1
Phát triển các khu công nghiệp
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
The development of industrial parks in Vinh Phuc province
NXB H. : TTĐTBDGV, 2012 Số trang 117 tr. +
Nguyễn Thành Công Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Hồng Tiến
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Phân tích những cơ sở lý luận về phát triển khu công nghiệp, đồng thời tham
khảo kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển khu công nghiệp (KCN). Đánh giá
thực trạng phát triển các KCN hiện nay tại tỉnh Vĩnh Phúc. Đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Keywords: Kinh tế chính trị; Khu công nghiệp; Vĩnh Phúc; Tăn trưởng kinh tế
Content
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ của thủ đô Hà
Nội và cũng là cửa ngõ nối các tỉnh khu vực Tây Bắc với thủ đô Hà Nội. Là tỉnh có nhiều tiềm
năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, thuận lợi cho việc hình thành, phát triển các khu
công nghiệp (KCN) nói riêng và phát triển công nghiệp nói chung. Xây dựng và phát triển các
KCN là một trong những quyết sách trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế của Vĩnh Phúc.
phát triển KCN. Đưa ra các giải pháp phát triển các KCN một cách cân bằng và hợp lý, không chỉ
phát triển về số lượng mà cả về chất lượng của các KCN; phát huy mặt tích cực và khắc phục
những hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN.
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển các khu công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Phát triển các KCN luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các địa phương và
trong cả nước. Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn và các bài viết trên các
tạp chí về vấn đề này.
“Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về KCN, KCX ở Việt Nam” (2002) - Đề tài nghiên
cứu cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của các KCN, KCX
của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và những hạn chế của mô hình hiện đại đang áp dụng vào
Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các
KCN, KCX ở Việt Nam.
“Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở
các KCN, KCX” (2004), của tiến sỹ Trương Thị Minh Sâm đánh giá khá chi tiết và toàn diện tình
trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía nam, những thách thức đặt
ra và đề ra một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các KCN, KCX.
Năm 2004, cả nước đã có 6 hội thảo về phát triển KCN, KCX; trong đó có hội thảo với chủ đề
“Phát triển các KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc - những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Bộ Kế hoạch
và Đầu tư phối hợp với Tạp chí cộng sản và UBND tỉnh Thanh Hoá tổ chức, các bài viết đã đề cập
3
đến các vấn đề như vị trí, vai trò của các KCN, KCX; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển
các KCN, KCX; một số vấn đề lý luận về KCN, KCX; công tác quy hoạch phát triển KCN, KCX;
những nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển của các KCN phía Bắc so với phía Nam
Tháng 7/2006, nhân kỷ niệm 15 năm xây dựng các KCN, KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã
tổ chức “Hội nghị - hội thảo quốc gia 15 năm xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam”
tại Long An nhằm nhìn nhận lại những thành tựu đạt được, những hạn chế và kinh nghiệm xây
dựng và phát triển KCN, kiến nghị phương hướng và giải pháp phát triển KCN, KCX ở Việt Nam.
4
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp cơ bản nhằm phát triển các KCN một cách cân bằng và hợp lý, không chỉ về số
lượng mà cả về chất lượng; phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế của việc phát
triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích những cơ sở lý luận về phát triển khu công nghiệp, đồng thời tham khảo kinh
nghiệm của một số địa phương về phát triển KCN.
- Đánh giá thực trạng phát triển các KCN hiện nay tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: nghiên cứu các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về thời gian nghiên cứu: từ khi xây dựng và phát triển các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc (từ
1998 đến nay).
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận văn kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác giả, đồng thời quán triệt các
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong các Văn kiện Đại hội; các quan điểm, chủ trương,
chính sách của tỉnh Vĩnh Phúc trong phát triển các KCN.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế, trong đó chú trọng
đến các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp lôgic - lịch sử; phương
pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh
6. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn luận giải một cách có hệ thống thực trạng phát triển các KCN của tỉnh Vĩnh Phúc.
hội đồng bộ, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động, được thành lập
theo quy định của chính phủ. Trong KCN có thể có DN chế xuất và DN công nghệ cao."
1.1.1.2. Phân loại các KCN
Tuỳ theo góc độ tiếp cận khác nhau, có thể phân loại KCN như sau:
- Theo tính chất ngành nghề:
- Theo quy mô diện tích:
- Theo các điều kiện hình thành:
- Theo đặc điểm và cấp quản lý:
1.1.1.3. Đặc điểm của khu công nghiệp
- KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp, luôn gắn liền phát triển công
nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý.
- KCN có chính sách kinh tế đặc thù và ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo
môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn.
- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung và thu hút các DN sản xuất công nghiệp và
các DN cung cấp các dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất công nghiệp gọi chung là DN Khu
công nghiệp.
6
- Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng với những điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: hệ thống đường xá, điện, nước, thông tin
liên lạc, xử lý rác thải
- Về tổ chức quản lý: trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN.
- Sản phẩm của các doanh nghiệp KCN chủ yếu dành cho thị trường thế giới và phục vụ
xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều doanh nghiệp KCN sản xuất kinh
doanh nhằm phục vụ thị trường nội địa.
- Mọi hoạt động trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến
của thị trường quốc tế. Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN đều lấy điều tiết của thị trường
làm chính.
- Công tác quản lý nhà nước đối với việc triển khai đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; triển
khai thực hiện dự án và tổ chức sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN:
1.1.2.2. Nhóm các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp KCN
- Công tác đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của DN đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và
triển khai dự án của các DN đầu tư vào KCN:
- Nhân tố trình độ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp KCN:
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của KCN
1.1.3.1. Tiêu chí đánh giá phát triển nội tại KCN
- Vị trí địa lý của khu công nghiệp:
- Chất lượng quy hoạch khu công nghiệp:
- Tỷ lệ lấp đầy KCN:
- Tổng số vốn đăng ký và vốn đầu tư thực hiện:
- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN:
- Trình độ công nghệ của các DN trong KCN:
- Hệ số chuyên môn hoá và liên kết kinh tế:
- Mức độ thoả mãn nhu cầu cho các nhà đầu tư:
1.1.3.2. Tiêu chí đánh giá tác động lan toả của KCN
- Tiêu chí về kinh tế - kỹ thuật:
- Tiêu chí về mặt xã hội:
- Tiêu chí phản ánh về môi trường:
1.2. Kinh nghiệm của một số địa phƣơng về phát triển KCN
1.2.1. Kinh nghiệm của một số địa phƣơng
1.2.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương
Bài học kinh nghiệm từ Hải Dương:
Từ kết quả nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong phát triển các KCN
Hải Dương như sau:
- Tỉnh luôn chú trọng rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các KCN; điều chỉnh, bổ
sung quy hoạch tổng thể phát triển CN của tỉnh đến năm 2020.
- Phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đồng bộ với quy hoạch xây dựng KCN, khu
đô thị.
kinh nghiệm bổ ích nhằm phát triển các KCN của Vĩnh Phúc:
Thứ nhất, quy hoạch KCN phải được hết sức quan tâm, phải thường xuyên rà soát, điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế; đồng thời công tác triển khai thực hiện quy
hoạch phải linh hoạt, thông thoáng. Quy hoạch phải mang tính toàn diện và hợp lý giữa quy hoạch
trong và ngoài hàng rào KCN. Đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các KCN trong khu vực.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng KCN phải đi trước một bước.
Phát triển KCN cũng có nghĩa là phát huy vai trò hạt nhân của nó đối với sự hình thành
những đô thị hiện đại, muốn vậy phải chú ý đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng phải đi
trước một bước, gắn việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong KCN với cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào
KCN một cách đồng bộ, hiện đại.
Thứ ba, phát triển KCN cần có sự lựa chọn kỹ lưỡng, tránh phát triển ồ ạt, xé rào.
Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước.
9
Thứ năm, cần kết hợp giữa khâu cấp phép và khâu thanh tra, giám sát hoạt động của KCN;
đặc biệt là việc kiểm tra sau cấp phép.
Thứ sáu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo những điều kiện thuận lợi nhất
cho nhà đầu tư và DN.
Thứ bảy, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình độ
tay nghề cũng như kỷ luật lao động, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các DN.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc
2.1.1. Những thuận lợi
- Về kinh tế:
Đến nay, kinh tế Vĩnh Phúc luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Tổng sản phẩm
trong tỉnh (GDP) giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 17,4%/năm, năm 2011 tăng 14,83%. Cơ
thống đó, trong nhiều năm qua đã là động lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh
chóng trên địa bàn tỉnh.
- Về chủ trương chính sách:
Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH đất nước và xây dựng phát
triển KCN.
Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hết sức quan tâm đến việc phát triển các
KCN, nó được xem như là một quyết sách để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển công
nghiệp. Với phương châm: “Tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân Vĩnh Phúc -
Thành công của doanh nghiệp chính là thành công và niềm tự hào của tỉnh”.
- Về nguồn nhân lực:
Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, lực lượng lao động trong độ tuổi của Tỉnh chiếm
một tỷ lệ khá cao, trên 70%.
Về chất lượng lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 36,4% lực lượng lao động
năm 2007; năm 2008, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên đáng kể đạt 42,9%; năm 2010 tỷ lệ này
đạt 51,2%. Mỗi năm có trên một vạn người bước vào độ tuổi lao động, đây là nguồn cung cấp lao
động quan trọng đảm bảo nguồn lao động cho tỉnh.
2.1.2. Những khó khăn
- Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp:
Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập vào ngày 01/01/1997, khi mới tái lập nền kinh tế của tỉnh rất
thấp kém, chủ yếu dựa vào phát triển nông nghiệp. Thu ngân sách năm 1997 mới đạt 114 tỷ đồng,
cơ cấu kinh tế năm 1997: nông nghiệp: 48,27 %; công nghiệp-xây dựng: 13,98%; dịch vụ:
37,75%. Kết cấu hạ tầng yếu kém, chưa đồng bộ.[60]
- Vĩnh Phúc đất chật, người đông:
Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, hiện nay toàn tỉnh có
tổng diện tích đất tự nhiên 123.176,43 ha, dân số là 1.008,3 nghìn người, mật độ dân số rất cao
(820 người/km
2
).
Tính đến hết năm 2010 có 120.263,82ha, chiếm 97,6% diện tích đất tự nhiên. Như vậy,
KCN khoảng 877 tỷ đồng và 13,5 triệu USD.
Nhìn lại hơn 10 năm phát triển, có thể nhận thấy quy hoạch phát triển KCN của tỉnh khá
hợp lý, cho phép khai thác được các tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Cụ thể:
- Các KCN đều được quy hoạch ở vị trí thuận lợi về giao thông.
- Quy hoạch KCN được gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển KT-XH của địa phương.
- Quy hoạch KCN đã gắn với quy hoạch các khu đô thị, dịch vụ đảm bảo cung cấp nhà ở
cho công nhân, chuyên gia làm việc trong KCN; cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo
dục đào tạo, vui chơi giải trí cho người lao động.
2.2.2.2. Tình hình và kết quả hoạt động của các KCN
Các KCN phát triển khá thành công, thể hiện ở một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
12
- Tỷ lệ lấp đầy KCN
Tính đến hết năm 2011, tỷ lệ lấp đầy theo diện tích đất đã thu hồi, xây dựng hạ tầng:
78,1%. [7]
KCN Kim Hoa - giai đoạn I, có diện tích tự nhiên 50 ha, (lấp đầy 100%) để thực hiện dự
án sản xuất ô tô, xe máy.
KCN Khai Quang, tỷ lệ lấp đầy đạt 91,32%.
KCN Bình xuyên, tỷ lệ lấp đầy KCN: 54,52 %; nếu tính trên diện tích đất công nghiệp đã
thu hồi và giao đất là 139 ha thì tỷ lệ lấp đầy đạt 72,9%.
KCN Bá Thiện, diện tích đất tự nhiên 327 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 60,6%.
- Vốn đầu tư thu hút và vốn đầu tư thực hiện
Trong năm 2011, Ban quản lý các KCN đã làm thủ tục cấp và trình UBND tỉnh cấp Giấy
chứng nhận đầu tư cho 46 dự án, gồm 40 dự án DDI đầu tư mới với số vốn đầu tư đăng ký là
1.702,73 tỷ đồng (trong đó có 1.581,4 tỷ đồng vốn đầu tư cấp mới và 121,33 tỷ đồng của 7 dự án
điều chỉnh, tăng vốn), bằng 25,8% về số dự án, 23,63% về vốn đầu tư so với cùng kỳ, đạt 48,65%
kế hoạch năm và 6 dự án FDI mới với tổng vốn đầu tư 62,46 triệu USD (trong đó có 21,28 triệu
USD vốn đầu tư cấp mới và 41,18 triệu USD của 11 dự án điều chỉnh tăng vốn), bằng 60% về số
dự án và 24,637% về vốn đầu tư so với cùng kỳ, đạt 31,23% kế hoạch năm.
Riêng trong năm 2011, giá trị thực hiện đầu tư xây dựng xây dựng hạ tầng kỹ thuật các
+ Về giá trị xuất khẩu:
Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu của các KCN tăng cao bắt đầu từ năm 2007 nhờ có nhiều
dự án đầu tư của các nước lớn và tập đoàn lớn. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của các KCN đạt
175,0 triệu USD, chiếm 80,9 % tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Đến năm 2008, chỉ số này
tăng đột biến, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 290,0 triệu USD, chiếm 84,4 % tổng kim ngạch xuất
khẩu toàn tỉnh. Năm 2010, nền kinh tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế chung, nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 322,4 triệu USD, chiếm 79 % tổng kim
ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.
` + Về thu nộp ngân sách:
Năm 2008, đạt 1.514,84 tỷ đồng chiếm 27% tổng thu ngân sách của tỉnh; năm 2009 đạt
2.799,21, chiếm 30% tổng thu ngân sách; năm 2010 đạt 2.525,21, chiếm 25% tổng thu ngân sách
của tỉnh.
Hiện nay, KCN Khai Quang nộp ngân sách năm 2011 là 750,5 tỷ đồng; KCN Bình Xuyên
nộp ngân sách năm 2011 là 517 tỷ đồng; riêng Công ty Honda nộp ngân sách năm 2011 là 4.500
tỷ đồng (bao gồm cả thu nội địa và thuế xuất nhập khẩu). [7]
+ Về giải quyết việc làm:
Đến nay các KCN của tỉnh đã giải quyết việc làm cho gần 40.000 lao động, đó là chưa tính
số lao động làm việc trong các DN xây dựng hạ tầng KCN và số lao động cung cấp dịch vụ cho
các KCN. Tỷ lệ lao động địa phương trong các KCN đạt gần 60%. Công ty Honda giải quyết
8.629 lao động, KCN Khai Quang giải quyết 22.722 lao động. [7]
Xẩy ra tình trạng thiếu lao động có trình độ tay nghề, kỹ thuật cao.
- Hiệu quả đầu tư trên một đơn vị diện tích đất KCN
Một số chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất KCN Kim Hoa tính cho 01 ha:
+ Thu hút được 5,34 triệu USD.
+ Giải quyết được 122 lao động.
+ Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 378,8 tỷ đồng/ha (giá cố định 94).
+ Thu ngân sách năm 2011: 62,14 tỷ đồng.
Một số chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất KCN Khai Quang:
+ Suất đầu tư trung bình: 5,96 triệu USD/01 ha (bao gồm cả dự án FDI và DDI, nếu tính
riêng dự án FDI thì suất đầu tư trung bình đạt 7,39 triệu USD/ha).
giảm dần tỷ trọng ngành sản xuất nông nghiệp, thực sự trở thành nhân tố thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cầu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Năm 2010, tỷ trọng của ngành nông nghiệp chỉ còn 14,9%, ngành công nghiệp tăng mạnh
lên 56,2% và ngành dịch vụ là 28,9%. Với tỷ trọng của ngành công nghiệp lên đến trên 50% cơ
cấu nền kinh tế cho thấy Vĩnh Phúc đã cơ bản tiến đến việc trở thành tỉnh công nghiệp.
- Thúc đẩy việc phát triển nhanh chóng cơ sở hạ tầng
Sự phát triển nhanh chóng của các KCN tỉnh Vĩnh Phúc đã kích thích sự phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật của địa phương với số lượng và chất lượng ngày càng cao.
Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá phát triển với 3 loại: giao thông đường bộ, đường
15
sắt, đường sông. Nhiều tuyến được đầu tư đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội. Giao
thông đô thị và giao thông nông thôn đã được quan tâm đầu tư nâng cấp, đảm bảo thông thương
và giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong tỉnh và với bên ngoài.
Trong 10 năm qua dịch vụ thông tin liên lạc trong tỉnh phát triển khá nhanh, về cơ bản đã
đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc trong quản lý, kinh doanh và đời sống xã hội.
Các dịch vụ tín dụng, tài chính ngân hàng phát triển nhanh và ngày càng đa dạng về hình
thức cũng như chất lượng dịch vụ.
Hệ thống cấp điện được đầu tư xây dựng hiện đại, đảm bảo cấp điện sinh hoạt cho 100%
các hộ và cấp đủ điện cho sản xuất công nghiệp. Hệ thống cấp nước sạch đã được hoàn thiện và
thực hiện việc cấp nước sạch đầy đủ cho các đô thị, hiện đang được tiếp tục đầu tư để cấp nước
sạch cho khu vực nông thôn
- Chuyên môn hóa và liên kết kinh tế
Các KCN chưa có nhiều hỗ trợ về kỹ thuật đối với các DN sản xuất bên ngoài, chưa có
DN sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ những ngành nghề bên ngoài. Chủ yếu mới dừng lại ở việc
tạo ảnh hưởng về việc áp dụng trình độ quản lý hoạt động sản xuất đối với các DN bên ngoài.
Như vậy, mối liên kết kinh tế giữa các DN trong các KCN; giữa các KCN với nhau; giữa
các doanh nghiệp KCN với các DN bên ngoài chưa cao. Sự liên kết chỉ trong phạm vi hẹp, chưa đi
vào chiều sâu là liên kết trong tổ chức sản xuất và lưu thông hàng hóa, chưa có sự hỗ trợ nhiều
cho nhau.
các ngành công nghiệp mũi nhọn.
Như vậy, các KCN Vĩnh Phúc đã có những tác động to lớn, thúc đẩy sự phát triển KT-XH
của tỉnh nhà. Đòi hỏi, trong thời gian tới cần có chính sách và cơ chế chế quản lý phù hợp đảm
bảo sự phát triển của các KCN, nhằm phát huy tốt những tác động tích cực.
2.2.3.2. Những hạn chế, tồn tại
Bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, quá trình phát triển các KCN Vĩnh Phúc vẫn
còn những tồn tại, hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết, đó là:
- Thứ nhất, kết quả thu hút đầu tư các dự án công nghiệp, phát triển KCN chưa tương xứng
với tiềm năm phát triển của tỉnh và thiếu tính bền vững.
- Thứ hai, quy hoạch KCN còn những hạn chế nhất định.
- Thứ ba, tiến độ triển khai thực hiện của nhiều dự án còn chậm so với tiến độ đăng ký đầu tư.
- Thứ tư, xuất hiện nhiều vấn đề xã hội bức xúc quanh các KCN.
- Thứ năm, công tác bồi thường, GPMB, giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề cho người
dân mất đất còn chậm.
- Thứ sáu, công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế.
- Thứ bảy, vấn đề ô nhiễm môi trường tại các địa phương có KCN.
2.2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
- Tình hình chính trị, kinh tế, an ninh trên thế giới có nhiều biến động lớn, diễn biến phức tạp.
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tỉnh còn thiếu, chưa đồng bộ và còn nhiều bất cập.
- Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước chậm ban hành hoặc chưa đồng bộ, thiếu tính
ổn định hoặc khó áp dụng.
- Chính sách, cơ chế tài chính về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng thiếu tính ổn định.
- Chi phí về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, tiền thuê đất tăng cao và tăng nhanh.
- Lạm phát gia tăng, giá các loại hàng hóa, vật tư, vật liệu, nguyên nhiên liệu và năng
lượng tăng cao.
- Hệ thống dịch vụ còn thiếu và yếu, công tác đào tạo nghề chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa nhà nước, nhà trường và nhà đầu tư. Nhà ở công nhân chậm phát triển.
17
- Công tác quản lý quản lý KCN còn có sự chồng chéo, chưa rõ ràng.
- Quy hoạch ngành nghề trong KCN phải phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.
- Quy hoạch diện tích đất cho KCN cần hợp lý, phù hợp với quỹ đất của địa phương và
khả năng thu hút đầu tư.
3.2.2. Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tƣ
Thời gian tới, để thực hiện tốt công tác xúc tiến đầu tư, cần phải thực hiện đồng bộ các nội
dung sau:
18
- Chính quyền tỉnh phải thực sự vào cuộc, coi công tác xúc tiến đầu tư, tiếp thị và hỗ trợ
đầu tư là công tác đặc biệt quan trọng.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần tạo điều kiện để các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội
đầu tư thông qua việc giới thiệu định hướng phát triển KT-XH, quy hoạch các KCN.
- Đối với các công ty kinh doanh trong KCN cũng cần tăng cường tiếp thị cho KCN.
- Ban quản lý các KCN cần phối hợp với các cơ quan chức năng như Phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh, các công ty kinh doanh hạ tầng
KCN để cùng nhau giới thiệu các KCN.
- Ban hành các chính sách hướng dẫn đầu tư vào KCN trong đó nêu rõ các chính sách, thủ
tục thực hiện đầu tư, giới thiệu những thông tin kinh tế cơ bản.
- Đổi mới hơn nữa về nội dung và hình thức vận động xúc tiến đầu tư.
- Cần xác định lĩnh vực mũi nhọn để thực hiện xúc tiến đầu tư.
3.2.3. Hoàn thiện một số cơ chế chính sách về thu hút đầu tƣ
3.2.3.1. Đổi mới chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Để có được chính sách ưu đãi đầu tư đúng đắn và lâu dài, Vĩnh Phúc cần thực hiện một số
giải pháp sau:
- Quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phải có tính ổn định lâu dài, ít nhất có hiệu
lực từ 5 năm trở lên.
- Thủ tục, hồ sơ để được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phải đơn giản, rõ ràng, công khai.
- Xóa bỏ các chính sách ưu đãi khác nhau đối với các KCN có điều kiện tương ứng như
nhau trong cùng một khu vực nhưng nằm ở hai địa phương khác nhau.
- Có chính sách ưu đãi riêng đối với các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các KCN chuyên
khắc phục được những khiếm khuyết của công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.
Trước tiên, cần phải tôn trọng lợi ích của dân, phải đảm bảo hài hòa các loại lợi ích, mặt
khác mọi hoạt động đầu tư phải mang lại lợi ích cho xã hội, không gây thiệt hại cho bất cứ một
chủ thể nào, dù đó là người dân bình thường. Để quán triệt quan điểm này cần có các giải pháp:
- Quy hoạch phát triển KCN phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
- Nhanh chóng hoàn thiện các quy hoạch về sử dụng đất ổn định, lâu dài.
- Việc đền bù cần công khai, minh bạch để dân có thể kiểm tra, giám sát,
- Xây dựng mối đoàn kết giữa các chủ đầu tư với chính quyền nhân dân địa phương.
- Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân cần nghiên cứu các biện pháp phù hợp như xây dựng nhà ở, với
nhiều loại hình như hộ gia đình, khu chung cư, khu đô thị của các hộ trong vùng di dời, giải tỏa
kết hợp với nhà ở cho người lao động gần KCN.
- Hoàn thiện chính sách giá cho thuê đất trong KCN
Để có chính sách giá đúng đắn đòi hỏi Tỉnh ủy, UBND phải linh hoạt đưa ra các quyết
định giá thuê đất hợp lý. Có thể chia ra hai trường hợp, trường hợp thứ nhất thuê đất trả ngay một
lần trong suốt thời gian thuê, trường hợp thứ hai trả tiền thuê đất hàng năm hoặc theo kỳ, nhưng
phải tuân theo giá thị trường. Nhà nước có thể ưu đãi về thuế, phương thức thanh toán…
3.2.6. Phát triển nguồn nhân lực cho phát triển các khu công nghiệp
Để giải quyết tốt vấn đề này phải có một giải pháp phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho
các KCN trong thời gian tới:
- Nâng cao việc nhận thức và thực hiện tốt việc đào tạo nghề cho người lao động để đáp
ứng đòi hỏi của sản xuất tiên tiến, hiện đại.
- Nhanh chóng xây dựng và phát triển các trường dạy nghề dưới nhiều hình thức.
20
- Quan tâm và đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo nghề.
- Có chính sách khuyến khích đào tạo xây dựng các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề,
các cơ sở dạy nghề.
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức tuyên truyền khác,
tuyên truyền rộng lớn để thay đổi nhận thức về nghề nghiệp tới học sinh và cha mẹ học sinh, từ đó
- Khuyến khích các dự án đầu tư và sản xuất không gây ô nhiễm môi trường trong các KCN.
- Thường xuyên giám sát chặt chẽ việc giải quyết ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp.
21
- Dành nguồn ngân sách nhất định cho công tác bảo vệ môi trường và huy động được các
nguồn vốn khác cho công tác bảo vệ môi trường của KCN.
- Quy hoạch thoát nước thải cho khu công nghiệp phải tính đến nơi thải nước cụ thể.
- Kiên quyết di dời các doanh nghiệp gây ô nhiễm lớn ra xa các khu dân cư.
- Đối với khí thải từ các dây truyền sản xuất cần phải thường xuyên định kỳ quan trắc mức
độ ô nhiễm.
- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát thải các chất gây ảnh hưởng xấu tới môi trường bắt buộc
phải có báo cáo đánh giá định kỳ những tác động tới môi trường và các biện pháp xử lý khắc phục.
3.3. Kiến nghị và đề xuất
3.3.1. Đối với UBND tỉnh Vĩnh Phúc
3.3.2. Đối với Chính phủ
KẾT LUẬN
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với nhiều lợi thế để phát triển
KCN. Thực tế cho thấy, KCN đang ngày càng tỏ rõ những ưu thế của mình trong việc phát triển KT-
XH: thu hút đầu tư, đóng góp giá trị lớn vào ngân sách nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và
thu nhập cho người lao động, hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, tác động lan tỏa tích cực đến nhiều
ngành kinh tế, hình thành những ngành kinh tế mũi nhọn để tăng cường khả năng cạnh tranh Trên cơ
sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế có thể khẳng định rằng phát triển các KCN là một hướng đi
đúng đắn để thực hiện CNH, HĐH nền kinh tế xã hội của Vĩnh Phúc.
Bên cạnh đó, các KCN của Vĩnh Phúc cũng còn không ít tồn tại, hạn chế: thu hút đầu tư giảm
sút, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, tiến độ triển khai dự án còn chậm, xuất hiện nhiều vấn đề
xã hội bức xúc quanh KCN, tiến độ bồi thường, GPMB, thu hồi đất, tái định cư còn chậm chạp, công
tác quản lý nhà nước còn chưa thực sự hiệu quả, tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh KCN
Sau một thời gian nghiên cứu và khảo sát thực tế, bước đầu luận văn đã đạt được một số
khu công nghiệp theo Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ
9. Ban quản lý các khu công nghiệp Vĩnh Phúc (2011), Báo cáo tổng kết 20 năm xây dựng và phát
triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
10. Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh (2011), Báo cáo tổng hợp tình hình phát triển
KCN tỉnh Bắc Ninh.
11. Ban quản lý các khu công nghiệp Hải Dương (2011), Báo cáo tổng hợp tình hình phát triển
KCN tỉnh Hải Dương.
12. Bộ Công nghiệp (2006), Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và miền núi
Bắc Bộ, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội.
13. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Báo cáo tổng hợp đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển các
khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam thời kỳ 2005- 2020, 14. Chính phủ (2008), Nghị định
số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ về Khu công nghiệp, khu chế xuất và khu
kinh tế.
15. Cục thống kê Vĩnh Phúc (2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh
Phúc, NXB Thống kê, Hà Nội.
16. Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc: www.vinhphuc.gov.vn.
17. Trần Thị Dung (2004), Về việc phát triển các khu công nghiệp tại các khu vực Bắc Bộ, Thông
tin khu công nghiệp Việt Nam, (5), tr.14-15.
18. Nguyễn Thành Dũng (2002), Vai trò của khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế
trước thực trạng toàn cầu hóa kinh tế ngày nay, Tạp chí Phát triển kinh tế, tr.6.
23
19. Nguyễn Ngọc Dũng (2005), Một số vấn đề xã hội trong xây dựng và phát triển các khu công
nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu- trao đổi, (3), tr.26- 27.
20. Lê Tuấn Dũng (2004), Hướng đi cho phát triển KCN tại một số tỉnh miền núi Bắc Bộ, Thông
tin khu công nghiệp Việt Nam, (5), tr 8-9.
21. Nguyễn Hữu Dũng (2006), Phát triển Khu công nghiệp với vấn đề lao động- việc làm ở Việt
Nam”.
22. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXBCTQG,
Hà Nội.
cơ cấu kinh tế của tỉnh Kỷ yếu: 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế
xuất ở Việt Nam, Nxb Long An.
37. Bích Liên (2004), Khu công nghiệp qua hơn 10 năm phát triển – thành công và khó khăn cần
giải quyết, Tạp chí Thông tin KT – XH, (11), tr.25.
38. Nguyễn Công Lộc (2006), Vai trò của các khu công nghiệp đối với quá trình tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc, Kỷ yếu: 15 năm xây dựng và phát triển các
khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Nxb Long An.
39. ThS Bùi Vĩnh Kiên (2007), Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp Bắc Ninh, Tạp
chí Kinh tế và phát triển, (7).
40. Đinh Thị Kim Khánh (2007), Năng lực cạnh tranh của tỉnh Vĩnh Phúc trong việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài, luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
41. Anh Minh (1998), Để lấp đầy chỗ khu công nghiệp, Báo Đầu tư, ngày 9/4/1998.
42. Vũ Xuân Mừng (2004), Khai thác tốt lợi thế, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở
các tỉnh phía Nam, Tạp chí Cộng sản, (1), tr.44-48.
43. Võ Văn Một (2006), Phát triển các khu công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH tại tỉnh Đồng
Nai, Kỷ yếu: 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam,
Nxb Long An.
44. Trần Văn Phòng (2007), Nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của các khu công nghiệp Việt Nam,
Luận án tiến sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
45. Lê Dương Quang (2007), Vấn đề quy hoạch các khu công nghiệp ở nước ta hiện nay, Tạp chí
quản lý nhà nước, (135).
46. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật đầu tư, số 59/2005/QH11.
47. Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ
môi trường của các khu chế xuất, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
48. Nguyễn Huy Thám (1997), Mấy vấn đề khu chế xuất và khu công nghiệp Việt Nam hiện nay,
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (8), tr. 15-17.
49. Đặng Văn Thắng (2006), Nâng cao chất lượng quy hoạch khu công nghiệp – bài học thực tiễn
và những quan điểm định hướng, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (5), tr.15-18.
50. Võ Thanh Thu (2004), Thực trạng lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại miền
Đông Nam Bộ, Thông tin KCN Việt Nam, (10), tr. 8-9.