Nghiên cứu thị trường khách du lịch Nhật Bản đối với du lịch Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ THÙY LINH

NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH
NHẬT BẢN ĐỐI VỚI DU LỊCH VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

Người hướng dẫn: TS. NGUYỄN PHÚ ĐỨC HÀ NỘI - 2006 MỤC LỤC
Danh mục các chữ cái viết tắt trong luận văn

9
1.1.1.4. Du lịch Nhật Bản
9
1.1.2. Vài nét về văn hoá Nhật Bản
11
1.2. Ngƣời Nhật Bản trong cộng đồng
14
1.2.1. Đặc điểm tâm lý xã hội của ngƣời Nhật
14
1.2.1.1. Tính cách
14
1.2.1.2. Phong tục tập quán
16
1.2.1.3. Tín ngưỡng và tôn giáo
21
1.2.2. Khẩu vị ăn uống
22 1.2.3. Hấp dẫn của du lịch đối với ngƣời Nhật Bản
23
1.3. Điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch của ngƣời Nhật Bản
28
1.3.1. Thời gian rỗi
28
1.3.2. Khả năng tài chính của du khách Nhật Bản
30
1.3.3. Trình độ dân trí
30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

54
2.3.11. Các tác nhân hạn chế
56
2.4. Thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản và vấn đề đối mặt với kinh
doanh du lịch Việt Nam
58
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
62
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP KHAI THÁC THỊ TRƢỜNG KHÁCH
63 DU LỊCH NHẬT BẢN LÀ THỊ TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM
3.1. Xây dựng mô hình chiếm lĩnh thị trƣờng khách du lịch Nhật
Bản
63
3.2. Định hƣớng khai thác thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản là thị
trƣờng trọng điểm
66
3.3. Giải pháp khai thác thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản là thị
trƣờng trọng điểm
71
3.3.1. Đẩy mạnh công tác xúc tiến tuyên truyền, quảng bá du
lịch
71
3.3.2. Đa dạng hoá và nâng cao chất lƣợng sản phẩm
73
3.3.3. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ lao động
74
3.3.4. Tăng cƣờng đầu tƣ kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ

OL: Office Lady (nữ viên chức)
GDP : Gross Domestic Product ( Tổng sản phẩm quốc nội)
JNTO: Japan National Tourist Organization (Tổ chức du lịch quốc gia Nhật
Bản)
JATA: Japan Association Travel Agencies (Hiệp hội lữ hành Nhật Bản)
SPDL: sản phẩm du lịch
KS: khách sạn
VC: vận chuyển
TNDL: tài nguyên du lịch
CQDL: cơ quan du lịch
TO: Tour Operator (Ngƣời điều hành tour)
TA: Travel Agent (Đại lý du lịch)
OTOP: One town one product (mỗi huyện một sản phẩm)
OVOP: One village one product (mỗi làng một sản phẩm)
DANH MỤC BẢNG VÀ TÊN BẢNG
TRONG LUẬN VĂN

Bảng 1. Số lƣợng khách Nhật Bản đến Việt Nam (2002 - 2006) – tr 45
Bảng 2. Mục đích đi du lịch của ngƣời Nhật Bản – tr 46
Bảng 3. Số lần đến Hà Nội của khách Nhật Bản – tr 47
Bảng 4. Phân loại khách đến Hà Nội theo độ tuổi – tr 47

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

du lịch Việt Nam cần có giải pháp cụ thể, thiết thực, ổn định và khả thi. Hiện
nay vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về trị trƣờng trọng điểm này.
Từ yêu cầu bức xúc của việc phát triển thị trƣờng du lịch Nhật Bản, tác giả
mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thị trƣờng khách du lịch
Nhật Bản đối với du lịch Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm các giải pháp để thu hút
khách du lịch Nhật Bản trở thành thị trƣờng trọng điểm của du lịch Việt Nam.
Luận văn tiếp cận và nghiên cứu thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản với
mục đích góp phần phát triển thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản đến Việt
Nam, làm cho thị trƣờng khách Nhật thực sự là một thị trƣờng trọng điểm của
du lịch Việt Nam trong những năm tới.
Luận văn này chỉ là nghiên cứu thực trạng và khả năng khai thác thị
trƣờng khách du lịch Nhật Bản đối với Việt Nam cũng nhƣ đƣa ra những giải
pháp nhằm thu hút khách ngày càng đông hơn. Hiện nay Nhật Bản là thị
trƣờng du lịch giàu tiềm năng và sẽ phát triển rất mạnh trong những thập niên
tới nhất là thị trƣờng du lịch nƣớc ngoài (outbound). Nhật là một quốc gia có
số ngƣời đi du lịch hàng năm rất lớn (trên 17 triệu), chi phí của khách du lịch
Nhật Bản rất cao. Nghiên cứu về thị trƣờng khách Nhật Bản, luận văn đề cập
những vấn đề về đất nƣớc, con ngƣời và văn hoá Nhật Bản, đƣa ra những
nhận định đánh giá về thị trƣờng khách du lịch Nhật Bản, về tâm lý, đặc tính
và xu hƣớng thị trƣờng khách Nhật Bản. Đồng thời luận văn cũng đƣa ra một
số phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm thu hút khách đến du lịch Việt Nam đông hơn. Ngoài ra đề tài cũng phân tích các nguyên nhân cơ bản nhằm giúp
hoàn thiện các giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp
phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu nhập cho ngành.


Luận văn muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công
cuộc xây dựng và phát triển ngành du lịch nƣớc nhà, từng bƣớc hội nhập vào
du lịch khu vực và quốc tế. Mặt khác, những kết quả nghiên cứu của luận văn
là nguồn tƣ liệu tham khảo cho ngƣời nghiên cứu thị trƣờng và giúp cho các
doanh nghiệp du lịch Việt Nam có thêm những thông tin về thị trƣờng khách
Nhật trong việc kinh doanh du lịch nhằm đem lại kết quả tốt đẹp.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tiểu kết, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục
(bảng biểu, tranh ảnh minh hoạ), luận văn gồm có 3 chƣơng:
CHƢƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ CẦU DU LỊCH NHẬT BẢN
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP KHAI THÁC THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN
LÀ THỊ TRƢỜNG TRỌNG ĐIỂM CHƢƠNG 1
CẦU DU LỊCH NHẬT BẢN
1.1. Nhật Bản dƣới góc nhìn du lịch
1.1.1. Giới thiệu về đất nƣớc và con ngƣời Nhật Bản
1.1.1.1. Đất nước

và an toàn nhất. Dân số Nhật Bản tính đến ngày 12/10/1999 vào khoảng 126.500.000
ngƣời, đứng hàng thứ 9 trên thế giới. Trong đó 49% dân số sống tập trung ở
ba thành phố Tokyo, Osaka, Nagoya và các thành phố xung quanh đó.
Phần lớn nƣớc Nhật là những ngọn núi cao với thung lũng hẹp ở giữa.
Núi là một trong những cảnh thiên nhiên đẹp nhất Nhật Bản. Dãy Alps Nhật
Bản trên đảo Honshu rất nổi tiếng nhƣng nổi tiếng là Fuji san - có nghĩa là
“Núi rƣợu trƣờng sinh”, ngọn núi cao nhất Nhật Bản (3776 m). 1/10 tổng số
núi lửa trên thế giới nằm ở Nhật Bản. Rừng núi chiếm đến 2/3 diện tích nƣớc
Nhật, các triền núi thƣờng núi thƣờng có độ dốc cao và đƣợc bao bọc bởi cây
cối um tùm. Toàn bộ đƣờng bờ biển và đại dƣơng khiến cho cá trở nên quan
trọng trong bữa ăn cũng nhƣ trong nền kinh tế Nhật Bản. Nhật Bản còn có
những nguồn suối nóng tự nhiên đƣợc sử dụng để tắm dƣỡng sinh và nhiều
sông, hồ đẹp tuyệt vời.
Vì các hòn đảo trải dài nhƣ vậy nên thời tiết biến đổi rất nhiều. Ở miền
Bắc, mùa đông giá lạnh và có tuyết, mùa hè ôn hoà. Còn những đảo ở phía
Nam nhƣ Kyushu, Okinawa ấm áp hơn nhiều. Mùa xuân (haru) bắt đầu vào
tháng 3 khi cây cối ra hoa và ngày thì ấm dần lên. Sau mùa xuân là đến mùa
hè (natsu), kéo dài từ khoảng tháng 5 cho tới đầu tháng 9. Từ tháng 9 đến hết
tháng 11 là mùa thu (aki), trời trở nên khô và mát dịu hơn mặc dù đôi khi vẫn
có mƣa thậm chí còn có cả những trận cuồng phong hoặc những cơn bão lớn.
Vào mùa đông (fuyu), từ cuối tháng 11 đến tháng 2, những trận gió lạnh từ
vùng Xibiri và Mông Cổ thổi tạt ngang qua nƣớc Nhật.
Sự đa dạng về đất đai và khí hậu tạo nên sự phong phú tuyệt vời về thực
vật. Một số loài hoa và cây cối có ý nghĩa quan trọng trong đời sống Nhật
Bản. Hoa anh đào biểu trƣng cho vẻ đẹp chóng lụi tàn, cây thông là biểu trƣng
sự trƣờng thọ còn cây tre tƣợng trƣng cho khả năng vƣợt qua khó khăn và
phát triển mạnh mẽ.

mến ạ” [46,11].
Ngƣời Nhật rất tôn trọng truyền thống và đƣợc giáo dục rất cẩn thận. Họ
mong muốn giữ gìn nguyên vẹn phép xử thế và các hình thức văn hoá đã
đƣợc thừa hƣởng từ những thế hệ trƣớc. Ngƣời Nhật có thái độ đặc biệt trân
trọng đối với nếp sống đã hình thành cũng nhƣ đối với di sản văn hoá. Tính
truyền thống của ngƣời Nhật có ảnh hƣởng trên nhiều phƣơng diện đối với
sinh hoạt - xã hội - chính trị của nƣớc Nhật.
Ngƣời Nhật thích tất cả những gì cụ thể, có hình ảnh. Ở ngƣời Nhật, tính
cụ thể của tƣ duy gắn liền ở mức độ lớn với những đặc điểm của ngôn ngữ và
văn tự. Ngƣời Nhật có truyền thống sống cùng một gia đình lớn có cả ông bà,
cha mẹ và con cái. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc thƣờng xuyên với thiên nhiên
phong phú và đa dạng đã làm cho ngƣời Nhật có thói quen “cảm nhận cái đẹp,
thích thƣởng thức cái đẹp”. Ngƣời Nhật coi giống liễu rủ (Yanaki) là linh mộc
vì nó là giống cây đem lại may mắn và thành đạt gợi đƣợc trong lòng ngƣời
Nhật khoái cảm thẩm mỹ. Ngƣời Nhật cũng quan tâm đến năm sinh, tháng đẻ,
tƣớng số, mặt, chỉ tay để đoán biết tính cách hậu vận và tƣơng lai. Nếu ngƣời
Nhật ở phía Nam (Osaka) thích vui vẻ xã giao rộng, thích thƣơng mại thì
ngƣời phía Bắc lại kín đáo, không thích hỏi về tuổi tác và đời tƣ của
ngƣời khác.
Có thể nói thiên nhiên Nhật Bản đẹp nhƣng thật khắc nghiệt đối với con
ngƣời. Những hòn đảo nghèo nàn này không đƣợc hƣởng thiên thời và địa lợi.
Vậy mà những con ngƣời Nhật Bản nhƣ càng đƣợc tôi luyện thêm trong thiên
nhiên nghiệt ngã, họ đã vƣơn lên một cách quả cảm, trở thành một trong
những dân tộc đứng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế, kỹ thuật. 1.1.1.3. Kinh tế – xã hội
Nhật Bản là nƣớc rất nghèo nàn về tài nguyên trong khi dân số thì quá
đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ
trong chiến tranh, nhƣng với các chính sách phù hợp kinh tế Nhật Bản đã

- Đền Toshogu ở Nikko, Tochigi, rất nổi tiếng với những bức chạm
gỗ tinh xảo.
- Khu Ginza ở Tokyo – không cho xe cộ qua lại vào ngày Chủ nhật và
các ngày lễ – là một địa điểm đƣợc ngƣời ta rất thích đến để mua
sắm cũng nhƣ dạo chơi.
- Mọi trẻ em Nhật đều mơ ƣớc đƣợc đến thăm khu Disneyland ở
Chiba, Tokyo.
- Tƣợng Đại Phật (Daibutsu) cao 13,35 mét ở Kamakura,Kanagawa,
đƣợc dựng năm 1252.
- Đền Kinkakuji phủ vàng ở Kyoto đƣợc xây dựng lần đầu vào
thế kỷ 14.
- Toà thƣợng điện và chùa ở đền Horyuji tại Nara đƣợc xây dựng từ
thế kỷ thứ 7.
- Đảo Nakanoshima là trung tâm hoạt động kinh doanh ở Osaka.
- Một phần lâu đài Himeji đƣợc xây dựng lần đầu vào thế kỷ 14, gợi
nhớ đến hình ảnh một con diệc trắng nhƣ tuyết.
- Các đụn cát Tottori chỉ là một trong nhiều phong cảnh khác nhau ở
Nhật Bản.
- Công viên tƣởng niệm hoà bình ở Hiroshima là nơi tƣởng niệm
những nạn nhân khi thành phố bị bom nguyên tử phá huỷ năm 1945. - Lễ hội Hakata Dontaku đƣợc tổ chức từ ngày mùng 3 đến mùng 4
tháng 5 ở Fukuoka trên đảo Kyushu.
- Những vỉa san hô và vùng biển trong xanh quanh các hòn đảo cận
nhiệt đới ở Okinawa.

1.1.2. Vài nét về văn hoá Nhật Bản
Nền văn hoá và các đặc điểm tính cách của mỗi dân tộc đều chịu ảnh
hƣởng của các điều kiện lịch sử, địa lý và khí hậu.

ngƣời Nhật đã có sự khát khao đối với các nền văn minh khác và trong lịch sử
tiến hoá của mình, ngƣời Nhật hoan nghênh các yếu tố văn hoá nƣớc ngoài
mà không gạt bỏ các tập tục và truyền thống đã có. Có thể nói, nhân dân Nhật
Bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiến văn hoá của các nền văn minh lớn
trên thế giới. Sự dễ dàng tiếp thu văn hoá nƣớc ngoài là một truyền thống của
Nhật Bản đã có từ lâu đời. Đó là truyền thống không đóng cửa, không bảo
thủ, không cực đoan nhƣng cũng không đánh mất cốt cách của dân tộc mình.
*Tình yêu thiên nhiên
Thiên nhiên luôn luôn là ngƣời bạn gần gũi và quen thuộc đối với ngƣời
Nhật. Mặc dù họ từng dạy học sinh từ cấp tiểu học rằng: “Thiên nhiên không
dành cho nước ta những ưu đãi. Tất cả tương lai là ở trong tay các bạn” [7,
40] nhƣng họ không coi thiên nhiên là một lực lƣợng đối lập tàn khốc. Quan
niệm hoà vào thiên nhiên này là phù hợp với cách nhìn của những ngƣời dân
sống trên một quốc đảo có khí hậu ôn hoà và đầy mƣa. Tinh thần hoà hợp với
thiên nhiên nằm trong bản chất của ngƣời Nhật, đi vào triết học và tôn giáo
của họ, trong cảm xúc và sự thƣởng thức thiên nhiên của họ. Thiên nhiên
cũng chiếm một vị trí lớn trong văn học và hội hoạ Nhật Bản. *Thích những cái gì đơn giản, nhỏ nhắn, tinh tế và khéo léo hơn là
những thứ to lớn, lộng lẫy và hiển nhiên.
Một trong những phong cách thẩm mỹ của nghệ thuật Nhật Bản là sự tế
nhị, đơn giản và gián tiếp. Sự tế nhị hàm ý không thật hiển nhiên và đòi hỏi
nghiên cứu kỹ những gì đáng trân trọng.
Công viên của Nhật đƣợc thiết kế sao cho giống tự nhiên và không đƣa
vào đó những dáng vẻ nhân tạo. Đó là một điều khác với phƣơng Tây. Ở Nhật
Bản, không chỉ trong cảnh quan kiến trúc mà trong các hình thức nghệ thuật
khác, tính tự nhiên hết sức đƣợc coi trọng và đánh giá cao.
Trà đạo Nhật Bản có truyền thống hàng thế kỷ là một thứ nghệ thuật,
đồng thời là một trò tiêu khiển có tính thẩm mỹ. Tinh thần cơ bản của việc

trình giao lƣu văn hoá nói riêng. Hơn nữa, trong bối cảnh quan hệ kinh tế
Nhật - Việt đã đạt đƣợc những thành công nhất định, đây chính là thời điểm
chúng ta phải nâng cao hiểu biết về Nhật Bản, phải có kế hoạch đào tạo
chuyên gia trong lĩnh vực này. Hy vọng đến một thời điểm nào đó ngƣời Việt
Nam sẽ quen với âm nhạc Gagaku (âm nhạc cung đình xa xƣa), biết thế nào là
Bunraku, là Kabuki, Buto đồng thời ngƣời Nhật Bản cũng có thể phân biệt
đâu là chèo, tuồng, ca trù và đặc biệt là nhã nhạc cung đình Huế
của Việt Nam.

1.2. Ngƣời Nhật Bản trong cộng đồng
1.2.1. Đặc điểm tâm lý xã hội của ngƣời Nhật
1.2.1.1. Tính cách
- Đặc điểm chung:
Ngƣời Nhật rất yêu lao động và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực hoạt động,
lao động là đặc điểm quan trọng nhất trong tính cách dân tộc Nhật. Yêu thiên nhiên: tình gắn bó với thiên nhiên của ngƣời Nhật Bản có sắc
thái tín ngƣỡng và tôn giáo trong tiềm thức dân gian. Đối với ngƣời Nhật, mỗi
loại cây và hoa đều có ý nghĩa tƣợng trƣng. Thông, tre và mận biểu tƣợng tuổi
thọ, sự lâu bền. Hoa cúc nở muộn và lâu tàn thƣờng dùng để mừng thọ và
cũng là hoa biểu tƣợng của hoàng gia. Tre từ xƣa vốn đƣợc nhân dân tôn kính,
đƣợc coi là nơi có thần ở. Tre và măng đƣợc thờ ở các đền Thần đạo. Đi ngắm
hoa, ngắm cảnh thiên nhiên là một phong tục đẹp của ngƣời dân Nhật Bản.
Tính cách dân tộc Nhật còn đƣợc thể hiện ở sự thông minh, cần cù, khôn
ngoan. Bản sắc cộng đồng cao hơn bản sắc cá nhân. Trong tính cách của
ngƣời Nhật, những yếu tố tƣơng phản, đối lập hiện lên một cách rõ rệt, sắc
nét, quyết liệt: “Người Nhật có thể thưởng thức cái đẹp mong manh của hoa
anh đào và cái ánh thép lạnh người của một thanh bảo kiếm” [24, 116].
Tâm tính của ngƣời Nhật còn đƣợc thể hiện qua lối sống truyền thống

sắp xếp nhà cửa, cách ăn mặc và sự bài trí trong phòng. Tất cả đều mang dấu
ấn nghiêm túc và trật tự. Khắp nơi đều sạch sẽ lạ thƣờng. Tính cẩn thận và
tính ƣa sach sẽ kết hợp với tính tằn tiện là cơ sở để có đƣợc những kỹ xảo nổi
tiếng trong thực tiễn sản xuất của ngƣời Nhật - những kỹ xảo cho phép họ tạo
ra các sản phẩm với độ chính xác và hoàn hảo đáng kinh ngạc, khiến nhiều
hãng nƣớc ngoài phải ghen tị. Ở đây còn phải kể đến tính ham học hỏi của
ngƣời Nhật. Ngƣời Nhật đƣợc dạy cách nhận thức bản chất của sự việc mà
không cần đến trừu tƣợng hoá, vì thế nên sự ham học hỏi của ngƣời Nhật
cũng mang tính cụ thể. Có thể điều này có liên quan trực tiếp đến những đặc
điểm trong ý nguyện sáng tạo của họ.

1.2.1.2. Phong tục tập quán Do điều kiện tự nhiên và xã hội, những phong tục tập quán đã định hình
trong các cộng đồng. Phong tục tập quán là những qui ƣớc sinh hoạt phần lớn
không thành văn đƣợc cả cộng đồng tuân thủ. Nó khá bền vững trƣớc thời
gian và làm nên dấu hiệu sinh hoạt có tính đặc thù của từng dân tộc. Phong
tục tập quán của địa phƣơng, của sắc tộc cũng là một nhu cầu tâm lý, một nét
tâm lý. Nắm đƣợc phong tục tập quán của một địa phƣơng thì sẽ dễ nhập
cuộc, dễ hoà đồng, tránh đƣợc những phản ứng tiêu cực trong tâm lý ngƣời
bản địa. Ví dụ: đến nhà ngƣời Nhật tuyệt nhiên không đƣợc đi thẳng vào
phòng khi chƣa để giày dép và áo khoác ở ngoài, đến phòng ngƣời châu Âu
muốn vào nhất thiết phải gõ cửa xin phép, sang đất Campuchia phải chắp tay
trƣớc ngực chào chứ không chìa tay ra bắt.
Nƣớc Nhật là một tấm gƣơng phản ánh sự thần kỳ về một tinh thần nỗ
lực vô bờ bến hƣớng về tƣơng lai của một đất nƣớc đang trong cảnh lạc hậu,
nghèo nàn.
- Trong cuộc sống thƣờng nhật ngƣời Nhật lịch lãm, gia giáo, chu tất,
kiên trì, căn cơ, ham học hỏi. Nguyên tắc sống của họ là “Biết được chỗ cần

lịch sự.
- Khi ngƣời Nhật trò chuyện với nhau, họ thƣờng tìm một vật trung gian
nào đó để nhìn. Đó có thể là một cuốn sách, một đồ trang sức, một lọ hoa.
- Ngƣời Nhật tiếp thu phong tục quốc gia khác rất nhanh. Họ thích học
tiếng nƣớc họ tới du lịch. Họ hài lòng khi chủ nhà thể hiện sự giao tiếp bằng
tiếng Nhật. Khi trở lại, họ sẽ chọn nơi họ đã ở lần trƣớc nếu nhƣ họ đã đƣợc
vui lòng.
- Phụ nữ Nhật rất sung sƣớng khi bạn tặng họ lời khen là “Mỹ nhân
tuổi tỵ”. - Ngƣời Nhật rất tin vào tƣớng số, ngƣời dân rất kiêng kị con số 4. Trong
các khách sạn, cầu thang máy, bệnh viện, trƣờng học số phòng đều có sự
nhảy cóc bỏ qua con số 4. Lý do thật đơn giản, trong tiếng Nhật “shi” có
nghĩa là số 4 và cũng có nghĩa là chết. Ngƣợc lại, ngƣời Nhật rất thích những
số lẻ nhƣ 1, 3, 5, 7, 9. Đi du lịch ngƣời ta thích chọn toa lẻ của tàu, số ghế lẻ
và buồng khách sạn lẻ. Đặc biệt tặng hoa, hoặc quà cho ngƣời thân, ngƣời ta
cũng thích tặng theo số lẻ.
- Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) thƣờng kết hợp cái đẹp với cái khắc khổ,
gợi ra cảnh sông núi bao la với một ít nƣớc và một cành hoa. Dân tộc nào
cũng có tục cắm hoa nhƣng ở Nhật hoa cắm trong bình phải có một phong
cách, một cách sắp xếp đƣợc qui định. Cắm hoa cũng là một nghệ thuật phải
dày công học tập. Ngày nay, ở Nhật Bản có từ 300 đến 400 trƣờng phái cắm
hoa khác nhau.
- Ngƣời Nhật rất thích hoa anh đào “Sakura”. Đây là nét thẩm mỹ rất tự
hào của ngƣời Nhật: “những gì đẹp trong thiên nhiên cũng như trong cuộc
đời thường hiếm khi tồn tại lâu. Chính sự tàn phai sớm cũng là nét đẹp vì nỗi
luyến tiếc về những cuộc đời đã tắt lụi đúng ở đỉnh cao rực rỡ của nó chính là
cái cao đẹp nhất” [20, 56]. Hoa anh đào còn là biểu tƣợng của tinh thần tập
thể, với sức sống tràn đầy. Mỗi năm một lần, ngƣời Nhật có thú vui cùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status