ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2014
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 9
1.1. Khái niệm 9
1.1.1. Làng nghề truyền thống 9
1.1.2. Du lịch làng nghề truyền thống 10
1.2. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống 10
1.2.1. Nhu cầu của du khách 10
1.2.2. Tài nguyên du lịch làng nghề 12
1.2.3. Nguồn nhân lực 13
1.2.4. Chính sách phát triển du lịch làng nghề truyền thống 13
1.2.5. Cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật 15
1.2.6. Vốn cho phát triển du lịch 15
1.3. Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống 16
1.4. Khái quát về du lịch làng nghề ở Việt Nam 18
1.4.1. Làng nghề Việt Nam 18
1.4.2. Tình hình phát triển du lịch làng nghề ở Việt Nam 19
1.4.3. Bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề truyền thống 22
Tiểu kết chương 1 29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG TỈNH BẮC NINH 30
2.1. Khái quát về du lịch Bắc Ninh 30
2.1.1. Giới thiệu chung 30
2.1.2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh 32
2.2. Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh 38
2.2.1. Nhu cầu của du khách 38
2.2.2. Tài nguyên du lịch 39
2.2.3. Nguồn nhân lực 48
3.3. Một số kiến nghị 90
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2006 - 2013 34
Bảng 2.2: Số lượng các làng nghề tỉnh Bắc Ninh - năm 2013 40
Bảng 2.3: Cơ cấu ngành nghề ở làng nghề tỉnh Bắc Ninh - 2013 41
Bảng 2.4: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2007 - 2013) 48
Bảng 2.5: Mức độ tham gia các hoạt động du lịch làng nghề truyền thống 49
Bảng 2.6: Tỉ lệ cơ sở sản xuất tại làng nghề nhận được sự hỗ trợ trong 50
Bảng 2.7: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bắc Ninh (2006 - 2013) 52
Bảng 2.8: Lượng khách du lịch đến Phù Lãng và Đông Hồ giai đoạn 2009-2013 56
Bảng 2.9: Hình thức đi du lịch của khách khi đến làng nghề 58
Bảng 2.10: Số lần khách đến làng nghề 59
Bảng 2.11: Điểm hấp dẫn du khách khi đến với làng nghề 61
Bảng 2.12: Tình hình tiêu dùng các loại hình dịch vụ du lịch của LN gốm Phù Lãng
và tranh Đông Hồ 66
LNTT Làng nghề truyền thống
LT - TP Lương thực - thực phẩm
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NXB Nhà xuất bản
SX Sản xuất
TP Thành phố
TX Thị xã
UBND Ủy ban nhân dân
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du
lịch mới xuất hiện trong thời gian gần đây đã và đang thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ
giữa các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh chung, Du lịch Việt Nam đã có sự
chuyển biến mạnh mẽ và tăng trưởng liên tục, đóng góp đáng kể cho phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội nước ta, khẳng định chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng,
Nhà nước về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc
đổi mới, CNH - HĐH đất nước.
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, LNTT đang dần lấy lại vị trí quan trọng của
mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia. Mỗi LN
như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay
thế; một cách giới thiệu sinh động về đất nước và con người của mỗi vùng miền, địa
phương. Phát triển du lịch LN chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được
nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Những lợi
ích to lớn của việc phát triển du lịch LN không chỉ thể hiện ở những con số tăng
trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế
nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc. Đó
là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai.
pháp, kiến nghị nhằm khai thác tốt các thế mạnh của làng nghề vào việc phát triển
du lịch.
Với mong muốn thúc đẩy du lịch Bắc Ninh
phát triển hơn nữa, đồng thời
góp phần phát huy giá trị văn hóa truyền thống tỉnh Bắc Ninh, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “ Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh”
làm nội dung nghiên cứu.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Liên quan đến LN và du lịch LN thời gian qua đã có những công trình
nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Học viên đã tìm hiểu một số công trình
khoa học của các nhà khoa học để có thể vận dụng những kết quả khoa học đã đạt
được vào lĩnh vực nghiên cứu của luận văn, cụ thể là:
Thứ nhất là những nghiên cứu về LN và sự phát triển LN, gồm có:
3
- “Làng nghề truyền thống Việt Nam” [21], tác giả Phạm Côn Sơn.
- “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH-
HĐH” [31] của tác giả Trần Minh Yến.
- “Phát triển cụm công nghiệp nông thôn từ làng nghề truyền thống” [2] của tác giả
Đào Thế Anh.
- “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” [1]
tác giả Bạch Thị Lan Anh.
- “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng Sông
Hồng”[7], tác giả Nguyễn Trí Dĩnh (chủ biên).
- “Một số vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề”[17] của tác giả Liên Minh.
- “Thực trạng và những giải pháp nhằm phát triển làng nghề tỉnh BắcNinh” [16], Kỷ
yếu hội thảo khoa học của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
- ''Cho vay vốn để hỗ trợ các làng nghề truyền thống một hướng đi đúng góp phần
đẩy mạnh CNH- HĐH nông thôn Bắc Ninh''[28], tác giả Nguyễn Thế Thư.
- “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc
Đánh giá chung:
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và giải quyết
vấn đề dưới những góc độ khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu các LNTT nhằm phục
vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thì có ít công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đó
là lý do học viên chọn đề tài “ Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền
thống tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch LN tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở đó, đề
xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm khai thác tốt các thế mạnh của LN cho phát
triển du lịch, tạo ra những động lực thu hút mạnh mẽ lượng khách du lịch và đưa về
nguồn thu cao hơn từ du lịch cho địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết những vấn đề sau:
5
- Tổng quan cơ sở lí luận về du lịch LNTT.
- Khảo sát, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tại các LNTT của tỉnh Bắc Ninh.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại một số LNTT tỉnh Bắc Ninh và
những tác động của du lịch tới kinh tế-xã hội và môi trường của khu vực.
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tại một số điểm nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc
Ninh và cụ thể hóa ở làng nghề gốm Phù Lãng và làng nghề tranh Đông Hồ.
- Phạm vi khoa học:
+ Phân tích cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn về LNTT và du lịch LNTT.
+ Phân tích tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch LNTT tỉnh Bắc Ninh.
+ Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại các LNTT của Bắc Ninh.
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã
hội và bảo vệ môi trường. Đề tài vận dụng quan điểm này nhằm đưa ra những giải
pháp phát triển du lịch bền vững tại các LNTT tỉnh Bắc Ninh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập tài liệu từ nhiều nguồn
khác nhau một cách có chọn lọc để đảm bảo tính đa dạng và chính xác của thông
tin; đồng thời phân tích xử lí các số liệu thu thập được nhằm phục vụ cho mục đích
nghiên cứu của đề tài.
5.2.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu
địa bàn. Xuất phát từ bản đồ hành chính, các kết quả nghiên cứu lại được thể hiện
thông qua các bản đồ, biểu đồ mới để phản ánh các đặc điểm không gian - thời gian
của các thành phần. Bao gồm: bản đồ hành chính tỉnh, bản đồ du lịch tỉnh.
7
5.2.3. Phương pháp thực địa
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã đi thực tế khảo sát, quan sát thực địa
trên địa bàn nghiên cứu. Qua kết quả điều tra thực tế đối chiếu lại một số nhận định,
kịp thời điều chỉnh hướng nghiên cứu khi cần thiết. Học viên đã tiến hành điều tra
khảo sát làm 3 đợt, đợt 1-tiến hành vào dịp tháng giêng (sau tết Nguyên Đán), đợt
2-vào tháng 3, đợt 3- vào tháng 6.
5.2.4. Phương pháp điều tra xã hội học
Trên cơ sở xây dựng bảng hỏi có nội dung hợp lí, tác giả đã khảo sát lấy ý kiến
của cộng đồng địa phương, khách du lịch và doanh nghiệp du lịch trên địa bàn
nghiên cứu. Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin định lượng chung về sự
biến đổi mức sống, thu nhập, cơ cấu lao động nghề nghiệp…ở một số địa bàn tại
khu vực. Việc chọn hộ điều tra được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống, đảm bảo tính khách quan. Cụ thể, đối với khách du lịch, ở mỗi LN được điều
làng nghề truyền thống.
Chƣơng 2: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tại các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại các làng nghề của tỉnh
Bắc Ninh. 9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.1. Khái niệm
1.1.1. Làng nghề truyền thống
- Làng nghề
LN, theo quan niệm của tác giả Mai Thế Hởn, là một cụm dân cư sinh sống
trong thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản
xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá
trị sản phẩm của toàn làng [11, tr.11-13].
Theo TS.Trần Nhạn trong “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì “du lịch văn hóa
là loại hình du lịch mà khách du lịch muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn
hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện… bao gồm hệ thống đình, chùa, lễ
hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp” [20, tr.15].
Từ đó, ta có thể hiểu du lịch LNTT như sau:du lịch LNTT là loại hình du lịch
văn hóa mà du khách muốn thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có
liên quan mật thiết đến một LNTT của dân tộc.
Nghiên cứu phát triển du lịch LNTT là nhằm chỉ ra những điều kiện và yếu tố
ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch LNTT, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm
thúc đẩy du lịch LNTT phát triển.
1.2. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống
1.2.1. Nhu cầu của du khách
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch là
nhu cầu (hay còn gọi là động cơ) của du khách. Thông thường du khách đi du lịch
vì các lý do như có kỳ nghỉ, thăm bạn bè người thân, đi tìm hiểu học tập, kinh
doanh hay lý do thể thao. Đối với các nhà kinh doanh du lịch, việc nắm được lý do
đi du lịch của du khách là vô cùng quan trọng. Có nắm được nhu cầu thì mới có thể
đưa ra những sản phẩm có khả thi tiêu thụ nhanh. Động cơ đi du lịch của du khách
có thể chia làm các nhóm khác nhau: động cơ đáp ứng nhu cầu tự nhiên như nghỉ
ngơi, thể thao và các nhu cầu có liên quan đến sức khỏe con người; các động cơ văn
hóa (nguyện vọng của du khách muốn được tìm hiểu, học hỏi về thiên nhiên, nghệ
11
thuật, tôn giáo truyền thống…của vùng đến du lịch); động cơ giao tiếp (thăm thân,
nhu cầu muốn được làm quen ) [27, tr.57-76].
Các nhân tố tự thân chính làm cho nhu cầu du lịch tăng là thời gian rỗi, thu
nhập và trình độ dân trí. Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian rỗi.
Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để có thể tham gia vào
hoạt động du lịch. Hiện nay, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng lên do
thời gian rỗi gia tăng khiến cho ngành du lịch cũng từ đó càng thêm phát triển. Khi
triển như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Khách thường đến đông hơn vào những
ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ tết hay vào những dịp lễ hội của LN.
1.2.2. Tài nguyên du lịch làng nghề
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm là tài
nguyên du lịch tự nhiên (bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật) và
tài nguyên du lịch nhân văn (bao gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, các lễ
hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa - thể thao).
Đối với hoạt động du lịch, LNTT được xem là một loại tài nguyên du lịch nhân
văn. Mỗi LNTT là một môi trường văn hóa, kt - xh và công nghệ truyền thống lâu
đời có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch,
phong phú thêm các hoạt động du lịch để hấp dẫn du khách góp phần vào mục tiêu
phát triển chung. Có thể nói rằng, du lịch LNTT sẽ là địa chỉ lý tưởng để du khách
tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán, lễ hội, chiêm
ngưỡng và mua sắm những sản phẩm thủ công truyền thống.
Tài nguyên du lịch LNTT bao gồm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
truyền thống, các di tích lịch sử - văn hóa gắn với hoạt động sản xuất của làng
nghề; hệ thống đình, chùa; truyền thống văn hoá, lễ hội, phong tục tập quán của
dân cư làng nghề (yếu tố này ảnh hưởng lớn đến tính đặc thù, tính nhân văn của sản
phẩm [13, tr.43-56]). Sản phẩm du lịch của làng nghề được cụ thể hóa thành sản
phẩm thủ công mỹ nghệ theo hướng thỏa mãn nhu cầu của du khách. Các sản phẩm
thủ công mỹ nghệ của LNTT đều là sản phẩm của phương pháp thủ công tinh xảo
với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân. Vì thế các sản phẩm thủ công truyền
thống vừa mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc vừa mang tính đặc thù riêng của
13
mỗi làng nghề. Tuy nhiên để tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch đến với
LNTT thì các sản phẩm của làng nghề cần phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu
của du khách về mẫu mã, kích thước, trọng lượng, độ bền, sự an toàn…
1.2.3. Nguồn nhân lực
Nghệ nhân và đội ngũ thợ làng nghề là yếu tố rất quan trọng trong việc phát
khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển nghề thủ công truyền thống có giá
trị tiêu biểu.
Ngày 24/11/2000 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg
“Về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn”, sau này
được thay thế bởi Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 “Về
phát triển ngành nghề nông thôn” trong đó nêu rõ nhiệm vụ “bảo tồn, phát triển làng
nghề truyền thống”; đồng thời tại Thông tư 116 /2006/TT-BNN ngày 18
tháng12 năm 2006, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã làm rõ khái niệm về
nghề truyền thống “là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm
độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy
cơ bị mai một, thất truyền”. Liên bộ Bộ Nông nghiệp, Bộ Lao động-TBXH, Bộ Văn
hóa thông tin cũng ra Thông tư Số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT, ngày
30 tháng 05 năm 2002 “Hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu và
một số chính sách đối với nghệ nhân” trong đó xác định đối tượng phong danh hiệu
nghệ nhân là “Công dân Việt Nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công
nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam”
Cũng thời gian này, Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày
09.6.2004 “Về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” trong đó xác định
việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho làng nghề được hưởng chính sách khuyến công
của nhà nước và một trong những hoạt động cơ bản của khuyến công là truyền nghề
và phát triển nghề.
Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11 tháng 01
năm 2007 về việc hướng dẫn tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh
hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú. Theo hướng dẫn của Bộ Công nghiệp
thì nghệ nhân là người trung thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN; có phẩm chất đạo
đức tốt, tận tuỵ với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người và
15
đồng nghiệp noi theo; có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề,
sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ; là người thợ giỏi xuất sắc
tranh của các sản phẩm thủ công truyền thống là đòi hỏi cấp thiết, các hộ sản xuất
kinh doanh phải có số lượng vốn khá lớn để đầu tư cải tiến công nghệ, có như vậy
mới tăng được năng suất lao động, tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Mặt khác vốn còn ảnh hưởng tới khả năng cung ứng và nâng cao chất lượng cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và các loại hình phục vụ du lịch để đáp ứng nhu
cầu của khách du lịch. Một LNTT dù có nổi tiếng nhờ vào sản phẩm thủ công mỹ
nghệ độc đáo nhưng hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ (giao thông, cơ sở lưu trú,
ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí…) chưa đáp ứng nhu cầu của du khách thì khả
năng thu hút và lưu giữ khách du lịch sẽ bị hạn chế rất nhiều.
1.3. Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Việc phát triển du lịch LNTT có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển KT -
XH ở địa phương
- Phát triển du lịch LNTT góp phần khai thác các nguồn lực về tài nguyên, vốn
đầu tư, cơ sở vật chất - kỹ thuật ở địa phương.
Ngày nay, xu hướng du lịch trở về với các giá trị truyền thống (du lịch nhân
văn) đang trở nên phổ biến và có sức hấp dẫn khách du lịch. Theo quy định tại điều
13, Luật Du lịch có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, tài nguyên du lịch bao gồm tài
nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa
được khai thác. Trong đó, tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa,
các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, kiến trúc, các
công trình lao động sang tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể
khác có thể được sử dụng vào mục đích du lịch.
Hệ thống các LNTT với các đặc điểm đặc trưng riêng có ngày càng cung cấp
và đáp ứng nhu cầu du lịch nhân văn của khách du lịch nhiều hơn. Điều này đã biến
các LNTT trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm tài
nguyên du lịch cho địa phương.
17
LNTT thường có quy mô sản xuất nhỏ, sử dụng bí quyết và công nghệ sản
xuất truyền thống là chủ yếu nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các điều