i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
giáo viên hướng dẫn là TS. Vũ Đình Hòa – Khoa Quy hoạch phát triển – Học
viện Chính sách và Phát triển. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho
việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác
nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số
nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác và
cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Tác giả Đỗ Thanh Phương
ii
LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành và sâu sắc nhất, em xin chân thành cám ơn
TS. Vũ Đình Hòa - người đã tận tình, đầy trách nhiệm hướng dẫn em thực hiện
đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Quy hoạch phát
triển – Học viện Chính sách và Phát triển đã giảng dạy, giúp đỡ em hoàn thành
đề tài Khóa luận tốt nghiệp này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của gia đình, bạn bè để tôi có thể khắc
phục được khó khăn, khuyết điểm của mình để có thể hoàn thành tốt đề tài Khóa
luận tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2014
1.4.1. Vai trò của du lịch trong phát triển làng nghề truyền thống 12
1.4.2. Vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển du lịch 12
iv
CHƯƠNG 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG 14
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH PHÚC 14
2.1. Khái quát chung về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh
Vĩnh Phúc 14
2.1.1. Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc 14
2.1.2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc 19
2.2. Khái quát về các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2.1. Hệ thống các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2.2. Những làng nghề truyền thống tiêu biểu tỉnh Vĩnh Phúc 30
2.3. Thực trạng hoạt động du lịch tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc 43
2.3.1. Thực trạng khách du lịch 43
2.3.2. Thời gian khách du lịch đến với làng nghề 46
2.3.3. Các sản phẩm du lịch chủ yếu 47
2.3.4. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch làng nghề 49
2.4. Đánh giá chung 49
2.4.1. Điểm mạnh 49
2.4.2. Điểm yếu 50
2.4.3. Cơ hội 51
2.4.4. Thách thức 52
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 53
3.1. Định hướng phát triển du lịch làng nghề Vĩnh Phúc 53
3.2. Một số giải pháp nhằm tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc 54
v
Quyết định
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
TS:
Tiến sĩ
TTCN:
Tiểu thủ công nghiệp
UBND:
Ủy ban nhân dân
VHNT:
Văn hóa nghệ thuật
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa 2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
TT
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1. Khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010
20
2
Bảng 2.2. Khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc giai đoạn đến 2010
21
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại
vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi địa
phương. Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét
riêng biệt, độc đáo không thể thay thế. Một cách giới thiệu sinh động về đất,
nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương. Phát triển du lịch làng nghề
chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều địa phương ưu tiên
trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Những lợi ích to lớn của việc
phát triển du lịch làng nghề không chỉ tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, giải quyết
việc làm cho lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ
và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc. Đó là những lợi ích lâu dài không
thể tính được trong ngày một ngày hai.
Vĩnh Phúc chưa có những làng nghề đã nổi tiếng như: Gốm Bát Tràng(Gia
Lâm, Hà Nội), Làng Tranh Đông Hồ(Thuận Thành, Bắc Ninh), Làng lụa Vạn
Phúc (Hà Đông, Hà Nội) thu hút nhiều du khách tìm đến. Nhưng nếu được đầu
tư đúng cách, những làng nghề truyền thống như Làng gốm Hương Canh, mây
tre đan Triệu Đề, đá Hải Lựu, rắn Vĩnh Sơn… sẽ có khả năng thu hút khách du
lịch không kém dophần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi,
cả đường bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch
kết hợp. Tại những làng nghề hiện nay vẫn có những nghệ nhân, cá nhân, gia
đình còn tâm huyết với nghề; sản phẩm của làng nghề vẫn còn được nhiều người
nhớ đến và có sự khác biệt.
Tuy nhiên các làng nghề hiện nay chủ yếu chỉ dừng lại ở việc sản xuất nhỏ
lẻ, tự cung tự cấp, chưa chú ý đến cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng. Chủ nhân
các làng nghề thường chỉ sản xuất khi có thời gian nhàn rỗi, phạm vi thu hẹp trong
gia đình nên không thu hút được nhiều lao động. Tất cả chỉ là những nỗ lực tự
phát, chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp. Bởi vậy, vấn đề tìm các biện
pháp để du lịch làng nghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày
4
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
Việc tìm tài liệu, lựa chọn và đưa vào bài viết những tài liệu cần thiết giúp
cho bài viết có nhiều thông tin và tính chính xác cao. Thực tế các tài liệu, số liệu
về làng nghề được lưu trữ và cập nhật ở nhiều các cơ quan, tổ chức khác nhau, nên
việc tổng quan tài liệu thu thập được là một phương pháp không thể thiếu. Nguồn
dữ liệu được thu thập từ sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Vĩnh Phúc, sở Kế hoạch
– Đầu tư Vĩnh Phúc, các công trình nghiên cứu liên quan, sách báo, internet…
4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Quá trình khảo sát thực địa được thực hiện ở làng nghề gốm Hương Canh,
làng nghề đá Hải Lửu, làng nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn, làng nghề mây tre đan
Triệu Đề trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 4 năm 2014. Kết
quả của quá trình thực địa đã mang lại cái nhìn rõ nét hơn về hiện trạng phát
triển du lịch tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc để đề tài
có tỉnh thực tiễn cao hơn.
4.3. Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Tác giả đã sử dụng các phần mềm GIS và các tài liệu, số liệu đã xử lí để
xây dựng các biểu đồ, bản đồ chuyên phục vụ cho đề tài.
5. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch làng nghề.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Một số giải pháp tổ chức phát triển du lịch làng nghề trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
LÀNG NGHỀ
1.1. Làng nghề và làng nghề truyền thống
riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà
cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển cùng ăn, làm
việc. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể phát triển kinh
tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phương”.
Xem xét định nghĩa làng nghề ở góc độ kinh tế, theo Dương Bá Phượng
thì“Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn
ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập, thu nhập từ các nghế đó chiếm tỷ
trọng cao trong tổng giá trị của toàn làng”.
Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền
thống và làng nghề mới. Khoá luận đi vào tìm hiểu các làng nghề truyền thống
nhằm chỉ ra những nét độc đáo trong cách thức tạo ra sản phẩm của làng nghề
truyền thống so với làng nghề mới, tạo điểm nhấn cho sản phẩm du lịch phục vụ
cho hoạt động du lịch.
1.1.2. Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống, ở
đây không nhất thiết dân làng đều sản xuất thủ công. Người thợ thủ công nhiều
trường hợp đồng thời là người nông dân, nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã
tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê của mình.
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: Phải đạt 03 (ba) tiêu chí theo
quy định tại Khoản 1, mục I, Phần II, Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày
18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể:
a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận.
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc.
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của
làng nghề.
8
Khi nói tới một làng nghề thủ công truyền thống thì không chỉ chú ý tới
từng mặt đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt trong cả không gian, thời gian
Nghĩa là có bước tiếp nối, truyền tải, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Chất lượng sản phẩm của làng nghề không phụ thuộc vào công cụ sản
xuất hiện đại, có năng xuất cao, theo dây truyền mà chủ yếu dựa vào kinh
nghiêm, bí quyết, tài hoa của người thợ chế tác đồ thủ công.
1.2.3. Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề truyền thống là tại chỗ
Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ các nguồn
nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương, đặc biệt các nghề truyền thống sản
xuất những sản phẩm tiêu dùng như: đan lát mây, tre (mũ, rổ, rá, sọt, cót, ) sản
xuất vật liệu xây dựng nguyên liệu thường có tại chỗ, trên địa bàn địa phương.
Một số ngành nghề còn dùng cả những phế phẩm, phế thải trong công
nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên chúng lại
càng có sẵn trên địa bàn.
1.2.4. Phần đông lao động trong các làng nghề truyền thống là lao động
thủ công
Nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo của đôi bàn tay, đầu óc tẩm mỹ và đầy
tính sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân, phương pháp dạy nghề chủ yếu
lao động nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh sảo. Trước kia, do trình độ kỹ thuật và
công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều
là lao dộng thủ công đơn giản. Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số
công đoạn quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kĩ thuật lao động thủ công tinh sảo.
Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con đường nào đi nữa thì
chúng đều có các nghệ nhân làm cốt lõi và là người hướng dẫn để phát triển làng
nghề. Vai trò của các nghệ nhân là rất quan trọng đối với các làng nghề, truyền
nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng mình. 10
1.2.5. Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có
tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền
- Giá trị văn hóa của các làng nghề: Trải qua bao thăng trầm của lịch sử,
nông thôn vẫn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của người Việt. Đối với khách
du lịch nội địa từ các thành phố lớn và khách du lịch quốc tế thì nông thôn là nơi
lý tưởng để lựa chọn đến tham quan, du lịch và đặc biệt là các làng nghề thủ công
truyền thống. Các làng nghề còn có các công trình gắn với bề dày lịch sử tạo ra
sức hút văn hóa với những du khách có mong muốn tìm hiểu tín ngưỡng, tập tục
dân gian.
- Sự hỗ trợ của ngành du lịch đối với hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
thủ công và ngược lại các sản phẩm của làng nghề cũng được đánh giá cao với
vai trò là đò lưu niệm và mỹ nghệ cho các điểm du lịch. Sản phẩm thủ công kết
tinh các giá trị tinh thần do đó được bán với mức giá cao hơn. Phát triển du lịch
làng nghề không những mang lại lợi ích cho ngành du lịch, cho những người làm
nghề du lịch mà còn thúc đẩy quá trình sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu tại chỗ cho
các sản phẩm thủ công nghệ.
- Môi trường nông thôn trong lành với các hình thức giải trí thôn dã. Đối với
người dân ở các đô thị và các nước phát triển thì không khí là một “mặt hàng xa
xỉ”. Do đó du lịch làng nghề ở làng quê có môi trường trong lành là một giải pháp
hợp lý để giải quyết những căng thẳng, mệt mỏi của cuộc sống thường nhật.
- Kỹ thuật, quy trình sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các kỹ thuật
chế tác này được kết tinh và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Chính vì vậy
với khách du lịch quốc tế việc chứng kiến và tìm hiểu phương thức sản xuất một
sản phẩm là một hoạt động bổ ích và hấp dẫn.
Như vậy du lịch làng nghề là một trong những loại hình du lịch văn hóa
được ưa chuộng của khách du lịch, đặc biệt là du khách phương Tây – nơi mà
hoạt động sản xuất phát triển không còn tồn tại các phương thức sản xuất thủ
12
công.Chính vì vậy việc nghiên cứu và xây dựng chương trình du lịch mới là một
việc làm đúng đắn đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
1.4. Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề truyền thống
dân tộc nói chung.Vì vậy, khách du lịch đến với các điểm du lịch làng nghề
truyền thống còn mong muốn được chiêm ngưỡng, mua sắm các sản phẩm thủ
công làm vật kỉ niệm trong chuyến du lịch. Thực tế nhu cầu mua sắm của du
khách là rất lớn, làng nghề truyền thống sẽ đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu tinh
tế và đa dạng của khách du lịch.
Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (2012), cả nước hiện có khoảng 3.000
làng nghề, trong đó có 400 làng nghề truyền thống với 53 nhóm nghề, thu hút
khoảng 12 triệu lao động phổ thông. Thu nhập của người dân làng nghề cao hơn từ
3-5 lần so với sản xuất thuần nông Phát triển du lịch làng nghề chính là một
hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn trong
chính sách quảng bá và phát triển du lịch, trong đó có Việt Nam. Việc phát triển du
lịch làng nghề không chỉ đem lại lợi nhuận kinh tế, giúp người dân nâng cao thu
nhập, giải quyết nguồn lao động địa phương mà còn là một cách thức để gìn giữ và
bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc; đồng thời cũng là một
phương thức giới thiệu sinh động về mỗi vùng, miền, địa phương trên đất nước.
Từ mối liên hệ giữa làng nghề truyền thống với phát triển du lịch và tầm
quan trọng của việc khôi phục, giữ gìn, phát triển làng nghề đối với phát triển
du lịch Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chungcho thấy vai trò và tầm quan
trọng của du lịch làng nghề truyền thống với việc khôi phục và phát triển làng
nghề truyền thống.
14
CHƯƠNG 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. Khái quát chung về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh
Vĩnh Phúc
2.1.1. Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1.1. Thuận lợi
- Về vị trí địa lý: Vĩnh Phúc có vị trí địa lý rất thuận lợi trong giao lưu phát
ngược lại về mùa hè lại là hướng mở đón gió nên cũng khá nhiều mưa.
+ Tài nguyên sinh vật: Tiềm năng về tài nguyên rừng trong tỉnh không lớn,
do lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ, cùng với sự định cư từ rất sớm của
con người, lớp phủ thực vật tự nhiên ở đây đã bị phá huỷ nhiều. Thảm thực vật ở
đây chủ yếu gặp thực vật rừng chí tuyến chân núi có nhiều loài ưa ẩm và nhiệt,
lên cao hơn nữa là đai rừng á nhiệt đới trên núi.
Vĩnh Phúc nổi tiếng với vườn quốc gia Tam Đảo. Vườn quốc gia Tam
Đảo có diện tích tự nhiên 36.883 ha, trong đó có trên 23.000 ha rừng. Quần hệ
thực vật rừng phong phú với 490 loài bậc cao, thuộc 334 chi và 130 họ. Rừng có
nhiều loại cây quí hiếm như: Pơ Mu, Sam Bông, Kim Giao, Lát hoa, Lim xanh,
Đỗ Quyên, Sến mật, Thông tre Hệ động vật rừng cũng rất phong phú với 281
loại động vật khác nhau trong đó có nhiều loài quí hiếm có giá trị kinh tế cao vừa
phục vụ cho nghiên cứu khoa học như voọc đen má trắng, cheo cheo, cá lóc Tam
Đảo, gà lôi trắng, gà tiền
Ngoài động thực vật rừng ra, Vĩnh Phúc còn trồng nhiều cây ăn quả như
vải nhãn, cây lương thực như lúa, hoa màu cũng như có nguồn cá tôm phong
phú trên các sông, đặc biệt là loài cá anh vũ rất nổi tiếng.
+ Tài nguyên nước: Do tác động của điều kiện địa hình, khí hậu nên hệ
thống sông ngòi của vĩnh Phúc có lượng dòng chảy ở mức trung bình (30l/s/
km²) và mật độ lưới sông cũng vào mức trung bình (0,5 - 1 km/ km²).
Trên lãnh thổ của tỉnh có 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô cùng
nhiều con sông nhỏ khác như sông Phó Đáy, sông Cà Lồ và các chi lưu cũng như
hệ thống các kênh đào là nguồn cung cấp nước cho trồng trọt cũng như giao
thông đi lại.
16
Sông Hồng: hợp với sông Đà, sông Lô ở đoạn Việt Trì sau đó đi vào Vĩnh
Phúc và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Sông có lưu lượng trung bình 820m/s, hàm
lượng phù sa khá lớn, bồi đắp cho đồng bằng Vĩnh Phúc.
Sông Lô: bắt nguồn từ Trung Quốc với tổng chiều dài 470km, chảy qua các
sử, Tây Thiên còn là một vùng thắng cảnh với núi rừng, thác nước và suối đá ẩn
hiện thơ mộng. Hoặc di tích núi Sáng với hang Đề Thám, thác Bay, hồ Vân Trục,
tất cả đã tạo nên một quần thể di tích thắng cảnh rất hấp dẫn.
+ Các lễ hội truyền thống:Hiện nay các lễ hội truyền thống đang có xu
hướng phục hồi phát triển trở lại. Hầu như ở khắp các địa phương trong nước
đều có tổ chức các lễ hội văn hoá truyền thống. Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về
mặt lịch sử văn hoá, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu
nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cổ truyền.
Chính vì vậy lễ hội có sức thu hút rất lớn đối với nhân dân và khách du lịch các
nơi, nhất là khách du lịch quốc tế.
+ Các tài nguyên du lịch nhân văn khác: Ngoài những nguồn tài nguyên
chính kể trên, Vĩnh Phúc còn có thể khai thác các nguồn tài nguyên nhân văn
khác phục vụ du lịch như: sản phẩm thủ công truyền thống, ca múa nhạc dân tộc,
các món ăn từ lâm thổ sản phong phú của địa phương mình
Ở Vĩnh Phúc có nhiều nghề thủ công truyền thống độc đáo, đặc sắc như
làng rắn Vĩnh Sơn, nghề mộc ở làng Bích Chu (huyện Vĩnh Tường); nghề gốm
gia dụng ở làng Hương Canh; nghề rèn ở Lý Nhân, tơ tằm ở Thổ Tang, nghề đá
Hải Lựu, mây tre đan Triệu Xá Các làng nghề này đều nằm gần các tuyến
điểm du lịch cho nên có thể tổ chức để du khách đến tham quan, đồng thời
nghiên cứu một cơ cấu sản phẩm lưu niệm để phục vụ du khách.
Vĩnh Phúc vốn là miền đất văn hiến giàu chất dân gian, là xứ xở của
những làn điệu dân ca đặc sắc như hát trống quân, hát ví giao duyên, hát Soọng
Cô, hát Sịnh Ca Các trò chơi dân gian của Vĩnh Phúc cũng rất độc đáo, hấp
dẫn du khách vào những dịp xuân về như trò tung còn của dân tộc Cao Lan ở
Lập Thạch, trò chơi đu, nhất là đu bay ở Văn Trưng, Tứ Trung - Vĩnh Tường,
chọi trâu ở Lập Thạch, leo cầu ùm ở Vĩnh Tường, bắt chạch cầu đinh ở Thổ
18
Tang- hát ghẹo Vĩnh Tường, bắt vịt trong ao ở Thượng Trưng, đánh đáo đá ở Bá
Văn-Yên Lạc, trò tả cáy, tục đả cầu cướp phết, bơi chải
Nhà nước hoạt động kinh doanh du lịch Vĩnh Phúc đã có bước chuyển mình
quan trọng. Địa bàn hoạt động du lịch được mở rộng; các điểm danh thắng được
tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng; hệ thống các cơ sử
lưu trú du lịch được quan tâm đầu tư phát triển đã tạo nên những chuyển biến
rõ rệt trước hết về số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc. Đặc biệt trong giai
đoạn 2000 - 2010, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 15,04% - đây thực sự là
một tín hiệu đáng mừng đối với du lịch Vĩnh Phúc.
Hình 2.1. Lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010
506.5
720
930
1,554
2,073.04
41.88
7.91
9.41
20
16
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
2010
Khách QT
6,5
18,0
28,5
28,00
32,46
Tỷ lệ so với tổng
1,28%
1,94%
2,20%
1,56%
1,54%
Tổng số
506,5
930,0
1.295,0
1.787,1
2.073,0
Ngày khách trung bình
1,55
1,91
1,90
1,60
1,80
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc)
Số liệu thống kê của ngành du lịch những năm qua cho thấy lượng khách
quốc tế đến Vĩnh Phúc tăng trưởng đều và ổn định, đáng chú ý là cơ cấu khách
quốc tế trong tổng lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giữ tỷ trọng khá ổn định
trong cơ cấu khách toàn tỉnh (từ năm 2002 chiếm 1,74%, đến năm 2007 chiếm