Một số giải pháp nhằm đưa hoàng thành Thăng Long trở thành điểm du lịch hấp dẫn - Pdf 25



Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

NGUYN TH L HOA

MT S GII PHP
NHM A HONG THNH THNG LONG TR
THNH IM DU LCH HP DN LUN VN THC S DU LCH H Ni, 20122


H Ni, 20121 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6
1.
Lý do chọn đề tài
6
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………
7
3.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………….
8
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………….
8
5.
Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
8
6.
Bố cục luận văn…………………………………………………….
8
7.
Đóng góp mới của đề tài……………………………………

Vai trò của điểm du lịch trong phát triển du lịch…………………
17
1.2.2.
Phân loại điểm du lịch……………………………………………
18
1.2.2.1.
Phân loại điểm du lịch theo vị trí địa lý (khu vực, quốc gia, địa
phương)……………………………………………………………

18
1.2.2.2.
Phân loại điểm du lịch theo tài nguyên du lịch( tự nhiên, nhân văn)
19
1.3.
Điểm du lịch khảo cổ học…………………………………………
19
1.3.1.
Các quan niệm về du lịch khảo cổ học……………………………
20
1.3.2.
Đặc điểm của du lịch khảo cổ học………………………………….
21
1.3.2.1.
Du lịch khảo cổ là loại hình du lịch đặc thù………………………
21
1.3.2.2.
Du lịch khảo cổ học có thị trường khách đặc thù…………………
22

26
1.3.4.3.
Phải có được sự hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học khảo cổ
học………………………………………………………………….

26
1.4.
Kinh nghiệm xây dựng điểm du lịch khảo cổ lịch sử của một số
nƣớc………………………………………………………………

26
1.4.1.
Kinh nghiệm xây dựng điểm du lịch khảo cổ học của Trung Quốc
26
1.4.2.
Kinh nghiệm xây dựng điểm du lịch khảo cổ học tại Pêru
30
1.4.3.
Bài học vận dụng cho Việt Nam
33
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ CỦA HOÀNG
THÀNH THĂNG LONG PHỤC VỤ KHÁCH THAM QUAN DU LỊCH

37
2.1.
Sơ lƣợc về Hoàng thành Thăng long
37
2.1.1.
Quá trình hình thành Hoàng thành Thăng Long

2.2.1.1.
Các tầng văn hóa
42
2.2.1.2.
Xác định được Cấm Thành Thăng Long
43
2.2.1.3.
Các dấu tích kiến trúc ở khu di tích
45
2.2.1.4.
Các dấu tích kiến trúc tiêu biểu, các di vật đặc trưng cho từng thời
đại

49
2.2.2.
Đánh giá về giá trị của Di sản Văn hoá Thế giới Hoàng thành
Thăng Long đối với việc thu hút khách du lịch

55
2.2.2.1.
Giá trị phát triển nghiên cứu về lịch sử:
55
2.2.2.2.
Những giá trị phát triển văn hóa:
56
2.2.2.3.
Giá trị nhận diện dân tộc Việt Nam
59
2.2.2.4.
Giá trị nhận diện Nhà nước Việt Nam

Thực trạng về nhân lực và các dịch vụ phục vụ khách tham quan
du lịch

69
2.3.5.
Hiện trạng về công tác xúc tiến, tuyên truyền và quảng bá du lịch
71
2.4.
Đánh giá chung về hoạt động du lịch tại Hoàng thành Thăng
Long

72
2.4.1.
Đánh giá về điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long của khách du
lịch

72
2.4.2.
Nhận định những nguyên nhân của thực trạng phát triển điểm du
lịch Hoàng thành Thăng Long

75 4 Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐƢA
HOÀNG HÀNH THĂNG LONG TRỞ THÀNH ĐIỂM DU LỊCH HẤP
DẪN CỦA KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI


85
3.2.1.2.
Giải pháp về xây dựng khu Di sản Văn hóa Thế giới Hoàng thành
Thăng Long thành công viên lịch sử văn hoá Thăng Long – Hà
Nội…………………………………………………………………. 89
3.2.2.
Nhóm giải pháp về khai thác và phát huy các giá trị tại Di sản Văn
hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long…………………………….

91
3.2.2.1.
Các giải pháp về chính sách khai thác các giá trị tại Di sản Văn
hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long…………………………….

91
3.2.2.2.
Các giải pháp về khai thác nhằm phát huy giá trị của Di sản Văn
hóa Thế giới Hoàng thành Thăng Long…………………………….

92
3.2.2.3.
Các giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ
tham quan du lịch…………………………………………………

94
3.2.2.4.

Long ……………………………………………………………… 103
3.3.
Một số kiến nghị, đề xuất khả năng khai thác du lịch đối với
Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội……………………………

106
3.3.1.
Về phía Nhà nước…………………………………………………
106
3.3.2.
Phía Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch……………………………
106
3.3.3.
Về phía Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội……………………….
107
3.3.4.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch,các sở ban ngành liên quan……
107
3.3.5.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành……………………
109
KẾT LUẬN
110
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… ……
112
PHỤ LỤC


vụ, cơ sở hạ tầng mà còn là phương tiện thúc đẩy hòa bình, giao lưu văn hóa và tạo
ra những giá trị vô hình nhưng bền chặt. Nhờ những đóng góp to lớn về mặt kinh tế
xã hội du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới
… và ở Việt Nam trước những tác động to lớn đó của du lịch thì Đại hội Đảng lần
IX đã nêu rõ: “Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”.
Quán triệt tinh thần đó thì ngành du lịch ở Việt Nam đã phát triển khá nhanh trong
một vài năm trở lại đây, trong đó điểm du lịch, điểm tham quan đóng một vai trò
quan trọng và quyết định đến sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch
của một quốc gia, một địa phương. Người ta đi du lịch để mở mang nhận thức về
thế giới xung quanh, tìm hiểu truyền thống lịch sử-văn hóa, phong tục tập
quán, v.v. Điểm du lịch là động lực thu hút khách du lịch đến tham quan du lịch,
đồng thời là nơi phát triển các loại dịch vụ phục vụ khách để thực hiện “xuất khẩu
tại chỗ” và “xuất khẩu vô hình”.
Ở Việt Nam, Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh
thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ
phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và
thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều
vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất
trong hệ thống các di tích Việt Nam. Thăng Long –Hà Nội là niềm tự hào của người
dân, nhưng niềm tự hào lớn lao hơn đó là giá trị của những tầng văn hóa vật chất và
tinh thần của các thời đại để lại. Đây là những giá trị thiêng liêng quý báu tồn tại
trên nhiều bình diện: lịch sử, kinh tế, văn hóa, giáo dục, luật pháp, chính trị, xã hội,
ngoại giao…Song, tiêu biểu nhất vẫn là những trang sử hết sức vẻ vang của các
vương triều Lý – Trần – Lê…chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. 7 Vào 20 giờ 30 ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30

8
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Được phát lộ từ tháng 12/2002 và từ đó đến nay Hoàng Thành Thăng Long
đã được khai quật trên diện tích 19.000m2, một quy mô khai quật khảo cổ học lớn
nhất Việt Nam cũng như Đông Nam Á. Từ khi phát hiện những dấu tích đầu tiên
của Hoàng thành, các cơ quan quản lý và các nhà khoa học đều tập trung xây dựng
lộ trình nghiên cứu các giá trị lịch sử, văn hóa và bảo tồn tổng thể cho di sản nhằm
bảo tồn sự nguyên vẹn cho di tích. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để quảng bá hình ảnh
di sản cũng như khai thác thế mạnh của di sản Hoàng Thành Thăng Long tới du
khách trong và ngoài nước vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào chuyên sâu. Thực
hiện nghiên cứu cụ thể nhằm góp phần bảo tồn, tôn tạo và khai thác tốt các giá trị
văn hóa, lịch sử của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long trở thành một điểm du
lịch nổi tiếng và hấp dẫn là rất cần thiết.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoàng thành Thăng Long - một điểm du lịch.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi mối quan hệ biện chứng
giữa Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội với sự phát triển hoạt động du lịch tại thủ
đô Hà Nội.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sử dụng các thông tin về các lĩnh vực kinh tế
- xã hội, văn hóa, …và hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai
đoạn 2005-2010.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin (qua sách báo, các phương tiện thông tin,
phỏng vấn)
10 Chƣơng 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỂM DU LỊCH
1.1. Những quan niệm về điểm du lịch, tính chất và các tiêu chí đánh giá
điểm du lịch hấp dẫn
1.1.1. Những quan niệm về điểm du lịch
Nói đến du lịch, có nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau trên góc độ tiếp
cận khác nhau. Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho rằng du lịch do ba
thành tố cơ bản tạo nên, đó là chủ thể của du lịch (khách du lịch- nhu cầu du lịch),
khách thể của du lịch(tài nguyên du lịch- điểm đến du lịch) và các dịch vụ, hàng hóa
phục vụ quá trình đi du lịch của con người (ngành du lịch).
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ đi sâu phân tích về phần khách thể của
du lịch, đó là điểm đến du lịch và điểm du lịch.
Điểm đến du lịch (Tourism Destination) hay điểm tham quan du lịch (Tourism
Spot) là những khái niệm được sử dụng nhiều trong các văn bản, các sách và tài liệu
về du lịch của Tổ chức Du lịch thế giới (UN-WTO) và của nước ngoài.
Trong tiếng Anh, từ “Tourism Destination” được dịch ra tiếng Việt là điểm
đến du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra định nghĩa về điểm
đến du lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian mà khách
du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp,
các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự

thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dịch vụ phục vụ
khách, các cơ chế, chính sách, luật pháp cho sự phát triển điểm du lịch,thời gian
khai thác điểm du lịch (thường xuyên, theo thời vụ, ngắn ngày ), số lượng khách
đến tham quan du lịch trong đó có khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa
có tính hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch
trong nước và quốc tế đến càng lớn. Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ
càng nhiều về số lượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh
thu càng lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao.
Luật Du lịch Việt Nam (2005) đã xác định : Điểm du lịch có đủ các điều kiện
sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia:
a) Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của
khách du lịch;
b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm. 12 Theo quan điểm của tác giả luận văn, không phải bất cứ tài nguyên du lịch nào
cũng trở thành điểm du lịch, ngay cả với những tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn
nhưng không có cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cần thiết phục vụ khách thì chưa trở
thành điểm du lịch.
1.1.2. Quan niệm về tính hấp dẫn của điểm du lịch
Tính hấp dẫn là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tài nguyên du
lịch và xây dựng điểm du lịch. Trong hoạt động du lịch, tính hấp dẫn của điểm du
lịch có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch.
Theo Mill and Morrison (1992) đã chỉ ra các nhân tố tạo nên tính hấp dẫn của
điểm du lịch bao gồm: sự hấp dẫn; các tiện nghi; cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật,; dịch vụ vận chuyển; dịch vụ khách sạn.

Tính hấp dẫn du lịch là lực hút điểm du lịch. Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên
tính hấp dẫn điểm du lịch chính là giá trị của tài nguyên ở điểm du lịch cho một loại
hoạt động du lịch hoặc cho toàn bộ các hoạt động du lịch nói chung. Những giá trị
này bao gồm: sự phù hợp của tài nguyên cho các hoạt động du lịch; cơ sở hạ tầng
phục vụ du lịch; sức chứa; khả năng phát triển của điểm du lịch; sự đa dạng, độc
đáo của tài nguyên để tổ chức các loại hình du lịch v.v. Tất cả những giá trị đó sẽ
tạo nên sức thu hút đối với khách du lịch và các nhà kinh doanh du lịch của các
điểm du lịch
1.1.3. Các tiêu chí để xác định điểm du lịch hấp dẫn
Để biết được một điểm du lịch có hấp dẫn hay không người ta thường phải đưa
ra các tiêu chí để đánh giá độ hấp dẫn của điểm du lịch đó. Điểm du lịch hấp dẫn
được xác định trước hết là dựa vào các yếu tố tạo nên khả năng hấp dẫn của điểm
du lịch (hay gọi là các yếu tố chủ quan) và các tiêu chí định lượng, định tính (yếu tố
khách quan)
1.1.3.1. Các yếu tố tạo nên khả năng hấp dẫn của điểm du lịch
Thứ nhất, sự phù hợp của tài nguyên cho các hoạt động du lịch: khác với
nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng và mỗi loại tài
nguyên sẽ phù hợp với hoạt động du lịch khác nhau. Thí dụ đối với loại hình tham
quan, nghiên cứu phục vụ cho mục đích nâng cao nhận thức của khách du lịch thì
tài nguyên du lịch đó có thể là các lễ hội, những sinh hoạt truyền thống của một
vùng quê, các di tích lịch sử - văn hóa, các bản làng dân tộc ít người ở miền núi, các
viện bảo tàng, các thành phố, các thác nước, hang động Đối với loại hình du lịch 14 nghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khỏe thì loại tài nguyên du lịch
phù hợp với loại hình du lịch đó sẽ là các bãi biển, các vùng núi cao có khí hậu
trong lành, có phong cảnh đẹp, các suối khoáng Đối với loại hình du lịch mạo

Cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai
thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy nên
sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật. Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa
dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Do
vậy cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau. Việc
tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công
trình đặc biệt…Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng
của khách du lịch. Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây
dựng một hệ thống các công trình. Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở
hạ tầng – vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham
gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu
cầu của khách du lịch. Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng –
vật chất kỹ thuật giúp cho cơ sở phục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử
dụng chúng trong năm.
Thứ năm, tính hấp dẫn còn phụ thuộc vào sức chứa khách du lịch của điểm
du lịch đó. là lượng khách tối đa có thể đón đến điểm du lịch trong cùng một thời
gian mà chưa gây ra những tổn hại đến môi trường tự nhiên, xã hội và quyền lợi của
khách.
Thứ sáu, khả năng về thời gian.: Một điểm du lịch có tài nguyên phong phú,
đa dạng cùng với cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ sẽ tạo điều kiện để
xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn phù hợp với giá trị tài nguyên đó. Tuy
nhiên, điểm du lịch đó có thực sự hấp dẫn du khách hay không còn phải phụ thuộc
vào thời gian hoạt động du lịch của điểm du lịch đó. Thời gian hoạt động du lịch có
quan hệ mật thiết với đặc điểm khí hậu và diễn biến của thời tiết. Những ngày có
thời tiết xấu (mưa, quá lạnh hoặc quá nóng, dông bão ) thường gây rất nhiều khó
khăn, trở ngại, thậm chí phải ngừng hoạt động du lịch. Vì vậy, thời tiết tác động
mong đợi, chất lượng cảm nhận (về sản phẩm hoặc dịch vụ) và giá trị cảm nhận đối
với sản phẩm và dịch vụ đó.(Hình 1) 17 Hình 1. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU Nguồn: (European Customer Satisfaction Index – ECSI)

1.2. Vai trò của điểm du lịch trong phát triển du lịch và phân loại điểm du
lịch
1.2.1. Vai trò của điểm du lịch trong phát triển du lịch
Điểm du lịch đóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra sản phẩm du lịch; tạo ra các
giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần và nguồn lao động
cho nơi có điểm du lịch; tạo ra giá trị hưởng thụ và ý nghĩa cho du khách sử dụng
chuyến đi.
Thứ nhất, tạo ra sản phẩm du lịch: Điểm du lịch đóng vai trò làm sản phẩm
chủ đạo cho chuyến đi, nó quyết định chính các dịch vụ mà du khách được hưởng

nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi: Du khách đến các điểm tham quan được
thưởng thức khám phá tìm về điểm du lịch, hiểu về nó, mở rộng cảm quan của mình
về tài nguyên, con người và vốn văn hóa hay thưởng thức ẩm thực đặc trưng tại
điểm, mang lại một ý nghĩa quan trọng cho du khách khi đến đó tham quan.
Thứ tư, điểm du lịch là nơi tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành,
nghề và là nơi xuất khẩu vô hình và xuất khẩu tại chỗ với giá trị kinh tế cao.
Thứ năm, điểm du lịch là nơi mở rộng nhận thức, tình yêu quê hương, truyền
thống văn hóa lịch sử cho mọi công dân của đất nước, đồng thời cũng là nơi tái
phân chia nguồn thu nhập trong các tầng lớp dân cư cũng như các địa phương.
1.2.2. Phân loại điểm du lịch
1.2.2.1. Phân loại điểm du lịch theo vị trí địa lý (khu vực, quốc gia, địa
phương)
Trong thực tế phát triển du lịch, người ta thường chia điểm du lịch thành
những cấp độ sau:
- Điểm du lịch mang tính chất khu vực:Trên thị trường du lịch thế giới, cạnh
tranh nguồn khách trở nên rất gay gắt, các nước trong từng khu vực khác nhau trên
thế giới đã hợp tác với nhau để cạnh tranh các nguồn khách du lịch thông qua tuyên
truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch để thu hút khách đến khu vực này.
- Điểm du lịch mang tính phạm vi quốc gia: Các nước trong khu vực vừa hợp
tác với nhau để xây dựng hình ảnh điểm đến của khu vực, nhưng cũng vừa cạnh
tranh và thu hút nguồn khách đến với đất nước mình. Mỗi nước đẩy mạnh tuyên
truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm
trí của mọi người trên thế giới như một điểm du lịch "an toàn và thân thiện". Để thu
hút được nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du
lịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật một mặt tạo điều
kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó,
các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển
một loại điểm du lịch, đó là điểm du lịch khảo cổ di tích lịch sử
1.3. Điểm du lịch khảo cổ học 20 1.3.1. Các quan niệm về du lịch khảo cổ học
Theo cách hiểu thông thường, du lịch khảo cổ học đơn thuần là được ghép bởi
hai từ "Du lịch" và "Khảo cổ học", nghĩa là du lịch dựa trên khai thác các nguồn tài
nguyên khảo cổ học cũng giống như du lịch biển, du lịch tự nhiên, du lịch văn hóa
Tuy nhiên, khi nói đến du lịch biển, du lịch di sản, du lịch lễ hội, du khách có thể
biết chắc cái gì sẽ chờ đợi họ khi tham gia vào các hoạt động trên. Bởi dù sao du
khách cũng đã biết chắc chắn biển, di sản hay lễ hội là gì. Ngay cả những nhà điều
hành tour cũng biết mình phải xây dựng các sản phẩm du lịch như thế nào nếu dựa
trên di sản, lễ hội hay một khu bãi tắm biển. Nhưng đối với việc xây dựng một điểm
khảo cổ học thành một sản phẩm du lịch thì khác. Ngay khái niệm khảo cổ học cũng
chưa hẳn nhiều người đã thấu hiểu. Vì vậy về mặt logic, sẽ không hiểu được đâu là
những nội dung cần thiết để giới thiệu cho du khách và làm thế nào để giới thiệu
được các giá trị đó đến du khách một cách đầy đủ, dễ hiểu và hấp dẫn. Trong thực tế
có rất nhiều du khách chưa hiểu khảo cổ học là gì và họ sẽ được trải nghiệm những
gì khi tham gia một chuyến tham quan tới một điểm khảo cổ học. Vậy để tìm hiểu
về du lịch khảo cổ học, trước hết hãy làm rõ khái niệm khảo cổ học là gì?
Du lịch khảo cổ học: Du lịch khảo cổ học bao gồm toàn bộ những sản phẩm
liên quan đến các di sản khảo cổ học như thăm các lớp trầm tích khảo cổ, các bảo
tàng, các trung tâm thông tin trưng bày, các buổi trình diễn có nội dung lịch sử,
những phát hiện mang tính khảo cổ học thuộc thời cổ đại, hay các nhà hát hoặc các
lễ hội cổ Như vậy, có thể thấy đối tượng hay nội dung của du lịch khảo cổ học là
khá rộng.
Trước hết Du lịch khảo cổ học cũng là loại hình du lịch văn hóa lịch sử, dựa

được sưu tập, bảo quản, nghiên cứu và công bố, một phần có thể trưng bày. Bản
thân nơi phát hiện sau khi được khai quật hết thường được hoàn thổ (lấp đất). Tất
nhiên tùy vào giá trị và quy mô của địa điểm, có thể được quyết định lưu giữ một
phần hiện trạng bảo vệ tại chỗ hoặc khôi phục, tạo dựng lại cảnh quan gốc nhằm
mục đích giới thiệu cho du khách tham quan, nghiên cứu…. Trường hợp quần thể
mộ táng Tần Thủy Hoàng nổi tiếng ở Tây An, hang Chu Khẩu Điếm ở Bắc Kinh
(Trung Quốc) là những ví dụ điển hình. Ở Việt Nam, Hoàng thành Thăng long(Hà
Nội), khu di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam), hang Động Người xưa (Ninh Bình), Xóm
Trại (Hòa Bình), …là những ví dụ về các điểm khảo cổ học đã và đang khai quật
hoặc được khai thác làm điểm du lịch. 22 Nói tài nguyên du lịch khảo cổ mang tính đặc thù còn bởi cách tiếp cận đến
chúng cũng khác biệt. Đa phần các điểm du lịch khảo cổ học thường phân bố tại
những khu vực địa hình khó tiếp cận, xa các tuyến giao thông chính. Do vậy để tiếp
cận chúng thường phải đầu tư phát triển hạ tầng.
1.3.2.2. Du lịch khảo cổ học có thị trường khách đặc thù
Đặc điểm tài nguyên là yếu tố quan trọng trong việc xác định thị trường khách
du lịch. Theo lý thuyết, giá trị của một bộ phận lớn các điểm khảo cổ học hoặc các
hiện vật khảo cổ học đều khó nhận biết được nếu không thực sự quan tâm tìm hiểu,
vì vậy rất khó thu hút được sự chú ý của du lịch đại chúng, mà chỉ những phân khúc
thị trường xác định. Trong trường hợp này có thể có một số phân khúc thị trường
chính sau đây:
- Xét về mục tiêu, khách du lịch văn hóa là phân khúc thị trường chủ yếu của
du lịch khảo cổ học. Đây là nhóm du khách quan tâm đến các nguồn tài nguyên văn
hóa, yêu thích những khám phá lịch sử, các nền văn minh.
- Về không gian địa lý, nhóm thị trường các nước Tây Âu, Nhật Bản là phân

khách để giới thiệu về điểm khảo cổ.
Ưu điểm của loại hình tham quan này là du khách được tiếp cận với các bộ sưu
tập mang tính chọn lọc cao và đã được các nhà khoa học nghiên cứu kỹ, đã có
những thông tin rõ ràng về chúng. Lại được truyền đạt thông tin bằng nhiều nguồn
sinh động nên dễ tiếp nhận hơn. Ví dụ các tài liệu viết, ảnh, bản vẽ, mô hình, sơ đồ,
các video clip, bản đồ… Lại tập trung trong một không gian lý tưởng, có thể liên hệ
được với những bộ sưu tập khác nhau. Do vậy du khách dễ dàng so sánh hơn. Ngày
nay kỹ thuật trưng bày đã đạt được rất nhiều tiến bộ. Người ta đã áp dụng những
công nghệ mới trong trưng bày, đôi khi dùng cả kỹ xảo của công nghệ 3D, nhưng
thông thường để tổ chức loại hình du lịch này, yêu cầu phải được đầu tư nghiên cứu
kỹ từ công đoạn cụ thể. Đồng thời phải có được sự tham gia tư vấn của các chuyên
gia khảo cổ học, các nhà bảo tàng học.
Hạn chế của loại hình tham quan này là các du khách không được tiếp xúc với
điểm khảo cổ, không hình dung được cảnh quan thực tế của khu di tích, vì vậy khó
hình dung được môi trường sinh thái của chủ nhân các bộ sưu tập. Vì vậy những
kiến thức này sẽ khô cứng, hàn lâm và dễ quên, không gây được ấn tượng.
b) Tham quan trực tiếp các điểm khảo cổ học

Trích đoạn Phỏt triển du lịch khảo cổ học phải bảo đảm mục tiờu bảo vệ, bảo Kinh nghiệm xõy dựng điểm du lịch khảo cổ học của Trung Quốc Kinh nghiệm xõy dựng điểm du lịch khảo cổ học tại Pờru Mục tiờu phỏt triển Phương hướng phỏt triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status