!"!
#$%&'$(%)&*+&$,%-$./'$(%&01%234%-
56%&708%2
19-::
$(%;&<=->?@?>?@: &#A2BCD%(&B$E%
BFG)&.%2H%IJ>?@:
8$KJL%
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cán bộ giảng viên Trường Đại học Kinh tế-
Đại học Huế nói chung, Khoa kinh tế chíh trị nói riêng đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý
kiến cho tôi trong quá trình họ#c tập 4 năm cũng như hoàn thành đề tài khóa luận này. Thực
sự, đó là những ý kiến đóng góp hết sức quý báu. Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn chân thành
và sâu sắc nhất đến Th.S Nguyễn Lê Thu Hiền – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá
trình thực tập và hoàn thiện đề tài.
Để hoàn thành được đề tài luận văn tốt nghiệp này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ của các anh chị nhân viên tại phòng Quy hoạch
và Phát triển Du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thừa Thiên. Vì vậy, tôi xin bày tỏ
sự biết ơn đến tất cả mọi người.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, người thân- những người luôn đứng
đằng sau tôi để cổ vũ, động viên, và tạo điều kiện để cho tôi có thể hoàn thành nghiên
cứu này một cách tốt nhất có thể.
Cuối cùng, mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết mình của bản thân trong việc thực hiện
luận văn này, bài luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế.
Kính mong sự góp ý và giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để khóa luận được
1.1.2.5. Tính liên vùng 11
1.1.3. Vai trò của dịch vụ du lịch LNTT 12
1.2. Tiêu chí đánh giá và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến dịch vụ du lịch LNTT 17
1.2.1. Tiêu chí đánh giá dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống 17
SVTH: Trần Thị Hường
i
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
1.2.2. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến dịch vụ du lịch LNTT 19
1.3. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống tại một số địa phương
trong nước 24
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống tại một số địa
phương trong nước 24
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hà Nội 24
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Quảng Nam 25
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Huế trong phát triển dịch vụ du lịch
LNTT 27
&0U%2>AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA>Y
W !"!
AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA>Y
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và LNTT đối với phát triển dịch vụ du lịch LNTT
tại thành phố Huế 29
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 29
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
2.1.1.2. Cơ sở hạ tầng của thành phố Huế 31
2.1.1.3. Đặc điểm về dân số, lao động của thành phố Huế 32
2.1.1.4. Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Huế 34
2.1.2. Đặc điểm về hệ thống LNTT đối với phát triển dịch vụ du lịch LNTT tại thành phố
Huế 37
2.2. Thực trạng phát triển dịch vụ du lịch LNTT tại thành phố Huế 39
2.2.1. Doanh thu dịch vụ du lịch LNTT tại thành phố Huế 39
3.2.4. Tăng cường hoạt động quảng bá, quảng cáo cho dịch vụ du lịch LNTT tại thành
phố Huế 60
3.2.5. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại các làng nghề 61
3.2.6. Các giải pháp về cơ chế, chính sách của các cấp chính quyền tại thành phố Huế. .62
AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA]:
MNAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA]^
SVTH: Trần Thị Hường
iii
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
M P
&_+.$'$F))`) 2&a=
LNTT Làng nghề truyền thống
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
SVTH: Trần Thị Hường
iv
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
M QN
QK%2>A@-b%cd'ef=/gh%2)5(%g7=ie%)&e%&9&dBFAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAZZ
QK%2>A>/=%&)&B37+&'j3Bf7+&)k$)&e%&9&dBF2$=$g/k%>?@?>?@Z
AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAZY
QK%2>AZ-0l);&.+&3Bf7+&gF%)k$)&e%&9&dBF2$=$g/k%>?@?>?@Z
AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA:@
QK%2>A:-.%&2$.+&m)f0l%2+Ucn&k)6%2)k$+.+)k$)&e%&9&dBFAAA:Z
QK%2>AH-o%&&o%&cp3j%2+.+f/k$&o%&37+&'j3Bf7+&)k$)&e%&9&d
BFAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA::
QK%2>A]-Mq+2$.+.+f/k$&o%&37+&'j3Bf7+&)k$)&e%&9&dBFAAAAAAAAAAA:H
QK%2>Ar-Mq+gh&e$fs%2+t=;&.+&3Bf7+&'E+&m)f0l%237+&'j3Bf7+&
)k$)&e%&9&dBFAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA:H
QK%2>A^-=/gh%2fe%2%2&E)5BCE%)&d%2)k$)&e%&9&dBFAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA:]
nguyên du lịch của địa phương, trong đó có sản phẩm du lịch làng nghề, góp phần tạo
nên tập hợp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu trong quá trình đi du lịch của du khách.
Huế nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam, đa dạng về cảnh quan thiên
nhiên và có bề dày truyền thống lịch sử- văn hoá, Huế thật sự là một thành phố đẹp và
là nơi lý tưởng để du lịch. Ngày nay, Huế được biết đến là thành phố Festival của Việt
Nam, lần đầu tổ chức vào năm 2000 và hai năm tổ chức một lần. Với vị thế là một
trung tâm du lịch của quốc gia, là "thành phố Festival", sản phẩm thủ công nghiệp
truyền thống Huế có một vị trí quan trọng để tạo nên tính hấp dẫn và ấn tượng đối với
khách du lịch đến Huế. Những sản phẩm thủ công truyền thống ở đây thường tinh xảo,
đẹp mắt. Chính hệ thống làng nghề khá phong phú rất thích hợp để khai thác và phát
triển du lịch. Thế nên, nhiều nghề và làng nghề đang dần được hồi sinh, phát triển khi
gắn với phát triển du lịch bền vững, tạo nguồn sản phẩm phong phú và đa dạng để
phục vụ du khách. Phát triển du lịch LNTT được xem là một hướng đi hiệu quả để gìn
SVTH: Trần Thị Hường
1
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
giữ, bảo tồn và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của từng địa
phương. Khách du lịch đến làng nghề không chỉ mua sắm, xem các nghệ nhân làm ra
sản phẩm mà còn mong muốn tìm hiểu những giá trị phi vật thể tồn tại hàng nghìn
năm. Ðây cũng là hướng đi mới để triển khai lồng ghép các tour, tuyến du lịch gắn với
các làng nghề để tạo ra dòng sản phẩm gắn với cộng đồng, hướng đến mục tiêu đón ba
triệu khách du lịch vào năm 2015 của tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong đó có gần 50%
khách quốc tế. Tuy vậy, viêc phát triển dịch vụ du lịch LNTT tại thành phố Huế tại
chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Vì vậy, nghiên cứu dịch vụ du lịch LNTT tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên
Huế, để đánh giá đúng thực trạng và từ đó đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ du
lịch LNTT nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của địa phương,
tạo ra nhiều việc làm, từng bước ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động tại
làng nghề, quảng bá hình ảnh của con người đất nước.
Với những lý do nói trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ du lịch làng nghề
làng nghề truyền thống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên. Đề xuất phương hướng,
giải pháp khả thi nhằm phát triển dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố
Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020.
:Ad$)0l%2G9&kJ'$%2&$(%+qB+t=gE)e$A
:A@d$)0l%2%2&$(%+qB+t=gE)e$A
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống tại
thành phố Huế.
:A>&kJ'$%2&$(%+qBA
- Về không gian: Địa bàn thành phố Huế.
- Về thời gian: Giai đoạn 2010 - 2013.
HA&0U%29&.9%2&$(%+qBA
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
- Phương pháp luận xuyên suốt là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để xem xét, phân tích vấn đề một cách khoa học, khách quan. Đề tài được thực
hiện trên cơ sở những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tường Hồ Chí
Minh và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát tiển dịch vụ du lịch làng
nghề truyền thống.
- Các phương pháp cụ thể:
SVTH: Trần Thị Hường
3
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp.
+ Phương pháp quy nạp và diễn dịch.
+ Phương pháp toán kinh tế.
+ Phương pháp thu thập số liệu.
. Số liệu thứ cấp: Từ sách, báo, tài liệu, số liệu thông kê, báo cáo của tỉnh Thừa
Thiên Huế và các phòng, ban liên quan của thành phố Huế.
- Số liệu sơ cấp: Chọn mẫu điều tra, phỏng vấn bằng công cụ bảng hỏi
- Phỏng vấn một số cán bộ lãnh đạo của các cơ quan, ban ngành có liên quan đến
công nghiệp đưa con người vào những vòng xoáy hối hả của những toan tính bận rộn,
thì nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn kết hợp với giao lưu quốc tế của cộng
đồng càng trở nên bức thiết. Và nhờ đó, một số nước đã coi du lịch là một ngành kinh
tế chủ lực tạo nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách, như Thái Lan, Trung Quốc, Tây
Ban Nha Từ đó nhiều nước đề ra những quốc sách hữu hiệu cho đầu tư và phát triển
dịch vụ du lịch.
Khi điều kiện kinh tế chưa phát triển, người ta coi du lịch như một hiện tượng xã
hội mang tính nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức con người và dịch vụ du
lịch là thoả mãn nhu cầu cho tầng lớp trên của xã hội kiếm được tiền ở một nơi và đi
tiêu tiền ở một nơi khác. Điều kiện kinh tế phát triển hơn, người ta nhận thức được du
lịch không còn là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà còn là một hoạt động kinh tế,
trong đó những hoạt động dịch vụ phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của con
người.
Khi kinh doanh du lịch phát triển, trở thành một hệ thống mang tính tổng hợp
trên phạm vi vùng miền không chỉ của một quốc gia thì người ta coi du lịch là một
ngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài
nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hoá để tạo ra sản phẩm
du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách.
SVTH: Trần Thị Hường
5
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
Pháp lệnh Du lịch (2/1999) do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam quy định: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Có thể hiểu, du lịch là một phạm trù kép; một mặt có ý nghĩa thông thường là sự
di chuyển của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí, nhưng mặt khác nó bao hàm
hệ quả kinh tế tự thân khi những dịch vụ hỗ trợ và cung ứng nhằm thoả mãn nhu cầu
vật chất và tinh thần cho du khách, trong sự di chuyển đó.
Với quan niệm trên, sản phẩm du lịch cũng mang những nét đặc trưng cơ bản
thương hiệu thông qua cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, chân thực và khách
quan về những tiện ích và ưu việt của dịch vụ đối với du khách để họ thực sự yên tâm
và hài lòng về quyết định mua sản phẩm dịch vụ. Về phía du khách: phải thận trọng và
cần có sự nhìn nhận, lựa chọn nhà cung cấp căn cứ trên uy tín thương hiệu, quảng cáo
sản phẩm và tham khảo thêm những người đã sử dụng dịch vụ trước khi quyết định
mua dịch vụ cho mình.
Thứ hai: Tính đồng thời trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Khác với
các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra ở từng thời gian
và địa điểm khác nhau, dịch vụ du lịch được sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra cùng
lúc. Chính đặc điểm này quy định tính thời vụ trong loại hình kinh doanh du lịch và nó
làm cho công tác dự báo của ngành du lịch thực sự trở thành một khoa học giúp các
nhà hoạch định chiến lược nắm được cung - cầu trên thị trường mà có hướng đầu tư
phù hợp. Trên thực tế có nhiều bất cập xảy đến trong quá trình quản lý và kinh doanh
du lịch, nguyên nhân sâu xa chính vì chưa nắm thấu đáo tính chất đặc thù này.
Thứ ba: Khách hàng là một bộ phận của cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Tính đặc thù này được quy định bởi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ diễn
ra trong một thời gian và không gian nhất định nên không tạo ra khoảng cách giữa
người tiêu dùng và người sản xuất dịch vụ. Nói cách khác, người tiêu dùng không chỉ
hưởng thụ một cách thụ động sản phẩm dịch vụ được cung ứng, mà họ còn trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất thông qua việc phản hồi của họ với nhà cung cấp về
chất lượng và mức độ hoàn thiện của sản phẩm. Thậm chí bằng kinh nghiệm và trình
độ cảm nhận của mình, du khách còn là người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm dịch
vụ giúp cho nhà cung cấp tạo ra những sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của người tiêu dùng.
SVTH: Trần Thị Hường
7
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
Thứ tư: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua và bán. Đây là một đặc
thù riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem trao đổi trên thị trường. Vì là sản
phẩm không thể di chuyển trong không gian, là sản phẩm phi vật thể và có tính đồng
ngưỡng cái đẹp của người thợ thủ công…. Chính vì vậy du lịch làng nghề ra đời để thỏa
mãn nhu cầu của khách du lịch. Đồng thời cũng tạo ra một hướng đi mới cho làng nghề.
Du lịch làng nghề là loại hình du lịch khai thác giá trị văn hóa vật thể, các sản
phẩm do nghề thủ công của các làng nghề tạo ra như một đối tượng tài nguyên du lịch
có giá trị, được khai thác để phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí, nghiên cứu tìm hiểu
văn hóa, tham quan du lịch, xe, hoặc tham gia vào các công đoạn sản xuất sản phẩm
đặc trưng của làng nghề đó, mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương và đất nước, góp
phần tôn vinh bảo tồn giá trị truyền thống văn hóa và tăng cường vai trò kinh tế của
làng nghề.
Việc phát triển du lịch làng nghề là tiền đề cho việc phát triển các dịch vụ kèm
theo. Muốn phát triển du lịch làng nghề thì việc phát triển dịch vụ du lịch LNTT là
điều tất yếu. Dịch vụ du lịch LNTT ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
cho việc du lịch LNTT.
Như vậy, dịch vụ du lịch LNTT là việc cung ứng các dịch vụ về lữ hành, vận
chuyển ăn uống, vui chơi, gải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác liên
quan đến LNTT nhằm đáp ứng nhu cầu cua du khách du lịch khi họ tham gia hình thức
du lịch làng nghề truyền thống ở địa phương.
@A@A>A|%&+&m)+t=37+&'j3Bf7+&
Du lịch LNTT mang những đặc điểm chung của ngành du lịch, tuy nhiên do có
đặc điểm và tính chất riêng của làng nghề truyền thống, nên các dịch vụ du lịch LNTT
mang những tính chất khác, cụ thể:
@A@A>A@A|%&%&kC+KJ
Do sản phẩm của du lịch LNTT mang tính tổng hợp. Một chương trình du lịch
được nhà cung cấp chào bán khi thực hiện phải đảm bảo sự chính xác về thời gian,
không gian và cả tính khoa học, giáo dục để du khách có thể hài lòng về nơi ăn nghỉ,
các chương trình vui chơi giải trí, mua sắm và cảm nhận được nhiều điều thú vị trong
chuyến đi đó. Một sáng kiến nhỏ bất ngờ của hướng dẫn viên có thể làm tăng hiệu quả
chuyến đi nhờ ấn tượng tốt, và ngược lại chỉ một thay đổi nhiều khi không phải do nhà
cung cấp chính mà lỗi từ các chương trình phụ khác (như việc hoãn huỷ chuyến bay
của Hàng không ) khiến cho cảm nhận về chuyến du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp.
điểm tổng hợp rõ nét như du lịch bởi mỗi một nhu cầu của du khách đều trở thành một
công đoạn trong chuỗi các dịch vụ mà ngành phải cung ứng; như ăn uống, mua sắm, đi
lại tham quan, lưu trú và người làm du lịch phải cung cấp một cách đầy đủ trung
SVTH: Trần Thị Hường
10
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
thực và chính xác các thông tin về nhà hàng, các trung tâm thương mại, siêu thị,
phương tiện giao thông, bản đồ các điểm tham quan, khí hậu thời tiết, lộ trình đường
đi, hệ thống khách sạn phù hợp với du khách
@A@A>A:A|%&g=%2e%&
Ngoài những yêu cầu tối thiểu trên cho một chuyến đi, du khách còn đòi hỏi phải
có những dịch vụ không thể thiếu khác như: hệ thống thanh toán từ dịch vụ của ngành
tài chính ngân hàng, hải quan cửa khẩu, sân bay, bưu điện Tất thảy đều phải được
hoạt động một cách đồng bộ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hướng tới việc thoả
mãn nhu cầu cho du khách.
Đồng thời du khách sẽ mất đi cảm giác an tâm khi thiếu sự trợ giúp của các
ngành kinh tế - xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông, công an, môi trường tại
nơi sẽ đến tham quan, du lịch. Trong những năm qua, đặc biệt trong vài năm trở lại
đây, các ngành dịch vụ hỗ trợ này thành phố Huế đã có những tiến bộ vượt bậc so với
trước. Điều đó tạo sự đổi mới cho bộ mặt đô thị của thành phố nhưng đồng thời cũng
giúp thỏa mãn nhu cầu được phục vụ một cách chu đáo nhất của du khách.
Cũng chính những nhu cầu cần được đáp ứng đó của du khách lại có hiệu quả
như một động lực thúc đẩy sự phát triển đối với các ngành kinh tế, văn hoá, giáo dục,
y tế ở địa phương phát triển.
Đặc điểm tổng hợp và đa ngành trên đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng không chỉ
giữa các khách sạn, nhà hàng, các xí nghiệp vận chuyển đưa đón khách trong nội bộ
ngành du lịch mà còn đòi hỏi sự liên kết cao trong khối các ngành có liên quan. Và
trên hết là sự điều phối của chính quyền thành phố Huế. Mọi tính toán lợi ích cục bộ
hoặc sự phối hợp không đồng bộ trong mỗi khâu dịch vụ đều liên quan mật thiết đến
tính hiệu quả của không chỉ riêng ngành du lịch mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả chung
@A@AZA=$)5s+t=37+&'j3Bf7+&
- Thứ nhất, phát triển dịch vụ du lịch LNTT đã tạo ra một khối lượng hàng hóa
đa dạng, phong phú nhằm phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu tại chỗ thông qua
hoạt động du lịch.
Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch nói riêng luôn huy động được các nguồn
lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu, phế phẩm
nông nghiệp được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh và khai thác một cách
có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, cơ sở vật chất kỹ thuật và những kỹ năng, kỹ
xảo của người lao động. Trên cơ sở đó đẩy mạnh được hoạt động sản xuất nhằm tạo ra
SVTH: Trần Thị Hường
12
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
ngày càng nhiều hàng hóa có chất lượng tốt, phục vụ đắc lực cho tiêu dùng trong nước
và cho xuất khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch.
Ngày nay, sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển theo hướng chuyên
môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm đã làm cho các làng nghề năng động hơn. Trong khi
chưa có điều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc làng nghề truyền thống đẩy
mạnh sản xuất những mặt hàng may mặc, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ … phục vụ tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu là rất quan trọng. Điều quan trọng hơn cả là thời gian
qua ở các làng nghề truyền thống đã có hàng trăm ngàn hộ nông dân chuyển sang phát
triển ngành nghề truyền thống hoặc vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất làm ngành
nghề, do đó đã tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực cho kinh tế nông thôn.
Việc sản xuất trong các làng nghề truyền thống đang hướng vào những sản phẩm kỹ
thuật cao, thị trường tiêu thụ rộng khắp, chứng tỏ rằng, sản xuất và lưu thông hàng hóa
của làng nghề truyền thống phát triển mang tính hàng hóa tập trung khá rõ nét.
Chính việc phát triển dịch vụ du lịch LNTT đã góp phần quan trọng trong việc đa
dạng hóa sản phẩm thủ công truyền thống, kích thích cầu tiêu dùng, nhất là trong lĩnh
vực du lịch. Từ đó có tác động trở lại là ngày càng làm cho các làng nghề truyền thống
phát triển mạnh hơn, hợp lý hơn theo xu thế của thời đại.
- Thứ hai, dịch vụ du lịch LNTT giải quyết việc làm cho người lao động ở các
thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do.
Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, đa phần các làng nghề
truyền thống không đòi hỏi vốn đầu tư lớn bởi rất nhiều nghề chỉ cần một số công cụ
thủ công, thô sơ do người thợ thủ công tự sản xuất được hoặc đặt mua với số vốn nhỏ.
Hơn nữa đặc điểm sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động
ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia
đình. Đây được xem như là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn
rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, do đặc điểm của các làng
nghề sử dụng phương pháp sản xuất thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là
nơi ở của người lao động.
Bên cạnh đó, việc phát triển dịch vụ du lịch LNTT tạo việc làm tại chỗ sẽ là tiền
đề để thực hiện “ly nông bất ly hương”, đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế di
dân tự do ra các trung tâm đô thị, thành phố góp phần giữ vững ổn định an ninh trật tự
xã hội.
SVTH: Trần Thị Hường
14
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
- Thứ tư, phát triển dịch vụ du lịch LNTT góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời
sống dân cư của làng nghề
Cũng như các ngành kinh tế khác, dịch vụ du lịch phát triển sẽ tạo điều kiện cho
một số ngành kinh tế phát triển theo; như việc hình thành các làng nghề tại các khu,
điểm mà du khách thường xuyên tới: Làng nón lá Phú Cam, làng nghề đúc đồng tại
phường Đúc Ngoài ra còn các khu ẩm thực, các trung tâm thương mại, phố Đêm
cũng được phát triển. Có thể nói du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” nhờ chính nguồn
thu nhập ngoại tệ trực tiếp do nó mang lại cho thành phố và sản phẩm xuất khẩu đó
mang tính đặc thù không thể xuất theo cái cách thông thường mà trực tiếp được
chuyển tới người tiêu dùng dưới dạng vật thể (thông qua mua sắm, ăn uống, vui
chơi ) hoặc phi vật thể (thưởng thức một chương trình múa rối nước, ca nhạc dân
tộc ). Tính đặc thù đó chính là yếu tố giúp cho việc “xuất khẩu" của du lịch giảm
thiểu các khoản chi phí tốn kém do vận chuyển, kho bãi như các thương vụ xuất
nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Trong quá trình phát triển dịch vụ du lịch các làng nghề truyền thống đã có vai
trò tích cực góp phần tăng tỷ trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu
hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp
sang các ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
Mặt khác, các làng nghề truyền thống phát triển sẽ tạo cơ hội cho hoạt động dịch
vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút được nhiều lao động.
Như vậy sự phát triển dịch vụ du lịch LNTT đã có tác dụng rõ rệt với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo yêu cầu của công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Đến nay cơ cấu kinh tế của một số làng nghề đạt từ 50% - 70% tỷ trọng của công
nghiệp và dịch vụ còn lại là 30% - 50% là nông nghiệp.
- Thứ bảy, phát triển dịch vụ du lịch LNTT góp phần gìn giữ, bảo tồn giá trị, bản
sắc văn hóa dân tộc.
Lịch sử làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân
tộc Việt Nam, nó vừa là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy, vừa là sự biểu hiện
tập trung nhất bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Những phong tục tập quán, đền thờ, miếu mạo … của mỗi làng xã vừa có nét
chung của văn hóa dân tộc, vừa có nét riêng của mỗi làng quê làng nghề. Các sản
phẩm của làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu và phát triển các giá
trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc. Người nước ngoài biết đến Việt Nam cũng
SVTH: Trần Thị Hường
16
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Lê Thu Hiền
chính là thông qua các mặt hàng thủ công truyền thống. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ
mang nặng chất văn hóa dân tộc. Những sản phẩm đó làm cho sản phẩm trong làng
nghề vừa mang nét đặc sắc riêng biệt vừa mang những nét tương đồng với các dân tộc
khác trên thế giới, nó là dấu ấn di sản văn hóa quí báu mà cha ông ta để lại cho thế hệ
sau. Với những đặc điểm đặc biệt ấy chúng không còn là hàng hóa đơn thuần mà đã
trở thành sản phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng nghệ
thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam. Vì vậy trong quá trình công nghiệp hóa, hiện