ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH YẾN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC,
TỈNH ĐỒNG THÁP Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN THÚY ANH LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô, cán bộ ở khoa Du lịch, khoa Sau Đại học Trường
Đại học KHXH&NV Hà Nội đã động viên và hết lòng giúp đỡ, truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu trong quá trình học tập. Tôi cũng cám ơn Khoa Sau Đại
học, các thầy cô, cán bộ trường Đại học Văn hóa TPHCM đã giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Trần Thúy
Anh, giảng viên của Khoa Du lịch, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội. Người đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin cảm ơn các hộ gia đình, các cá nhân, tập thể trong các làng nghề truyền
thống tại thành phố Sa Đéc đã giúp tôi trong suốt thời gian viết luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên ở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Đồng Tháp và các phòng ban ở UBND thành phố Sa Đéc đã cung cấp cho tôi các số
liệu, thông tin cần thiết cho luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện động viên và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian viết luận văn này. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tới
tất cả những cá nhân, các ban ngành và tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Do thời gian có hạn, luận văn này hẳn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót. Vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô
cùng tất cả bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn Lê Thị Thanh Yến
Ủy ban nhân dân
08
CNH
Công nghiệp hóa
09
HĐH
Hiện đại hóa
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu 6
3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục của luận văn 10
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 11
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan 11
1.1.1. Du lịch 11
1.1.2. Tài nguyên du lịch 12
1.1.3. Sản phẩm du lịch 13
1.1.4. Làng nghề 13
1.1.5. Làng nghề truyền thống 14
1.1.6. Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch 16
2.3.2. Nhìn từ góc độ tài nguyên – môi trường 69
2.3.3. Nhìn từ góc độ xã hội 71
2.3.4. Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước 71
2.3.5. Về sản phẩm du lịch 72
Tiểu kết chương 2 73
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP 74
3.1. Những căn cứ để đưa ra các giải pháp 74
3.1.1. Kế hoạch phát triển tổng hợp kinh tế quốc dân tỉnh 74
3.1.2. Nhu cầu thị trường khách du lịch thế giới và trong nước thời gian tới 76
3.1.3. Thực trạng về khai thác và mức độ thu hút khách du lịch tại các làng nghề
truyền thống trong thời gian qua 76 3
3.2. Các giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp 78
3.2.1. Giải pháp về sản phẩm du lịch 78
3.2.2. Giải pháp về kết cấu hạ tầng du lịch 79
3.2.3. Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 80
3.2.4. Chú trọng công tác quy hoạch phát triển du lịch làng nghề 82
3.2.5. Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn giá trị văn hóa và
khai thác sản phẩm của làng nghề phục vụ phát triển du lịch 83
3.2.6. Giải pháp về vốn 84
3.2.7. Xúc tiến xác lập thương hiệu điểm đến cho làng nghề truyền thống 85
3.2.8. Các giải pháp về cơ chế, chính sách 87
3.2.9. Cải thiện môi trường trong các làng nghề truyền thống 88
3.3. Một số kiến nghị 90
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên,
một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, vấn đề khai thác giá trị văn hóa và tạo ra các sản phẩm độc đáo
phục vụ cho hoạt động du lịch. 5
Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Sa Đéc được bắt đầu từ công cuộc
khẩn hoang của các cộng đồng cư dân di cư từ miền Bắc và miền Trung khoảng thế
kỷ XVII, XVIII. Trải qua tiến trình khai phá đất hoang, kiên cường đấu tranh, đất và
người nơi đây đã hun đúc nên bản lĩnh kiên cường, bất khuất và truyền thống yêu
nước, cách mạng. Quá trình đó bồi đắp nên những giá trị nhân văn qua nhiều thế hệ,
hình thành những giá trị văn hóa truyền thống mang sắc thái riêng. Phát triển làng
nghề gắn với du lịch đã trở thành một điểm nhấn quan trọng trong tiến trình phát
triển du lịch ở thành phố Sa Đéc bởi nó thể hiện được nét văn hóa đặc trưng của
mỗi ngành nghề ở từng khu vực và được nhiều du khách quan tâm.
Hiện nay, thành phố Sa Đéc có 6 LNTT và các LNTT này đã trở thành tiêu
điểm chú ý gắn với hoạt động du lịch thu hút du khách đến tham quan như làng hoa
kiểng Sa Đéc, làng nghề sản xuất bột, làng làm kim hoàn Thành phố Sa Đéc đang
đầu tư phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn các giá trị LNTT, văn hóa dân cư bản
địa và phối hợp chặt chẽ với người dân địa phương trong việc xây dựng, quy hoạch
làng nghề gắn với du lịch
Giá trị của các LNTT là vô cùng to lớn, nó gắn bó mật thiết với hoạt động du
lịch và được xem là tài nguyên của du lịch, song điều quan trọng là việc bảo tồn và
phát huy những giá trị của nó như thế nào để phát triển bền vững trong giai đoạn
hiện nay, làm thế nào để các LNTT góp phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững
thông qua các hoạt động du lịch từ những giá trị văn hóa của làng nghề mang lại, đó
chính là vấn đề cần phải được giải quyết một cách khoa học, biện chứng.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên
ở thành phố Sa Đéc, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch làng
nghiên cứu đã qua cho thấy, thực tiễn các làng nghề ở Sa Đéc còn nhiều bất cập.
Các sản phẩm truyền thống không những là những mặt hàng có giá trị kinh tế cao,
tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động nông thôn, giảm thiểu thời gian nông nhàn,
mà còn có ý nghĩa văn hóa dân tộc sâu sắc. Thành phố Sa Đéc cũng có nhiều tiềm
năng cho phát triển du lịch LNTT như nguồn lao động khéo léo, giàu kinh nghiệm,
nguồn nguyên liệu phong phú… Song tốc độ phát triển các làng nghề như hiện nay
chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt hiện trạng phát triển và trình độ công nghệ 7
cũng như thực trạng quản lý môi trường ở các làng nghề hiện tại là một thách thức
lớn đối với việc phát triển du lịch LNTT ở thành phố Sa Đéc.
Tuy nhiên, các công trình nêu trên chỉ đề cập những mặt nào đó của phát
triển du lịch làng nghề ở tỉnh Đồng Tháp và thành phố Sa Đéc; đồng thời điều
kiện phát triển du lịch hiện nay ở Đồng Tháp và Sa Đéc đã có nhiều thay đổi,
rất cần phải cập nhật và có biện pháp phù hợp với hoàn cảnh mới. Các giải
pháp phát triển du lịch mà các công trình nêu trên đã phát huy tác dụng trong
thời gian qua, nhưng phần lớn vẫn chưa đánh giá hết tiềm năng của du lịch làng
nghề. Vì vậy, đề tài của luận văn là bước tiếp nối để góp phần vào phát triển du
lịch Đồng Tháp nói chung và du lịch LNTT Sa Đéc nói riêng một cách bền
vững thông qua việc phân tích, đánh giá và nêu những giải pháp để phát huy và
khai thác tiềm năng phát triển du lịch của các LNTT một cách khoa học.
3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát
triển làng nghề với phát triển du lịch, luận văn đi sâu phân tích thực trạng và tiềm
năng phát triển du lịch của các LNTT tại thành phố Sa Đéc hiện nay. Từ đó, đề xuất
những giải pháp góp phần phát triển loại hình du lịch làng nghề trên địa bàn thành
phố Sa Đéc nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
bền vững; bảo tồn nguồn tài nguyên; tạo được thị trường khách phong phú, đa dạng
hơn; đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài cho ngành du lịch; nâng cao cuộc sống
của dân cư địa phương cùng ý thức và trách nhiệm của họ ở các LNTT nói riêng và
cộng đồng xã hội nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động du lịch tại các LNTT tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Phát triển du lịch LNTT tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch, các vấn đề liên quan
đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của các LNTT; cơ chế quản lý, quan điểm 9
định hướng và giải pháp nhằm vừa bảo tồn làng nghề vừa phát triển kinh tế du lịch
bền vững từ việc khai thác có hiệu quả những giá trị của các LNTT trên địa bàn
thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là các LNTT trên địa bàn thành phố Sa
Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Về thời gian: Các số liệu phục vụ đánh giá thực trạng quản lý, bảo tồn và
khai thác phát triển du lịch của các LNTT: từ năm 2009 đến 2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận
văn. Những thông tin, các nguồn tài liệu, văn liệu cho phép chúng ta hiểu biết
những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này. Trên cơ sở những tài liệu phong phú
đó, việc tổng hợp sẽ giúp chúng ta có một tài liệu toàn diện, khái quát về vấn đề
nghiên cứu. Đặc biệt hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh, việc khai thác
các nguồn tài liệu quan trọng qua mạng internet sẽ là nguồn tài liệu quý hỗ trợ cho
việc tổng hợp các vấn đề nghiên cứu.
những tiềm năng du lịch của LNTT ở Sa Đéc, có tham khảo chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh; phương hướng và nhiệm vụ phát triển du lịch của Sở Văn
hóa – Thể Thao và Du lịch Đồng Tháp, Đề án quy hoạch phát triển Du lịch thành
phố Sa Đéc và Đề án quy hoạch phát triển thành phố hoa Sa Đéc. Các tính toán dự
báo chủ yếu ở phương hướng trung bình, đó là phương án khả thi phù hợp với thực
tiễn của LNTT ở thành phố Sa Đéc trong phát triển loại hình du lịch làng nghề.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu , Kết luâ
̣
n, Danh mu
̣
c tài liệu tham khảo và Phụ lục , nội
dung chính của luâ
̣
n văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch làng nghề truyền
thống.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại thành
phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố
Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan
1.1.1. Du lịch
Ngày nay, du lịch đang phát triển rất mạnh mẽ và trở thành hoạt động không
thể thiếu của toàn xã hội. Thuật ngữ “du lịch” xuất hiện từ rất lâu và đã có rất nhiều
- Là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế có liên
quan đến khách du lịch.
1.1.2. Tài nguyên du lịch
Theo quy định tại điểm 3, điều 10 Luật Pháp lệnh Du lịch năm 2005, TNDL
được hiểu: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá
trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa
mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch,
nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.
TNDL có thể coi là tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế đã chứng minh,
TNDL càng đặc sắc, càng phong phú thì sức hấp dẫn, hiệu quả du lịch càng cao.
Trên cơ sở đó, có thể hiểu: “TNDL là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử
cùng các thành phần của chúng sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp hoặc
cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục và phát triển thể lực
và trí lực cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người”.
TNDL được chia thành 2 nhóm: TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn.
TNDL tự nhiên bao gồm các thành phần, các thể tổng hợp tự nhiên, được
khai thác trực tiếp hay gián tiếp, được sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch phục vụ
cho mục đích phát triển du lịch, như địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật…
TNDL nhân văn là những giá trị văn hóa lịch sử, các di tích lịch sử - văn hóa,
kiến trúc nghệ thuật, các lễ hội, các LNTT, văn hóa ẩm thực, các thành tựu chính trị
và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch ở một điểm, một vùng, một
quốc gia. Điểm khác biệt giữa TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn là TNDL nhân
văn do con người tạo nên, vì thế, chúng phản ánh tư tưởng, trình độ phát triển của
con người ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Do đó, chúng có sức hấp dẫn đặc biệt
với số đông khách du lịch có nhu cầu tìm hiểu và có trình độ hiểu biết cao. 13
Trong các loại TNDL nói trên thì LNTT là một loại TNDL nhân văn quan
trọng, đã hình thành và phát triển từ lâu, có sức lôi cuốn một lượng lớn du khách.
lưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời. Vì
vậy, quan niệm về làng nghề cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Từ những cách tiếp cận của các tác giả về khái niệm làng nghề, chúng ta có thể
thấy làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Vào thời gian trước đây,
khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, còn ngày nay với xu
hướng trên thế giới khu vực kinh tế thứ ba đóng vai trò quan trọng và trở thành
chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng thì các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng
được xếp vào các làng nghề.
Vậy, làng nghề là gì? Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn
(làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản
phẩm của toàn làng [27, tr.11-13].
- Làng nghề bao gồm các loại sau:
+ Làng một nghề: làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc có
một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ hoặc không
đáng kể.
+ Làng nhiều nghề là những làng nghề xuất hiện và tồn tại nhiều nghề, có
tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần tương đương nhau.
+ LNTT: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn
tại đến ngày nay.
+ Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của
các LNTT hoặc được du nhập từ các địa phương khác trong những năm gần đây,
đặc biệt trong thời kỳ đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường.
1.1.5. Làng nghề truyền thống
Có nhiều quan niệm khác nhau về LNTT:
Quan niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cư cư trú trong một phạm
vi địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một
hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều
loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm này mới thể hiện được yếu tố
sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ yếu trong năm. Những 16
nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là nhiều thế hệ.
Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi
trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay
bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và
sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra của làng nghề có tính mỹ nghệ và đã
trở thành hàng hóa trên thị trường [27, tr.13-15].
LNTT được phân loại như sau:
- LNTT chuyên sản xuất hàng TCMN: gốm sứ, dệt tơ tằm, chạm khắc gỗ, đá,
thêu ren…
- LNTT chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như:
rèn, mộc, nề, đúc đồng, nhôm, gang, sản xuất vật liệu xây dựng…
- LNTT chuyên sản xuất các mặt hàng cho nhu cầu thông thường như: dệt
vải, dệt chiếu cói, làm nón, may mặc…
- LNTT chuyên chế biến lương thực, thực phẩm: xay xát, làm bún, chế biến
hải sản
LNTT nước ta có truyền thống lâu đời, phát triển đa dạng và phong phú và có
một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- LNTT phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu ngành nghề và gắn chặt với
sản xuất nông nghiệp.
- Sản phẩm của các LNTT mang tính đơn chiếc và tính mỹ thuật cao.
- LNTT có khả năng giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
- Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của LNTT có sự thay đổi rõ rệt, phù
hợp với quá trình phát triển của kinh tế đất nước.
- LNTT là một sự kết tinh giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.6. Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Từ khái niệm LNTT đề cập ở trên, có thể hiểu LNTT phục vụ du lịch là làng
cao, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sản phẩm TCMN do
nghề thủ công của các LNTT tạo ra, như là một TNDL có giá trị, được khai thác để
phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí, nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, tham quan, du
lịch, xe, hoặc tham gia vào các công đoạn sản xuất sản phẩm đặc trưng của làng
nghề đó, mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương và đất nước, góp phần tôn vinh,
bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa và tăng cường vai trò kinh tế của làng nghề 18
[21, tr.123]. Khách du lịch có thể tiếp xúc với các nghệ nhân, những người được tổ
chức UNESCO gọi là “Báu vật nhân văn sống”; lại có thể trực tiếp xem các nghệ
nhân thao tác. Thú vị hơn nữa, trong quá trình tham quan, khách du lịch có thể tham
gia vào một số công đoạn đặc trưng của sản phẩm làng nghề, có thể ký tên vào sản
phẩm, như một cách ghi lại kỷ niệm đáng nhớ trong hành trình du lịch của mình.
Phát triển du lịch LNTT không chỉ phát triển thị trường trong nước, đẩy mạnh
xuất khẩu tại chỗ, đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho làng nghề mà du lịch làng nghề
thực chất là du lịch văn hóa, là giới thiệu để khách du lịch trong nước và nước ngoài
hiểu thêm những đặc trưng văn hóa, truyền thống của mỗi làng nghề.
1.1.7.2. Những tài nguyên của du lịch làng nghề truyền thống
Dọc theo chiều dài đất nước ta, hầu như ở địa phương nào, du khách cũng có
thể dừng chân để tìm hiểu làng nghề, sản phẩm TCMN truyền thống, những nghề đã
gắn với tên địa phương và đi vào lòng người một cách tự nhiên. Đồng bằng Bắc bộ
là nơi có nhiều LNTT nhất, như lụa Vạn Phúc, gốm sứ Bát Tràng, mây tre đan Phú
Vinh, thêu Văn Lâm, chạm khảm Chuôn Ngọ thuộc Hà Nội; gò đồng Đại Bái - Bắc
Ninh; vàng bạc Châu Khê - Thái Bình; đúc đồng Ý Yên - Nam Định, v.v…Miền
Trung có điêu khắc đá Non Nước – Ninh Bình; Làng nghề thêu, đúc đồng, gốm
Phước Tích – Huế; đúc đồng Phước Kiều, gốm Kim Bồng, làng trống Lâm Yên –
Quảng Nam; rượu Bàu Đá, nón ngựa Bình Định; thổ cẩm Mỹ Nghiệp, gốm Bàu
Trúc – Ninh Thuận; v.v…ĐBSCL có làng dệt thổ cẩm Châu Phong và dệt thổ cẩm
Văn Giáo, đường thốt nốt – An Giang; gốm Vĩnh Long; sứ Lái Thiêu – Bình
làng nghề gắn với quá trình phát triển của đất nước ta qua hàng nghìn năm lịch sử.
Đây cũng chính là một nét đặc sắc trong làng nghề mà chúng ta cần giới thiệu với
du khách trong nước cũng như ngoài nước. Chúng ta đã có những nghề thủ công
xuất hiện từ hàng trăm năm, có nghề như gốm xuất hiện từ hàng nghìn năm (gốm
Bàu Trúc – Ninh Thuận), và trong quá trình phát triển ấy, đã trải qua nhiều thăng
trầm, song xu hướng chung vẫn là phát triển ngày càng đa dạng, phong phú về mẫu
mã, kiểu dáng (như từ thủ công chuyển sang TCMN, từ gốm sứ dân dụng chuyển
sang gốm sứ mỹ nghệ với những sản phẩm gốm đặc sắc…), đồng thời từng bước
ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến trong quá trình sản xuất, vừa nâng cao chất
lượng, vừa tăng năng suất lao động, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường. 20
Làng nghề tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, gắn
với quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất của đất nước. Trong quá trình ấy,
làng nghề nước ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, không những không bị
“đồng hóa” mà còn không ngừng phát huy sáng tạo, tô điểm thêm nét văn hóa cho
các sản phẩm TCMN của làng nghề, giữ được những nét riêng của Việt Nam.
Những người có công đầu trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng nghề
chính là những nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề. Khi đến tham quan làng nghề, du
khách thường muốn gặp gỡ nghệ nhân, tìm hiểu quá trình học tập, sáng tạo cùng
những đóng góp của họ cho sự phát triển của làng nghề. Đây cũng là một thế mạnh
của du lịch làng nghề cần được khai thác.
1.1.7.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch làng nghề
truyền thống
Thứ nhất là thị trường khách du lịch: Thị trường là nhân tố quan trọng của sự
phát triển, để đẩy nhanh tốc độ phát triển cần có những sản phẩm phù hợp với từng
loại thị trường và không ngừng mở rộng, phát triển thị trường. Du lịch LNTT tại
thành phố Sa Đéc là loại hình du lịch gắn với việc tìm hiểu và mua sắm sản phẩm
của các làng nghề để tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp kinh doanh và cư
chuyên môn và văn hóa thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp trong việc đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ năm là sức ép kinh tế: Nguồn sống chủ yếu của người dân ở nông thôn là
thu nhập từ nông nghiệp. Nhiều nơi do đất chật, người đông hoặc do điều kiện khí
hậu, thổ nhưỡng mà thu nhập từ nông nghiệp thấp, không đảm bảo nhu cầu cuộc
sống, do đó bắt buộc người dân phải tìm kiếm các ngành nghề phi nông nghiệp để
có thu nhập thêm. Trong quá trình đó họ đã lựa chọn được ngành nghề phù hợp và
dần dần hình thành nên làng nghề. Nhiều LNTT tồn tại và phát triển mạnh mẽ đến
ngày nay đều có mật độ dân số cao, diện tích canh tác nông nghiệp bình quân đầu
người thấp, như làng Ninh Hiệp, làng Đồng Kỵ, làng tranh dân gian Đông
Hồ…Vùng đồng bằng sông Hồng trở thành nơi xuất hiện sớm nhất, tập trung nhất
LNTT có lẽ là do sức ép kinh tế.
Thứ sáu là vị trí địa lý: Số liệu thống kê cho thấy hầu hết các LNTT phát triển
đều nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông hoặc gần nguồn nguyên liệu. Những vị trí