Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỊ HƢỜNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2012
2.1.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh 40
2.1.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng làng nghề 43
2.2. THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ 45
2.2.1. Công tác tổ chức quản lý du lịch tại các làng nghề 45
2.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 47
2.2.3. Số lƣợng khách và cơ cấu khách du lịch làng nghề 51
2.2.4. Các hình thức của hoạt động du lịch làng nghề 54
2.2.5. Hệ thống sản phẩm du lịch của các làng nghề 57
2.2.6. Vai trò của du lịch làng nghề Ninh Bình trong phát triển kinh tế - xã hội 61
2
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH HIỆN NAY 62
2.3.1. Khả năng quản lý hoạt động du lịch của các làng nghề 62
2.3.2. Khả năng liên kết giữa các làng nghề ở Ninh Bình và các công ty du lịch. 64
2.3.3. Một số vấn đề khác 71
Tiểu kết chương 2 73
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG
NGHỀ TẠI NINH BÌNH 75
3.1. MỘT SỐ THÔNG TIN DỰ BÁO 75
3.2. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH
NINH BÌNH 77
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ THEO
HƢỚNG BỀN VỮNG Ở NINH BÌNH 79
3.3.1. Hoạt động quản lý du lịch 79
3.3.2. Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 81
3.3.3. Xây dựng hệ thống sản phẩm làng nghề phục vụ du lịch 84
3.3.4. Xây dựng các chƣơng trình du lịch làng nghề 90

Tiểu thủ công nghiệp
TP
Thành phố
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
THPT
Trung học phổ thông

4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU STT

5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là
sản phâ
̉
m độc đáo của nền văn hóa Viê
̣
t Nam - Một dân tộc đã có bề dầy lịch
sử hàng ngàn năm với nề n văn hóa lấy cô
̣
ng đồng làng làm đơn vị tô
̉
chức xã

̣
i cơ bản . Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều sản phâ
̉
m không
chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hóa và lịch
sử. Đội ngũ nghệ nhân , hê

6
một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của các nghệ nhân
lớn tuổi. Những ý nghĩa văn hóa truyền thống của mỗi sản phẩm không được
các thế hệ sau tiếp thu và phát huy một cách đúng mực dẫn đến mất bản sắc
nghề. Thậm chí còn có xu hướng thương mại hóa, chỉ hướng tới mục tiêu lợi
nhuận làm cho giá trị văn hóa của sản phẩm thủ công truyền thống bị suy
giảm, thương hiệu của làng nghề bị phai mờ.
Bảo tồn làng nghề thủ công truyền thống đặt ra yêu cầu bảo lưu và
giải quyết hài hòa các loại nguồn vốn để làng nghề có thể tiếp tục phát triển
bền vững. Và một trong những giải pháp để đảm bảo yêu cầu này là gắn
việc phát triển làng nghề với phát triển du lịch để tạo sức hấp dẫn riêng đối
với du khách.
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Ninh Bình với đại đa số cư dân
nông thôn, là tỉnh có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi nên các ngành
nghề nông thôn, làng nghề ở Ninh Bình cũng có những giá trị đóng góp nhất
định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và giúp giải quyết công ăn
việc làm, cải thiện đời sống cho người dân trong thời gian nông nhàn đồng
thời gìn giữ được các giá trị văn hóa truyền thống. Điển hình là làng nghề
thêu ren Ninh Hải, làng nghề chiếu cói Kim Sơn, chạm khắc đá Ninh Vân
Tại đây, nhiều hộ gắn bó với nghề như một công việc mang lại thu nhập chính
trong gia đình.
Các làng nghề tại Ninh Bình có nhiều tiềm năng có thể phát triển
phục vụ trong một chương trình du lịch để du khách được tìm hiểu những
nét văn hóa của người dân bản địa, tham gia vào những công đoạn tạo sản
phẩm. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch làng nghề còn gặp nhiều khó khăn
hạn chế về khâu tiếp thị, trình độ, kinh nghiệm của hướng dẫn viên, ban
quản lý làng nghề cùng nhiều yếu tố khác chi phối; và thực tế hiện nay
cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu vấn đề này trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình.


hợp với UBND TP. Hà Nội tổ chức ngày 17/9/2012 trong khuôn khổ Lễ hội
Làng nghề, Phố nghề diễn ra ở Hà Nội, các đại biểu đã tập trung bàn về các
8
giải pháp phát triển bền vững làng nghề, trong đó có vai trò của ngành Du
lịch; Bài viết “Ý Yên (Nam Định) phát triển làng nghề gắn với bảo tồn di sản
văn hóa” Báo Nam Định ngày 27/02/2011.
Về các làng nghề tại Ninh Bình, mới chỉ có những đề tài tiếp cận dưới
góc độ kinh tế - xã hội của làng nghề, như đề tài “Nghề thủ công truyền thống
chạm khắc đá ở xã Ninh Vân - Hoa Lư Ninh Bình từ 1986 đến 2003” (Luận
văn Th.S Khoa học Lịch sử) của Phạm Thị Loan. Các công trình nói trên cung
cấp rất nhiều thông tin, kiến thức để phục vụ cho việc thực hiện đề tài nghiên
cứu phát triển du lịch làng nghề tại Ninh Bình.
3. Nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để hoàn thiện đề tài cần thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Nghiên cứu diện mạo và phân loại làng nghề tại Ninh Bình.
+ Phân tích các tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề của
Ninh Bình.
+ Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra đề xuất một số giải pháp cho sự
phát triển du lịch làng nghề ở Ninh Bình.
- Mục tiêu nghiên cứu:
+ Khai thác, phát triển một lợi thế của tỉnh Ninh Bình đó là làng nghề
nhằm nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của địa phương.
+ Tìm ra một hướng đi ưu thế nhất cho các làng nghề trong xu thế hội
nhập và phát triển.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu các làng nghề có tiềm

6. Đóng góp của luận văn
- Đánh giá đúng thực tiễn giá trị tài nguyên và thực trạng phát triển của
các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất một hướng đi có lợi nhất cho các làng nghề, đó là khai thác
phát triển gắn với phát triển du lịch bền vững.
- Công trình sẽ là tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương trong
việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội của tỉnh.
10
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề và tiềm năng du lịch
làng nghề ở tỉnh Ninh Bình
Chƣơng 2: Thực trạng du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Chƣơng 3: Giải pháp góp phần phát triển du lịch làng nghề trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình.

11
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ VÀ
TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ
1.1.1. Một số vấn đề về làng nghề và du lịch làng nghề
1.1.1.1. Khái niệm làng nghề
Cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về “làng nghề”.

nghề phải chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương. [8, tr.6 ]
Có thể thấy khái niệm làng nghề là một danh từ ghép bao gồm hai yếu
tố là làng và nghề, trong đó:
Làng là một khối dân cư ở nông thôn lập thành một đơn vị có đời sống
riêng về nhiều mặt, là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến. Làng là
kiểu tổ chức dân cư đặc trưng, là nơi quần tụ sinh sống của những người có
cùng quan hệ huyết thống, có địa vực không gian sinh sống nhất định và có
phong tục tập quán riêng.
Phần lớn các làng xưa kia đều là nơi sản xuất nông nghiệp, sau này do
đòi hỏi của nhu cầu cuộc sống một số nghề phi nông nghiệp xuất hiện. Lúc
đầu mới là các nghề thủ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong
địa bàn như đan lát, thêu ren, gốm, nghề mộc… sau đó các ngành nghề được
mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ, và xuất hiện các làng làm nghề buôn bán.
Trong các làng nghề này có các hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề vào
thời gian nông nhàn, hoặc có các hộ chuyên sản xuất nghề và tách ra khỏi
nông nghiệp dần dần trở thành nguồn thu nhập chính và chiếm ưu thế. Như
vậy, yếu tố nghề trong làng nghề là công việc chuyên môn được làm theo sự
phân công của xã hội. Bao gồm tất cả các nghề tạo ra thu nhập, tạo ra việc
làm và là những nghề phi nông nghiệp, chủ yếu là các làng nghề thủ công.
Làng nghề có thể hiểu đơn giản là làng của các cư dân nông thôn làm
nghề nông có thêm một hoặc một số nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số
lao động và thu nhập so với nghề nông chủ yếu là các nghề sản xuất thủ công
như dệt, đan lát, xây dựng, mộc, chạm khắc, gốm sứ…
Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành
bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định,
13
trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính,


14
Thứ nhất, dựa vào thời gian hình thành nghề ta có thể chia ra làng nghề
bao gồm có làng nghề mới với nghề mới được du nhập hoặc phát triển trong
điều kiện kinh tế phát triển đặc biệt trong thời kỳ đổi mới chuyển sang nền
kinh tế thị trường và làng nghề truyền thống với các nghề đã tồn tại từ lâu đời
trong lịch sử và tồn tại đến ngày nay. Có những làng nghề truyền thống đã
xuất hiện cách đây hàng trăm năm hay hàng nghìn năm.
Thứ hai, dựa vào nhóm ngành nghề sản xuất có thể phân thành một số
nhóm nghề lớn sau:
- Nhóm nghề thủ công mỹ nghệ: nghề gốm, nghề chạm khắc đá, nghề
đúc đồng, nghề rèn, nghề dệt, nghề đóng thuyền, nghề kim hoàn, nghề dệt
chiếu, nghề may mặc, nghề thêu - ren, nghề làm tranh dân gian, nghề in, nghề
khảm trai, nghề làm trống, nghề sơn mài, nghề mây tre đan, nghề gốm …
- Nhóm nghề công cụ sản xuất, vũ khí: nghề làm cày, bừa; nghề làm
cung, súng, nỏ…
- Nhóm nghề làm thuốc và chế biến thực phẩm: nghề thuốc nam, nghề
nấu rượu, nghề làm nước mắm, nghề làm cốm, nghề làm bún, nghề giò - chả,
nghề làm bánh - mứt - kẹo…
Thứ ba, phân cấp theo mức độ phát triển, một cách khái quát có thể
chia các làng nghề thành bốn loại như sau:
- Những làng nghề có cấp độ phát triển mạnh và có sự lan tỏa sang các
vùng lân cận.
- Những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định.
- Những làng nghề có nhiều khó khăn, tiếp tục gặp nhiều khó khăn
nhưng vẫn có cơ hội tồn tại, phát triển.
- Những làng nghề đang trong quá trình suy thóai và có khả năng mất đi.
Việc phân loại các làng nghề giúp nhóm các làng nghề, theo những tiêu
chí nhất định, phù hợp với mục đích nghiên cứu để có những hướng tiếp cận
một cách có hiệu quả nhất.

hội đầu tư, hợp tác kinh doanh (nếu du khách là thương gia), đồng thời đó
cũng là dịp để du khách lấy lại sự cân bằng về tinh thần sau những bức xúc
căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra. Thông qua
16
chuyến viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những
giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống (bởi tính điển hình của làng nghề), và
có thể hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước con người Việt Nam”. [11, tr.19]
Làng nghề nhìn từ góc độ du lịch có các khía cạnh cần lưu ý như sau:
Thứ nhất: Làng nghề mang tính chất nông thôn. Các làng nghề thường
nằm ở các vùng nông thôn, vùng ngoại ô hoặc có nguồn gốc nông thôn.
Thứ hai: Nét nổi trội của làng nghề là tài nguyên nhân văn với những
tinh hoa công nghệ truyền thống, những di tích lịch sử - văn hóa (ví dụ: miếu
thờ tổ nghề, đình ), phong tục tập quán, lễ hội Những tài nguyên nhân văn
này thường mang sắc thái đặc thù bởi truyền thống công nghệ của ngôi làng đó.
Thứ ba: Làng nghề cũng được coi như một cảnh quan du lịch mà du
khách khi tới đó được thưởng thức những yếu tố tự nhiên và nhân tạo cấu trúc
nên làng nghề đó.
Thứ tư: Làng nghề cũng giống như một môi trường sinh thái khi nó
nằm hoàn toàn trong một kiến trúc nông thôn với những đặc thù về cảnh quan
tự nhiên, môi trường, cách thức sinh hoạt của dân làng
Như vậy, hoạt động du lịch làng nghề vừa có tính chất của du lịch thôn
quê, vừa có tính chất của du lịch văn hóa đồng thời lại có cả những yếu tố của
du lịch sinh thái.
Tóm lại, du lịch làng nghề hay cụ thể hơn là du lịch làng nghề truyền
thống là loại hình du lịch diễn ra tại các làng nghề còn đang hoạt động sản
xuất các sản phẩm truyền thống nhằm mục tiêu tìm hiểu, chiêm ngưỡng,
thưởng thức về các giá trị văn hóa, cảnh quan làng nghề và quá trình sản xuất

nhưng chúng lại hàm chứa các quan niệm tư tưởng triết học phương Đông, triết lý
về trời - đất - con người, quan niệm về tôn giáo và thần quyền. Sản phẩm thủ công
truyền thống Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng, tình cảm và quan
niệm thẩm mỹ, bản sắc văn hóa của dân tộc.
Một đặc thù khác, rất quan trọng của hàng thủ công truyền thống, đó là tính
cá biệt, tính riêng mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng địa
phương tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng. Chẳng hạn, mỗi làng nghề dùng
18
những chất liệu khác nhau, riêng biệt, những nét riêng đó lại có sự thay đổi theo
thời gian lịch sử.
Hàng thủ công là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ nhứng thành tựu kỹ
thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng
tạo nghệ thuật. Mô hình có thể biểu diễn như sau:
Phương pháp thủ công tinh xảo + Sự sáng tạo nghệ thuật
=> Hàng thủ công mỹ nghệ
Những yếu tố văn hóa đậm nét của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên
một vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Ngoài ra, các sản phẩm thủ công truyền thống còn mang lại giá trị kinh tế cho
người thợ thủ công, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của cư dân
địa phương.
Như vậy, việc khôi phục, bảo tồn các làng nghề truyền thống từ lâu đời
đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền là một yêu cầu quan trọng hiện nay.
Đối với những làng nghề đang trong quá trình suy vong và có khả năng mất
đi, xác định bảo tồn là chính, coi đó là tài sản văn hóa quốc gia; tiến hành điều
tra, xác định và xây dựng dự án để duy trì một vài hộ hoặc nhóm, nghệ nhân
hoạt động trình diễn nghề nhằm phục vụ yêu cầu du lịch, văn hóa. Thực hiện
quy hoạch và xây dựng các tuyến, điểm du lịch gắn với làng nghề trong cả

bao gồm các giá trị cảnh quan môi trường, các giá trị văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần của làng nghề. Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản
của văn hóa và được biểu hiện sinh động trong các giá trị văn hóa trong làng
nghề mà du lịch đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ để thực hiện sự kết nối.
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc bảo tồn di
sản văn hóa làng nghề bằng nguồn thu từ các hoạt động. Nhưng sự bùng nổ số
lượng khách tham quan, sự phát triển các dịch vụ thiếu kiểm soát, sự buôn
bán trái phép đồ cổ, sự mai một truyền thống do giao lưu, tiếp xúc… lại là
mối nguy cơ đối với các giá trị văn hóa làng nghề. Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi
phục, gìn giữ những tài sản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu
bắt buộc đối với hoạt động du lịch.
20
Quan điểm của ngành du lịch là trong bảo tồn nên tuân thủ triệt để các
quy định quốc tế và trong nước, tránh tác động nhiều vào di tích và cố gắng
duy trì, bảo quản nguyên trạng di tích như khi phát hiện là tốt nhất. Đặc biệt
ngày nay, khách du lịch quốc tế và ngay cả trong nước có trình độ văn hóa
cao nên thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị xác thực của làng nghề.
Tóm lại, đối với các làng nghề hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo và phát
huy giá trị các làng nghề cần được quan tâm đúng mức. Phát triển du lịch là
yêu cầu tự nhiên nhằm phát huy giá trị các làng nghề. Tuy nhiên phát triển du
lịch cần tuân thủ những nguyên tắc về bảo tồn. Việc nghiên cứu phát triển
những sản phẩm du lịch mới tại các khu vực có làng nghề là cần thiết nhằm
làm tăng thêm giá trị cho các làng nghề, làm đa dạng hóa các hoạt động du
lịch tại những nơi này, có thể mang lại lợi ích nhiều mặt cho bản thân làng
nghề và cho cộng đồng dân cư.
1.1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển du lịch làng nghề
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp và có sự liên kết chặt chẽ với các

có tọa độ 19º 50’ đến 20º 27’ vĩ độ Bắc, 105º 32’ đến 106º 27’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp hai tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa,
phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa và biển Đông, phía Đông giáp tỉnh Nam Định.
Ninh Bình có diện tích tự nhiên hơn 1.400 km², với bờ biển dài hơn 15km.
22
Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình (Nguồn: Website tỉnh Ninh Bình)
(nguồn: website Sở Văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình)
Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh
tế và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng

mưa diễn ra vào mùa hạ tập trung đến trên 85% lượng mưa trong năm, mùa
khô lượng mưa thấp chiếm khoảng 15%) với lượng mưa trung bình năm trên
1.800mm, phân bố không đều trong năm nhưng phân bố khá đều trên toàn bộ
diện tích; có thời gian triều lên ngắn (khoảng 8 giờ) và chiều xuống dài
(khoảng 16 giờ) với biên độ triều trung bình từ 1,6m đến 1,7m. Nhìn chung,
khí hậu và chế độ thủy văn tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội.
- Tài nguyên sinh vật:
Ninh Bình có sinh thái rừng đặc sắc, như: vườn quốc gia Cúc Phương,
khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, rừng đặc dụng núi đá Hoa
24
Lư và rừng ngập mặn ven biển. Nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao, với các
loài động thực vật đặc hữu như voọc quần đùi trắng ở Vườn quốc gia Cúc
Phương được ghi vào sách đỏ. Đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển
nghiên cứu về gen, các giống loài sinh học, phát triển đa dạng dịch vụ du lịch
sinh thái rừng.
- Tài nguyên nước:
Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình bao gồm hệ thống sông Đáy, sông
Hoàng Long, sông Bôi, sông Ân, sông Vạc, sông Lạng, sông Vân Sàng
Tài nguyên nước mặt khá dồi dào, thuận lợi cho việc tưới, phát triển
sản xuất nông nghiệp và dịch vụ giao thông vận tải thủy. Nguồn nước ngầm
chủ yếu thuộc địa bàn huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp. Đặc biệt nước
khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho
Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch
với trữ lượng lớn. Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở
độ nóng 53–54độ C. Nước khoáng Cúc Phương có thành phần
Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh.
1.2.1.2. Điều kiện xã hội, nhân văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status