Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
Phần I: Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nh n ớc, kinh tế hộ nông dân
đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã
hình thành các trang trại đợc đầu t vốn, lao động với trình độ cộng nghệ và
quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng
suất.
- Các trang trại đã tăng nhanh về số lợng, chất lợng tăng cao, phát huy
lợi thế của vùng, kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài.
- Sự phát triển của trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong
dân, mở mang thêm diện tích đất trồng, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là
các vùng trung du, miền núi, ven biển, tạo thêm việc làm lao động nông thôn.
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của kinh tế trang trại nói chung
và ở trên địa bàn Hải Phòng nói riêng còn đặt ra nhiều vấn đề cần đợc giải
quyết kịp thời. Nhất là trong định hớng phát triển cho tơng lai. Với mục đích
nhiện vụ là ổn định, hiệu quả và bền vững.
* Khái niệm:
- Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông,
lâm, ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá. T liệu sản xuất
thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập; sản xuất đợc tiền
hành trên quy mô ruộng đất các và các yếu tố sản xuất đợc tập trung tơng đối
lớn với các thức tổ chức tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và
luôn gắn với thị trờng (Giáo trình: Quản trị kinh doanh nông nghiệp)
* Lý do: Đa số các trang trại nói chung và trang trại nông nghiệp trên
địa bàn Hải Phòng nói riêng đều đã và đang từng bớc phát triển, tuy nhiên
phát triển cha rõ ràng, cha có định hớng cụ thể, thiếu tính khoa học mà phát
triển theo cách tự phát. Hoạt động một cách manh mún, nhỏ lẻ thiếu tính
đồng bộ do vậy mà hiệu quả đem lại cha cao, cha khai thác tối đa lợi thể của
Phòng sẽ có hớng phát triển hiệu quả bền vững tận dụng khai thác hiệu quả lợi
thế trong vùng.
* Khái quát chuyên đề nghiên cứu:
1. Đối tợng nghiên cứu: Các trang trại nông nghiệp
2. Phạm vi nghiên cứu:
2.1. Phạm vi không gian: Các trang trại nông nghiệp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng.
2.2. Phạm vi thời gian: Từ năm 2002 ữ 2010
3. Phơng pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng 3 năm (2002 ữ 2006)
- Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển trang trại nông
nghiệp đến năm 2010
4. Kết cấu chuyên đề:
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
2
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
* Gồm 4 phần:
Phần I: Mở đầu.
Phần II: Thực trạng trang trại nông nghiệp Hải Phòng (2002ữ2007).
Phần III: Phơng hớng và một số giải pháp phát triển trang trại đến năm
2010.
Phần IV: Kết luận và một số kiến nghị.
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
3
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
Chơng I
Cơ sở lý luận và thực tiễn của kinh tế trang trại
I. Khái niệm, đặc điểm, vị trí của kinh tế trang trại.
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
- Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần khai thác thêm nguồn vốn
của địa phơng, tài nguyên của vùng, lao động dân c trong vùng, mở mang
thêm diện tích đất trồng, đối núi trọc, đất hoang hoá, nhất là các vùng trung
du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm lao động nông thôn.
Sản xuất trong trang trại chủ yếu là sản xuất hàng hoá và thờng sản xuất
với quy mô lớn, tận dụng tối đa đợc lợi thế của vùng để sản xuất hàng hoá với
quy mô lớn.
3.2.
Kinh tế trang trại góp phần khai thác diện tích mặt nớc, đất hoang hoá,
đất ven sông, ven biển đa vào sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai
tạo ra những vùng sản xuất tập trung với khối lợng hàng hoá lớn, thúc đẩy quá
trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ tạo điều kiện cho
công nghiệp chế biến nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, cải thiện môi
trờng sinh thái.
Bằng việc đầu t vốn, lao động và cải tạo đồng ruộng, kinh tế trang trại
đã phát huy đợc lợi thế so sánh của từng địa phơng, từng vùng hình thành các
vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Các trang trại thủy sản tập trung phát triển ở
những vùng ven biển, nơi có nhiều sông, hồ, đầm nh đồng bằng sông Hồng. ở
các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Trang trại trồng cây lâu năm tập trung ở vùng có khí hậu và thổ nhỡng
phù hợp nh vùng trang trại trồng cây ăn trái ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ,
Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên.
Xu hớng phát triển của kinh tế trang trại trong những năm qua gắn liền
với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo hớng
khai thác tiềm năng ở từng địa phơng và giá trị sản phẩm hàng hoá.
Với kết quả đầu t cải tạo đất, lựa chọn mô hình sản xuất, kinh doanh
hợp lý theo hớng sản xuất hàng hoá, kinh tế trang trại đã khai thác tiềm năng
đất đai hiệu quả hơn, tạo ra khối lợng nông sản phẩm lớn, đa dạng thúc đẩy
Một hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đợc xác định là trang
trại phải đạt cả 3 tiêu chí định lợng sau:
- Đối với các trang trại thuộc các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền
trung phải từ 40 triệu trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên đạt từ trên 50 triệu
Hai là: quy mô sản xuất phải tơng đối lớn và vợt trội so với kinh tế hộ t-
ơng ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
- Đối với trang trại trồng trọt.
+ Trang trại trồng cây hàng năm:
+ Trang trại trồng cây lâu năm:
Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải Miền
Trung.
Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
Từ 0,5 ha trở lên đói với các trang trại trồng hồ tiêu.
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
6
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
- Đối với trang trại lâm nghiệp
Từ 10ha đối với tất cả các vùng trong cả nớc.
- Đối với trang trại chăn nuôi
+ Trang trại chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò
Chăn nuôi sinh sản, lây nữa có thờng xuyên từ 10 con trở lên
Chăn nuôi lấy thịt có thờng xuyền từ 50 con trở lên
Chăn nuôi sinh sản có thờng xuyên đối với lợn 20 con trở lên, dê
thịt từ 200 con trở lên
Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, . có thờng xuyên từ 2000 con
trở lên
- Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản.
Diện tích mặt nớc để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên.
Bình quân một trang trại trồng cây hàng năm: 5,3ha đất trong đó 60,58% số
trang trại có quy mô dới 5ha. 32,89% trang trại quy mô từ 5ha ữ10ha và
6,53% số trang trại có quy mô trên 10ha.
Xét về quy mô lao động (gồm lao động của gia đình chủ trang trại và
lao động làm thuê). Phụ thuộc không chỉ vào quy mô trang trại (S) mà còn phụ
thuộc vào loại hình trang trại và cả đầu t máy móc, thiết bị để ứng dụng công
nghệ cũng nh cách thức tổ chức quản lý. Số lao động bình quân một trang trại
là 6,04 ngời, trong trang trại trồng cây hàng năm: 6,65 ngời, trang trại trồng
cây lai năm là 6,14 ngời, trang trại chăn nuôi là: 4,14ngời, trang trại lâm
nghiệp là: 6,10 ngời, trang trại thuỷ sản là: 5,15ngời, trang trại sản xuất, kinh
doanh tổng hợp là 7,16ngời.
Tỷ lệ lao động của hộ chủ hộ trang trại trong tất cả các loại trang trại
chiếm 45,7%, tỷ lệ nâng thấp nhấp là trang trại trông cây lâu năm có 38,4%,
ngợc lại các trang trại đầu t vốn và kỹ thuật nhiều sản phẩm hàng hoá cao thì
tỷ lệ này lại cao hơn.
Vốn đầu t bình quân một trang trại là 135,14 triệu đồng ít nhất là các
trang trại trồng cây hàng năm chỉ có 69,7 triệu đồng. Nhiều nhất là trang trại
chăn nuôi 236 triệu đồng và trang trại trồng cây lâu năm 207 triệu đồng.
Vốn đầu t chủ yếu là của chủ trang trại chiếm 84,25% tổng vốn đầu t,
còn lại là vốn vay của ngân hàng và quỹ tín dụng, ngời thân, họ hàng
Vốn đầu t tuy cùng loại hình sản xuất nhng khá cách biệt, giữa các
vùng các tỉnh.
Số liệu về các chỉ tiêu trên đến nay đã có những thay đổi bởi hơn hai
năm qua, Đảng, Nh n ớc đã có những chủ trơng, chính sách và biện pháp để
phát triển nông nghiệp nói chung, trang trại nói riêng, cho nên trang trại ở nớc
ta đã phát triển nhanh không chỉ về số lợng, mà cả về hiệu quả (giải quyết việc
làm, tăng thu nhập cho ngời lao động) góp phần thực hiện chơng trình xoá đói,
giảm nghèo, tăng nông sản hàng hoá, tăng đóng góp cho Nh n ớc, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất đai, mặt nớc.) góp phần thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn. Tuy nhiên quá trình phát triển trang trại còn những hạn chế
Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa
bàn thành phố Hải Phòng
I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh h ởng tới kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng.
1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của thành phố Hải Phòng
1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý:
Hải Phòng là thành phố ven biển nằm phía đông miền Duyên Hải Bắc
Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102km. Có tổng diện tích tự nhiên là 152.318,49ha
(chiếm 0,45% diện tích tự nhiên cả nớc )
Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Ninh
Phía Tây giáp với tỉnh Hải Dơng
Phía Nam giáp với tỉnh Thái Bình
Phía Đông giáp với biển đông.
Ngoài ra còn có huyện đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ. Hải
Phòng năm ở vị trí giao lu thuận lợi với các tỉnh trong nớc và quốc tế thông
qua hệ thống giao thông đờng bộ, đờng sắt, đờng biển, đờng sông và đờng
hàng không.
b. Điều kiện khí hậu:
Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa Châu á, sát biển đông nên Hải
Phòng chịu ảnh hởng của gió mùa.
Mùa gió Bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau. Gió Nam (mùa hè) mát mẻ, mùa ma kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.
Lợng ma trung bình hàng năm 1600 1800 mm. Bão thờng xảy ra từ tháng 6
đến tháng 9.
Thời tiết Hải Phòng có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông và mùa hè. Khí hậu t-
ơng đối ôn hoà, do nằm sát biển. Về mùa đông: Hải Phòng ấm hơn 10
0
c và
mùa hè thì nhiệt độ thấp hơn 10
d. Sông ngòi:
- Hải Phòng có mạng lới sông ngòi dày đặc (thuận lợi cho phát triển
trang trại thuỷ sản trên địa bàn của thành phố). Mật độ trung bình từ
0,6ữ0,9km trên 1km
2
.
Sông ngòi Hải Phòng đều là các chi lu của sông Thái Bình đổ ra vịnh
Bắc Bộ. Nếu ngợc dòng ta sẽ thấy nh sau: Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi
Văn Ôn ở độ cao trên 1,170m thuộc Bắc Kạn, về đến Phả Lại thì hợp lu với
sông thơng và sông Lục nam, là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng
bằng trớc khi đổ ra biển với độ dài 97km và chuyển hớng chảy theo Tây Bắc -
Đông Nam. Từ nơi hợp lu đó, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ,
và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lới chi lu các cấp nh sông Kinh Môn, Kinh
Thầy, Văn úc, Lạch Tray, Đa Độ đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính.
Hải Phòng có 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn thành phố với tổng
độ dài trên 300km bao gồm:
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
11
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
- Sông Thái Bình dài 35km là dòng chính chảy vào địa phận Hải Phòng
từ Quý Cao và đổ ra biển qua cửa sông Thái Bình làm thành ranh giới giữa hai
huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng.
- Sông Cấm là nhánh của sông Kinh Môn dài trên 30km chảy qua nội
thành và đổ ra biển ở cửa Cấm.
- Sông Đá Bạch Bạch Đằng dài hơn 32km cũng là nhánh của sông
Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam Triệu và là ranh giới Phía Bắc và Đông Bắc
của Hải Phòng với Quảng Ninh. Cửa sông ở đây rộng và sâu, hai bên bờ là
những núi đá vôi.
- Ngoài các sông chính là các sông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa
Nằm ở vị trí tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành phố lớn thuận lợi cho phát
triển giao thông, vận chuyển hàng hoá trong đó có hàng nông sản có nhiều
nguồn tài nguyên thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp nh
trông lúa, nuôi trồng.
Đặc biệt có nguồn tài nguyên nớc phong phú với nhiều hồ sông lớn nhỏ
khác nhau đặc biệt là tiếp giáp với biển nên thuận lợi cho phát triển các trang
trại nguôi trồng thuỷ hải sản đem lại kinh tế cao. Có nguồn tài nguyên rừng
phong phú với nhiều đồi núi, thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau.
Điều đó là tiền đề và cơ sở quan trọng cho sự phát triển các trang trại trồng
trọt, trang trại lâm nghiệp.
b. Khó khăn, hạn chế:
Bên cạnh những thuận lợi đó, vẫn còn có những khó khăn hạn chế mà
điều kiện tự nhiên đem lại nh: do tiếp giáp với biển chịu ảnh hởng của gió
biển mang nhiều hơi nớc mặn gây tác động xấu tới cây trồng, vật nuôi. Ngoài
ra còn chịu nhiều bão, lũ quét gây thiệt hại lớn cho kinh tế nói chung và kinh
tế nông nghiệp nói riêng.
2. Điều kiện về kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng
Trong những năm gần đây đợc sự quan tâm của thành phố, các cấp, các
ngành, nền kinh tế của thành phố đã ngày càng phát triển. Các ngành kinh tế
phát triển mạnh, trong đó kinh tế nông nghiệp cũng không nằm ngoài xu thế
phát triển đó. nhiều mô hình kinh tế phát triển trong nông nghiệp nhất là các
mô hình kinh tế tập thể, trong đó kinh tế trang trại là mô hình kinh tế tiêu
biểu.
Hải Phòng là một trong những thành phố phát triển nhất trong cả nớc.
Giá trị GDP mà thành phố đóng góp chung vào kinh tế quốc dân cũng khá
cao. Đặc biệt là ngành công nghiệp xây dựng, thơng mại- dịch vụ là ngành
chủ lực và là mũi nhọn của thành phố, nó phát triển mạnh mẽ qua các năm và
giá trị kinh tế đem lại cũng rất cao. Ngành nông nghiệp cũng nằm trong sự
phát triển đó và giá trị sản lợng nông sản cũng khá cao so với cả nớc, và
không ngừng tăng trởng qua các năm. Giá trị tổng sản phẩm toàn thành phố
Qua bản cơ cấu kinh tế của thành phố ta có thể thấy đợc giá trị công
nghiệp xây dựng và dịch vụ có giá trị lớn và tăng trởng qua các năm, nó
chiếm 1 tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinhtế của thành phố.
Ngành nông lâm thuỷ sản: giá trị co tăng, nhng tỷ trọng của nó
trong toàn bộ ngành kinh tế lại giảm (nếu nh năm 2005 chiếm 11,5% thì đến
năm 2006 là 10,6%)
Chỉ tiêu nông lâm thuỷ sản (2006)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 2006/2005
1. Nông nghiệp (tỷ đồng)
+ Giá trị trồng trọt 1446,5 1483 102,5%
+ Giá trị dịch vụ 765,90 812,0 106,0%
+ Giá trị dịch vụ 55,3 60,5 109,4%
2. Lâm nghiệp
+ Giá trị sản xuất (tỷ đồng) 25,9 24,0 92,7%
3. Thuỷ sản (tỷ đồng) 699,4 798,0 114,1%
+ GTSX nuôi trồng (tỷ đồng) 312,3 320,0 102,5%
+ Giá trị khai thác (tỷ đồng) 387,1 478,0 123,5%
+ Sản lợng thuỷ sản khai thác (tấn) 35279,0 34450 97,7%
+ Sản lợng thuỷ sản nuôi trồng (tấn) 34.954,0 38,195,0 109,3%
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hải Phòng
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
14
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
Trong ngành nông- lâm - thuỷ sản thì giá trịn nông nghiệp là cao nhất.
Giá trị trồng trọt trong nông nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn về mặt giá trị (năm
2006 1483 tỷ đồng).
Ngành lâm nghiệp có giá trị sản xuất nhỏ nhất (24tỷ đồng) đứng vị trí
thứ 2 trong cơ cấu nông - lâm - thuỷ sản là: Ngành thủy sản, giá trị sản xuất
thủy sản 798tỷ đồng (2006) với sản lợng khai thác là 34450tấn (giảm 0,23%
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
thuỷ sản là 605 trang trại (42,7%); trang trại kinh doanh tổng hợp là 172 trang
trại (12,2%).
Qua đó ta có thể thấy đợc mức phân hoá về cơ cấu giữa các trang trại:
chiếm tỷ lệ lớn nhất là các loại hình trang trại: trang trại chăn nuôi và trang
trại nuôi trồng thuỷ sản; thấp nhất là trang trại lâm nghiệp và trang trại trồng
trọt.
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
16
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
Bảng tổng hợp kinh tế trang trại Hải Phòng năm 2006
TT
Huyện, quận, thị
xã
Trang trại trồng
trọt
Trang trại chăn
nuôi
Trang trại nuôi
trồng thuỷ sản
Trang trại kinh
doanh tổng hợp
Tổng
cộng
Trang trại lâm
nghiệp
Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Tỷ lệ (%) Số lợng Số lợng Tỷ lệ (%)
1 Vĩnh Bảo 15 58 19 19 112 1
2 Tiên Lãng 12 35 116 20 183
3 An Lão 4 15 11 10 40
bớc đi vào bán thâm canh và thâm canh trong sản xuất hiệu quả kinh tế sẽ
đợc nâng cao hơn.
2.4. Trang trại chăn nuôi có 584 trang trại
Trang trại chăn nuôi lợn sinh sản: bình quân 74 con nái/ 1 trang trại
Trang trại có quy mô lớn nhất là 300 con. Trang trại chăn nuôi lợn thịt
siêu nạc bình quân 1 trang trại 210 con. Trang trại gà công nghiệp, mỗi trang
trại là 2150 con. Trang trại bò 50 con.
Về số lợng: trang trại chăn nuôi có số trang trại đứng thứ 2 sau trang
trại nuôi trồng thuỷ sản. Điều đó cho thấy rằng: trang trại chăn nuôi ở Hải
Phòng cũng khá là phát triển, nhng cha đa dạng hoá các loại hình chăn nuôi
hiệu quả kinh tế vẫn cha cao, cha khai thác hết đợc tiềm năng lợi thế hiện có.
2.5. Trang trại khác
Đều có điểm chung là sử dụng ít diện tích, nhng có giá trị sản xuất hàng
hoá và dịch vụ lớn. Quy mô diện tích sử dụng bình quân của một trang trại
0,3 ha. VD: trang trại trồng cây cảnh, nuôi cá sấu
3. Lao động của kinh tế trang trại
- Lực lợng lao động của trang trại chủ yếu là lao động gia đình, các trang
trại còn sử dụng một bộ phận lao động thuê thờng xuyên và lao động thuê thời
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
vụ; do quy mô sản xuất của mỗi trang trại nên mức độ thuê lao động có khác
nhau. Đa số các trang trại có số lợng lao động thuê thờng xuyên từ 3 - 5 ngời.
- Trình độ tay nghề của lao động trong các trang trại chủ yếu là lao
động phổ thông giản đơn, cha qua đào tạo nghiệp vụ, chuyên môn.
* Các chủ trang trại
- Đa số các chủ trang trại xuất thân từ hộ nông dân. Một số chủ trang
trại đã qua đào tạo sơ, trung cấp và một vài chủ trang trại có trình độ đại học,
xong đều trái ngành, trái nghề.
Biểu: Thành phần, trình độ văn hoá của chủ trang trại (2003)
Chỉ tiêu Số lợng Cơ cấu (%)
Nhìn chung, trình độ văn hoá của các chủ trang trại trên địa bàn Hải
Phòng còn thấp. Đa số, các chủ trang trại có trình độ từ lớp 5 7 (67%) trình
độ cấp III (28%).
Điều này ảnh hởng đến khả năng tiếp thu những kiến thức thị trờng, về
hội nhập kinh tế quốc tế và áp dụng công nghệ vào sản xuất. ở nhiều nớc
công nghiệp phát triển; chủ trang trại đợc Nh n ớc công nhận về trình độ quản
lý và t cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trờng kỹ thuật và quản lý nông
nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua học tập lao động sản xuất kinh doanh
một năm ở các trang trại khác. Không chỉ có bằng tốt nghiệp về nông học mà
cả có sự am hiểu về kỹ thuật, về kinh tế, về thị trờng. Các chủ trang trại nh vậy
đủ đem lại hiệu quả rất lớn trong hoạt động sản xuất của trang trại.
Theo các chủ trang trại trên Hải Phòng, hiện tại các trang trại cha nhạn
đợc đầy đủ các chính sách u tiên của nhà nớc trong phát triển các trang trại
tại địa phơng. Cán bộ phụ trách khuyến nông và cán bộ phụ trách phát triển
kinh tế còn hiểu quá ít về kinh tế trang trại. Nội dung tập huấn cho các chủ
trang trại vẫn chung chung, cha tập trung tháo gỡ khó khăn và định hớng phát
triển cho trang trại. Vì vậy, thành phố cần quan tâm, khuyến khích đầu t và tạo
điều kiện cho chủ tr phát triển mạnh cả vê số lợng và chất lợng. Các chủ trang
trại chăn nuôi, trình độ kỹ thuật về chăm sóc. Các trang trại khác: trang trại
kinh doanh tổng hợp, trang trại lâm nghiệp, trang trại trồng trọt; nên đợc các
cán bộ quản lý chuyên môn cao hớng dẫn, hỗ trợ kinh phí trong việc phát triển
KTTT hiện nay.
4. Vốn của kinh tế trang trại
Các trang trại phần lớn có nguồn vốn đầu t phát triển bằng nguồn vốn
tự có của gia đình, tích luỹ qua nhiều năm là chính. Ngoài ra một phần vay
của ngân hàng. Theo số liệu năm 2006 tổng số vốn của trang trại là 430,056
triệu đồng, bình quân một trang trại là 303,283 triệu đồng.Nh vậy ta có thể
thấy đợc thực trạng nguồn vốn của các trang trại hiện nay, đó là :nguồn vốn
thấp, kém tinh đa dang và không linh hoạt .điều đó đã lam hạn chế hoạt đông
sản xuất và linh doanh của các trang trại hiên nay, nó đã làm giảm hiệu quả và
563 90 8 1437 220
Diện tích sử dụng của
trang trại (ha)
304,14 17,690 93,8 4407,88 311,72
Số lợng vật nuôi chính
(trâu, bò, lợn, gà )
2362 18265 9 12093 8155
Tổng vốn 12627 29816 180 188424 17565
Thu nhập (triệu) 4494 11435 70 56808 4485
Giá trị hàng hoá 54298 260 116453 15527
DV (triệu đồng) 9586
Lao động trang trại 926 845 24 3790 618
Nguồn: Sở nông nghiệp phát triển nông thôn Hải Phòng
6. S phát triển KTTT trên địa bàn Hải Phòng
Các trang trại trên địa bàn Hải Phòng đã và đang phát triển cả về số l-
ợng và chất lợng: số lợng các trang trại nông nghiệp luôn tăng qua các năm.
Đặc biệt trong các năm 2002, 2003, 2004.
Năm 2002 là 367 trang trại, đến năm 2003 tăng hơn 2 lần = 805 trang
trại và đến năm 2006 đã là: 1418 trang trại.
Tăng mạnh nhất là trang trại thuỷ sản; nếu nh 2002 mới có 269 trang
trại thì đến năm 2006 là 603 trang trại ( 2,5 lần)
Điều đó cho thấy đợc: trang trại nông nghiệp ở Hải Phòng đã từng bớc
phát triển; nó đợc chú ý đầu t và đợc khai thác hiệu quả tơng đối cao. KTTT
đang là hình thức kinh tế phát triển trong nông thôn ở Hải Phòng đem lại hiệu
quả kinh tế cao.
Bảng tổng hợp số lợng KTTT (2002 2006)
(Nguồn: Sở NN-PTNT Hải Phòng)
(Cục Thống kê Hải Phòng)
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
22
thức sản xuất kinh doanh tiên tiến nh bán thâm canh và thâm canh, luân
phiên, kết hợp nhiều loại cây trồng vật nuôi, đa dạng hoá các hình thức sản
xuất trong trang trại, tập trung sản xuất các loại sản phẩm hàng hoá chất lợng,
có giá trị kinh tế cao nh cây cảnh, nuôi trồng tôm hùm,
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trang trại nông nghiệp ở Hải
Phòng đã tăng trởng không ngừng qua các năm: thu nhập trang trại của năm
2002 là 30285,9 triệu thì đến năm 2006 là 75500 triệu tuy nhiên mức tăng đó
lại tăng chậm dần qua các năm.
Diện tích đất đai sử dụng trong các trang trại có tăng trong các năm từ
2002 đến 2005; nhng lại giảm vào năm 2006; số lao động cũng vậy.
Nếu nh năm 2002 số lao động thờn xuyên/ 1 trang trại 10 ngời thì đến
năm 2006 chỉ còn 4 ngời/ 1 trang trại.
Điều đó cho thấy: các trang trại đã từng bớc đi vào chiều sâu giảm quy
mô,áp dụng tiến bộ sản xuất, nâng cao hiệu quả trang trại, tăng dần về chất l-
ợng, thâm canh sản xuất do vậy vẫn đảm bảo tăng về hiệu quả của trang trại.
Bảng tổng kết KTTT trên địa bàn Hải Phòng qua các năm
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
24
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
Bảng tổng kết kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố
Hải Phòng qua các năm (2002 2006)
chỉ tiêu
năm
2002 2003 2004 2005 2006
số trang trại
367 805 899 1043 1418
lao động trong trang trại
3593 5439 5942 6203 4403
Lao động thờng xuyên/ TT (ngời)
trại NTTS và trồng trọt đã sử dụng diện tích đất hoang hoá và coi nh hoang
hoá chiếm 10,5% diện tích đất canh tác toàn thành phố. Đồng thời trang trại
chăn nuôi và trang trại đặc thù (trồng hoa, cây cảnh, nuôi ) sử dụng ít diện
tích canh tác song giá trị hàng hoá và dịch vụ đạt khá cao, đi vào sản xuất
Nguyễn Xuân Thành KTNN 45
25
Chuyên đề: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Hải Phòng đến năm 2010
thâm canh. Sản phẩm hớng vào xuất khẩu và dịch vụ đô thị. Hiện nay nhiều hộ
gia đình nuôi trồng thuỷ sản có diện tích từ 3 ha trở lên đang chuyển từ sản
xuất quảng canh sang quảng canh cải tiến hoặc cao hơn và nhiều hộ gia đinh
có diện tích từ 1 ha đến xấp xỉ 2 ha đang muốn chuyển sang bán thâm canh và
thâm canh trở thành chủ trang trại. Nh vậy kinh tế trang trại ngày càng phát
triển về số lợng, góp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Hiệu quả xã hội của kinh tế trang trại: tăng thu nhập quốc dân tận
dụng đất hoang hoá, tái tạo tài nguyên đất đai, cải thiện môi trờng sinh thái,
hiệu quả lao động, tính ảnh hởng của KTTT tới cộng đồng khu dân c. Các
trang trại đã và đang sử dụng có hiệu quả về đất đai, tiền vốn, lao động cho
sản xuất nông nghiệp. Trang trại trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản sử dụng
tổng diện tích: 5679,55 ha, chủ yếu là đất trống, đất mặt nớc, đầm trũng, đồi
núi trọc, đất hoang hoá ven sông, ven biển do chính quyền địa phơng quản lý,
nhng cha sử dụng, hoặc sử dụng kém hiệu quả: đã thu hút trên 1000 tỷ đồng
vốn đầu t, giải quyết công ăn việc làm cho trên 4000 lao động nông nhàn hàng
năm; tạo ra nguồn thu nhập có giá trị hàng hoá và dịch vụ hơn 70 tỷ đồng, góp
phần xoá đói giảm nghèo.
- Các trang trại là những đơn vị chú trọng ứng dụng công nghệ mới thực
hiện cơ giới hoá trong sản xuất, áp dụng các quy trình kỹ thuật thâm canh để
nâng cao năng suất, chất lợng hiệu quả sản xuất, dần trở thành những mô
hinh sản xuất có quy mô lớn. Nhiều cơ sở có điều kiện hợp tác liên doanh