ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THANH PHƢƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI
CỦA NGƢỜI KHMER TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3. Mục đích nghiên cứu 13
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 14
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 15
6. Bố cục luận văn 15
7. Đóng góp mới của luận văn 16
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI 18
1.1. Những vấn đề lý luận về du lịch lễ hội 18
1.1.1. Lễ hội 18
1.1.1.1. Khái niệm lễ hội 18
1.1.1.2. Đặc trưng của lễ hội 20
1.1.1.3. Ý nghĩa của lễ hội 21
1.1.2. Du lịch lễ hội 22
1.1.2.1. Khái niệm du lịch 22
1.1.2.2. Du lịch lễ hội 24
1.1.3. Vai trò của lễ hội trong phát triển du lịch văn hóa 25
1.1.4. Các nguyên tắc khai thác và phát triển du lịch lễ hội 26
1.2. Những lĩnh vực nghiên cứu du lịch lễ hội 27
1.2.1. Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch lễ hội 27
1.2.2. Vấn đề sản phẩm du lịch lễ hội và việc xây dựng sản phẩm du lịch
đặc thù 28
1.2.3. Vấn đề thị trường và khách du lịch lễ hội 29
1.2.4. Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch lễ hội 30
1.2.5. Vấn đề nhân lực trong du lịch lễ hội 31
1.2.6. Vấn đề tuyên truyền, quảng cáo du lịch lễ hội 31
1.2.7. Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch lễ hội 32
1.2.8. Du lịch lễ hội và điểm đến du lịch 34
1.3. Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch lễ hội 34
1.3.1. Một số kinh nghiệm phát triển du lịch lễ hội ở Việt Nam 34
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm trong phát triển du lịch lễ hội ở các
tỉnh Sóc Trăng 88
Tiểu kết 93
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LỄ HỘI CỦA NGƢỜI KHMER TỈNH SÓC TRĂNG 95
3.1. Căn cứ khoa học để đề xuất giải pháp 95
3.1.1. Chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam 95
3.1.2. Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Sóc Trăng 96
3.1.3.Một số căn cứ khác 97
3.2. Những giải pháp cụ thể phát triển du lịch lễ hội của người Khmer tỉnh
Sóc Trăng 98
3.2.1. Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất du lịch lễ hội của người
Khmer tỉnh Sóc Trăng 98
3.2.2. Giải pháp về sản phẩm du lịch lễ hội của người Khmer tỉnh Sóc
Trăng 101
3.2.3. Giải pháp về thị trường và khách du lịch lễ hội của người Khmer
ở Sóc Trăng 103
3.2.4. Giải pháp về nhân lực du lịch lễ hội của người Khmer Sóc Trăng104
3.2.5.Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch lễ hội của
người Khmer ở Sóc Trăng 106
3.2.6. Giải pháp về bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch lễ hội của
người Khmer ở Sóc Trăng 107
3.2.7. Giải pháp về tổ chức, quản lý du lịch lễ hội của người Khmer ở
Sóc Trăng 109
3.3. Kiến nghị 111
Tiểu kết 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
4
NĐ-CP
Nghị định Chính Phủ
5
Nxb
Nhà xuất bản
6
TCN
Trước công nguyên
7
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
8
UBND
Ủy ban nhân dân
9
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
10
USD
United States Dollars
Đô la Mỹ
11
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
hội Thác Côn, lễ Nhập Hạ, lễ Xuất Hạ,… là nét sinh hoạt văn hoá, thể thao độc đáo
và đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer. Hàng năm, Sóc Trăng thu hút rất đông du
khách từ mọi miền đất nước đến tham quan du lịch. Tuy nhiên, vấn đề phát triển du
lịch lễ hội của người Khmer tỉnh Sóc Trăng vẫn chưa được quy hoạch và quan tâm
đầu tư đúng mức để lễ hội của người Khmer thực sự là “điểm sáng”, điểm du lịch
văn hóa đặc trưng ở ĐBSCL. Do vậy, vấn đề phát triển du lịch lễ hội của người
Khmer tỉnh Sóc Trăng là một vấn đề cần thiết và cấp bách nhằm đưa du lịch tỉnh
nhà thoát khỏi sự trùng lắp, đơn điệu của sản phẩm du lịch tại các tỉnh ĐBSCL.
Chính vì thế, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch lễ hội của người
Khmer tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Hơn thế nữa, từ nhỏ tôi đã được sống gần phum, sóc của người Khmer và có nhiều
bạn bè là người Khmer nên phần nào hiểu được phong tục tập quán và lễ hội của
người Khmer, nhận diện được nét đặc sắc trong lễ hội truyền thống của người
Khmer càng thôi thúc tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Đề tài được thực hiện với
mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào sự phát triển du lịch lễ hội của
người Khmer tỉnh Sóc Trăng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về lễ hội, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về lễ hội nói chung
và lễ hội cụ thể ở một số địa phương. Các công trình nghiên cứu đã được công bố
như:
- Tác giả Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng đã công bố quyển Lễ hội truyền
thống trong đời sống xã hội hiện đại, năm 1994. Công trình này bao gồm 34 bài
phát biểu, báo cáo khoa học tại Hội thảo khoa học quốc tế khái quát sinh hoạt lễ hội
ở một số nước, một số vùng văn hóa Việt Nam và vai trò của lễ hội truyền thống
trong xã hội hiện đại.
- Tác giả Hoàng Thanh Minh có quyển Văn hoá lễ hội Việt Nam, với tập 3
là Lễ hội truyền thống tại miền Nam, xuất bản năm 2010. Quyển sách đã giới thiệu
một số lễ hội truyền thống ở miền nam tiêu biểu như vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, các
lễ hội, lễ hội đua ghe truyền thống, ca hát cải lương
- Tác giả Nguyễn Sơn Anh có quyển Lễ hội cầu phúc cầu lành ở Việt Nam,
huyết thống và quan hệ hôn nhân, gia đình trong phum, các nghi lễ sinh hoạt cộng
đồng và ý thức cộng đồng trong phum sóc của người Khmer. Thông qua tác phẩm,
người đọc sẽ có một cái nhìn bao quát, toàn diện và đầy đủ về hình thái tổ chức xã
hội truyền thống, cùng sự phát triển xã hội của người Khmer ở ĐBSCL.
Tác giả Trần Văn Bổn là một người có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa
Khmer với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như Phong tục và nghi lễ vòng
đời người Khmer Nam Bộ được nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2002,
Một số lễ tục dân gian người Khmer ĐBSCL vào năm 1999. Trần Văn Bổn với vai
trò là hội viên hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam đã có nhiều
công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer phản ánh một cách sâu sắc, toàn diện về
phong tục, lễ nghi, bản sắc văn hóa của người Khmer vùng ĐBSCL. Quyển Một số
lễ tục dân gian người Khmer ĐBSCL được tiếp cận nghiên cứu dưới hình thức giới
thiệu về nguồn gốc, xuất xứ của tục hội thông qua truyền thuyết, truyện cổ tích của
người Khmer. Đây là một cách tiếp cận nghiên cứu về văn hóa Khmer rất đặc trưng,
mang phong cách riêng của tác giả.
Năm 1999, tác giả Sơn Phước Hoan có công trình nghiên cứu Các lễ hội
truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ (Song ngữ). Công trình này chủ yếu
khái quát về lễ hội truyền thống của dân tộc Khmer trên cơ sở các lễ hội được tác
giả sưu tầm. Vào những năm 1999 - 2000, Sơn Phước Hoan có công trình nghiên
cứu cho cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ về Vai trò của chùa đối với
đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ. Công trình này đã được Ủy ban
Dân tộc và Miền núi có quyết định phê duyệt năm 1999. Nội dung chủ yếu nghiên
cứu về Phật giáo trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam Bộ và vai trò
của chùa đối với đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ.
Bên cạnh đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu khác về người Khmer, về
văn hóa của người Khmer như tác giả Trường Lưu với tác phẩm Văn hóa người
Khmer vùng ĐBSCL, Đoàn Thanh Nô có quyển Người Khmer ở Kiên Giang,
Huỳnh Ngọc Trảng có tác phẩm Người Khmer tỉnh Cửu Long; và một số công
trình nghiên cứu của Viện văn hóa như Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam
Bộ, Văn hóa người Khmer vùng ĐBSCL,…
- Đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch lễ hội của người
Khmer ở tỉnh Sóc Trăng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng được tập trung nghiên cứu là tài nguyên và thực trạng du lịch lễ
hội của người Khmer tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu về lễ hội và du lịch lễ hội của người
Khmer trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi thời gian: Các hoạt động lễ hội và du lịch lễ hội của người Khmer
ở Sóc Trăng từ năm 2007 đến 2011.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu là phương pháp truyền thống thường
được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu về du lịch nói riêng.
Nguồn tài liệu được tác giả thu thập và xử lý rất đa dạng và phong phú, bao gồm
sách, các tài liệu đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ, báo đài và
những tài liệu được đăng tải trên các trang web như Viện nghiên cứu Phát triển Du
lịch, Cổng thông tin điện tử Sóc Trăng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc
Trăng,…
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, tác giả tiến hành lựa chọn, phân
tích, so sánh, tổng hợp các số liệu, thông tin nhằm kế thừa một cách có chọn lọc
những thành tựu nghiên cứu của quá khứ.
+ Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhiều lần đến Sóc Trăng để thu thập
tài liệu, chụp ảnh, phỏng vấn du khách, tham quan tìm hiểu các điểm du lịch lễ hội
của người Khmer tỉnh Sóc Trăng. Dựa vào phương pháp khảo sát thực địa, tác giả
có thể phát huy tính độc lập và nghiên cứu vấn đề mang tính toàn diện và sâu sắc
hơn.
+ Phương pháp điều tra xã hội học
Dựa vào phương pháp điều tra xã hội học, tác giả thu thập được thông tin đa
dạng, nhanh chóng, khách quan và được cập nhật. Điều tra xã hội học thông qua các
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LỄ HỘI
1.1. Những vấn đề lý luận về du lịch lễ hội
1.1.1. Lễ hội
1.1.1.1. Khái niệm lễ hội
Người Việt Nam nói chung và người Khmer nói riêng, kinh tế chủ yếu dựa
vào nghề lúa nước, lao động theo mùa vụ. Vì thế, trong khoảng thời gian nông nhàn
người dân thường tổ chức rất nhiều lễ hội. Đây vừa là dịp để nông dân vui chơi giải
trí sau một mùa thu hoạch mệt nhọc; vừa cầu mong thần linh phù hộ cho mùa màng
bội thu vào năm sau. Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân và mùa thu với khí trời
mát mẻ, muôn hoa đua nở; cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp hòa cùng không khí tưng
bừng của lễ hội. Trong sinh hoạt lễ hội thường gắn với một cộng đồng dân cư nhất
định như lễ hội của người Khmer, người Tày, Nùng,… Chính vì vậy, lễ hội ở Việt
Nam vô cùng phong phú và mang tính tộc người rất rõ nét. Lễ hội được xem như
một bảo tàng văn hóa sống động lưu giữ các giá trị và sinh hoạt văn hóa như các trò
chơi, các tín ngưỡng dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian… Về khái niệm
lễ hội, hiện nay có nhiều cách tiếp cận, cách giải thích khác nhau.
Theo Lễ hội Truyền thống và hiện đại của Thu Linh – Đặng Văn Lung [35,
tr.59-62], lễ hội là ghép nghĩa của hai từ lễ và hội. Lễ là nhằm biểu thị sự kính
trọng. Sự kính trọng thể hiện trong những mối quan hệ giữa người và người, giữa
người với thế giới tự nhiên. Lễ có hai cấp độ là lễ (lễ phép) trong sinh hoạt thường
ngày và lễ (cuộc lễ) nhân những sự kiện đặc biệt. Lễ trong những sự kiện đặc biệt là
hướng về một sự kiện lịch sử. Phần nghi lễ có ý nghĩa quan trọng và linh thiêng chứa
đựng những giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mỹ và triết học sâu sắc của
cộng đồng. Nó mang ý nghĩa to lớn trong việc hấp dẫn du khách. Phần nghi lễ chính
là hạt nhân của lễ hội.
Phần hội diễn ra những hoạt động biểu tượng của tâm lý cộng đồng, văn hóa
dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội và thiên
nhiên. Trong hội thường có các trò vui chơi giải trí, thi đấu, biểu diễn,… mang lại niềm
vui, niềm phấn khởi cho mọi người. Đây chính là điểm tạo sự hấp dẫn, thu hút du
khách đến với lễ hội.
Như vậy, lễ hội được hiểu là một hình thức sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng
truyền thống của cộng đồng. Theo nhà nghiên cứu lễ hội Lê Trung Vũ, có 60 lễ hội
truyền thống đặc sắc trên tổng số 8.000 lễ hội lớn nhỏ ở Việt Nam. Trong đó, các lễ
hội cổ truyền, thường được diễn ra để tưởng nhớ công ơn các vị anh hùng đã có
công chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, Bày tỏ tấm lòng tri ân đối với các bậc
tiền nhân, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng như nhắc nhở
những công lao to lớn của các vị thánh nhân. Đặc biệt, mỗi lễ hội sẽ gắn với làng,
xã, địa danh, vùng đất có một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng
đồng nhân dân. Chính vì vậy, lễ hội có sức hấp dẫn đối với du khách không kém gì
các di tích lịch sử, văn hóa.
1.1.1.2. Đặc trưng của lễ hội
Lễ hội là biểu tượng văn hóa làng của người Kinh, hay phum, sóc của người
Khmer. Bởi vì, lễ hội bao hàm các diện mạo văn hóa, bản sắc văn hóa và giá trị
sáng tạo văn hóa và chúng hòa quyện, đan xen với nhau. Bản chất của văn hóa dân
gian là văn hóa làng xã, bản mường, phum sóc, buôn làng của từng cộng đồng tộc
người. Do đó, lễ hội của mỗi tộc người có biểu tượng riêng như lễ hội Ooc Om Boc
có biểu tượng là cốm dẹp, lễ hội Hoa Đăng có biểu tượng là đèn, lễ hội Gióng – Phù
Đổng có biểu tượng là ngựa sắt.
Lễ hội có phạm vi rộng, phong phú và đa dạng về thể loại và nội dung cũng
như hình thức. Lễ hội được xem là tiêu biểu cho văn hóa dân gian. Bởi vì, lễ hội
mang tính liên ngành, đa ngành, quy tụ thành lễ hội. Theo Văn hóa dân gian Việt
đức của lễ hội và tạo nên ý thức tốt đẹp cho con người.
Lễ hội là nơi hội tụ văn hóa. Bởi vì, lễ hội huy động phần lớn các thành tố
văn hóa dân gian như ca, múa, nghệ thuật biểu diễn truyền thống dân tộc, điêu khắc,
kiến trúc, hội họa, thủ công mỹ nghệ và các trò chơi diễn xướng dân gian, sân khấu,
ngôn từ, lễ nghi,… Thông qua lễ hội, con người có dịp nhận ra bản chất, giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc. Ngoài ra, lễ hội cũng là dịp để thi tài, biểu dương văn
hóa nghệ thuật của dân tộc.
Lễ hội mang ý nghĩa sáng tạo văn hóa. Trong không khí vui tươi, phấn khởi
của lễ hội, sẽ tạo nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà thơ, nghệ nhân sáng tạo nghệ
thuật.
Điều quan trọng nhất là lễ hội mang ý nghĩa giải trí cho con người. Giá trị
đích thực mà lễ hội mang đến cho con người là sự phấn khởi, vui vẻ, tinh thần sảng
khoái và có ý thức gắn bó với cộng đồng dân tộc. Vì thế, trong lễ hội, phần hội
thường chiếm nhiều thời gian nhất. Những trò chơi, biểu diễn nghệ thuật,… mang ý
nghĩa giải trí của lễ hội tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển du lịch lễ hội.
Ngoài ra, lễ hội còn mang ý nghĩa tái hiện hiện thực. Các sinh hoạt văn hóa
của cộng đồng như tín ngưỡng, phong tục, tôn giáo, nghi lễ,… tồn tại riêng biệt,
được tái hiện và liên kết chặt chẽ trong lễ hội. Do đó, lễ hội được ví như bức tranh
tổng thể, hoành tráng tái hiện lại hiện thực cuộc sống đầy sinh động, chứa đựng bản
sắc văn hóa riêng của từng cộng đồng. Lễ hội tái hiện hiện thực và phản ánh thế
giới tâm linh của con người, ước vọng và cầu mong hạnh phúc, ấm no.
Tóm lại, lễ hội là tổng hòa tất cả những giá trị vật chất và tinh thần của cộng
đồng tộc người thông qua các hiện tượng, các đề tài như lịch sử, nông nghiệp, tín
ngưỡng, tôn giao, văn nghệ, các hội thi và hoạt động thể thao truyền thống.
1.1.2. Du lịch lễ hội
1.1.2.1. Khái niệm du lịch
Du lịch là một khái niệm và có nhiều quan niệm khác nhau. Bởi vì, du lịch
cũng là một hiện tượng lịch sử xã hội mà nó có quá trình phát triển lâu dài và có
mối quan hệ rộng rãi. Du lịch là một sự vật, hiện tượng có lý do tồn tại và triết lý
sinh tồn. Triết lý sinh tồn của du lịch là “lạ”. Bởi vì, con người đi du lịch để tìm
thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. [8, tr. 13]
Theo Nhập môn khoa học du lịch của PGS.TS Trần Đức Thanh, tách thuật
ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó, du lịch có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất, du lịch là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian
rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe,
nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc
tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên
nghiệp cung ứng.
Thứ hai, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu
cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian
rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe,
nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. [60, tr. 14]
Từ những khái niệm khác nhau về du lịch, cho chúng ta cái nhìn toàn diện
hơn về du lịch. Du lịch không chỉ là một ngành kinh tế, mà còn là một hiện tượng
xã hội. Bởi vì, du lịch góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, phục hồi sức
khỏe cho cộng đồng, mang lại sự cố kết cộng đồng của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, giáo dục tinh thần đoàn kết, tình yêu quê hương đất nước, Chính vì thế, nếu
chỉ cho rằng du lịch một ngành kinh tế và mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận thì các
nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn sẽ bị khai thác một cách triệt để, dẫn đến
tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên. Đây là một thảm họa được báo trước và cần
phải khắc phục để bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch và khai thác chúng theo
hướng bền vững và lâu dài.
1.1.2.2. Du lịch lễ hội
Dựa trên cơ sở lý luận về lễ hội và khái niệm về du lịch, ta có thể hiểu du lịch
lễ hội là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
mục đích tham quan, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi giải trí trong một
dịp lễ hội tại một địa điểm nhất định, vào một khoảng thời gian xác định.
Ngày nay, lễ hội là một tài nguyên du lịch nhân văn được xác định là quan
trọng trong việc tạo dựng sản phẩm du lịch đặc thù, đặc trưng của tỉnh so với các
tỉnh bạn trong khu vực và trong nước. Bởi vì, lễ hội chính là “linh hồn” của dân tộc,