát triển của quốc tế và nhằm giải quyết các vấn đề an ninh và kinh tế của đất
nước, tạo cơ sở cho việc thống nhất hai miền trên bán đảo Triều Tiên. Một trong những
tích bán đảo Triều Tiên, sức lao động nhiều và rẻ tuy rằng sức mua có khả năng thanh
toán chưa cao nhưng chính sách mở cửa và công cuộc cải cách kinh tế đang tiến triển
mạnh, với sự phát triển kinh tế cao, một thị trường đầy tiềm năng đã thu hút được sự
quan tâm của các bạn hàng, các nhà đầu tư lớn không chỉ của Hàn Quốc mà còn của các
nước khác trên thế giới. Vì vậy, khi thời cơ thuận lợi mở ra, điều kiện đã chín muồi, Hàn
18
Quốc nói riêng và nhiều nước khác nói riêng đã nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại
giao với Việt Nam.
CHƢƠNG II
QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1992 - 2002 II. 1/ VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRONG LỊCH SỬ
Khi đánh giá quan hệ hai bên trong dịp kỷ niệm 5 năm thiết lập quan hệ (1992-
1997), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm lúc đó nhận xét: "Hiếm thấy trên thế
giới trường hợp hai nước mới thiết lập quan hệ ngoại giao một thời gian ngắn như vậy
biển ghi công đức của Hoàng thân. Những kỷ niệm và di tích đó hiện vẫn đang được
người dân trên bán đảo Triều Tiên trân trọng và giữ gìn.
Về phía Việt Nam, sự kiện người dân đảo Tế Châu của Triều Tiên trôi dạt đến Hội
An năm 1689 đã được chúa Nguyễn giúp đỡ và tạo điều kiện để trở về nước. Sự kiện
này theo một nhà nghiên cứu Việt Nam học, giáo sư Hàn Quốc Cho Jae Hyun thì "đây là
câu chuyện cảm động, tiêu biểu cho lòng mến khách, nhân đạo, ngoại giao chu đáo của
người Việt Nam đối với người Hàn Quốc" [11; 57].
20
Những năm sau này của thế kỷ XX, các nhà cách mạng Việt Nam và Triều Tiên
cùng chí hướng đã gặp nhau, kề vai sát cánh trong việc đi tìm đường cứu nước khi hai
nước đều bị thực dân đế quốc đô hộ. Tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc trong những năm bôn
ba tìm đường cứu nước, Người rất quan tâm đến những đất nước đang nằm trong ách
thống trị của đế quốc thực dân như Trung Hoa, Algeri, Tunidy và đặc biệt là Triều Tiên.
Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chủ tịch đã nhắc tới Triều Tiên khoảng 100 lần.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ bài viết thứ hai của mình với tựa đề Đông Dương và
Triều Tiên: Một sự so sánh thú vị đăng trên báo Le Popularie ngày 4-9-1919, Nguyễn Ái
Quốc đã so sánh chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương với đế quốc Nhật ở
Triều Tiên. Người phân tích "việc chính phủ Nhật nhìn thấy trước hậu quả đáng buồn
khi mở ra một cuộc chinh phục rất lớn của chủ nghĩa quân phiệt, nên đang thừa nhận
phải cải cách chế độ ở Triều Tiên theo một tinh thần khoan dung" trong lúc đó thì "thật
đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước
Cộng hoà Pháp ở Đông Dương vẫn cứ ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô
lệ, không cho họ hưởng một chút quyền tự do nào, cũng như các quyền khác theo luật
pháp quy định" [5; 12]. Nhưng Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh " chúng tôi không hề đóng
vai trò đáng khinh bỉ làm người biện hộ cho chủ nghĩa đế quốc Nhật mà lên án nó cũng
như lên án tất cả các thứ chủ nghĩa đế quốc" [5; 12]. Và Người cũng cảnh báo trước rằng
không vì cái chiêu bài tự trị ấy mà "những người yêu nước Triều Tiên lấy làm thoả mãn
mà họ còn tiếp tục đòi cho được độc lập hoàn toàn" [5; 12]. Người khẳng định "Thế giới
sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau tiêu