Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội bớc vào thế kỷ
XXI xứng đáng với tầm vóc vị trí của trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá lớn
của cả nớc.Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành phố đề ra
chủ trơng xây dựng các khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ (khu-cụm
CNV&N) trên địa bàn huyện nhằm thúc đẩy chơng trình công nghiệp hoá-
hiện đại hoá kinh tế thủ đô Hà Nội hiện nay và những năm tiếp theo.
Việc đầu t xây dựng phát triển và các khu công nghiệp và chế xuất đã
đợc nhiều quốc gia thực hiện, lấy đó làm cơ sở và tiền đê thực hiện đất nớc.
Sau khi nhà nớc ta ban hành Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam (1989) thì
nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất đã đợc xây dựng và đi vào họat động,
trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Quá trình hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất đã bớc đầu
tạo sự chuyển biến rõ rệt về giá trị sản sản xuất công nghiệp trên địa bàn và
nổi bật nhất là:
- Thiết bị- quy trình công nghệ hiện đại đã hình thành và ngày càng có
vị trí quan trọng trong tạo ra sản phẩm công nghiệp chất lợng cao.
- Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tăng do có sự đóng
góp của các khu công nghiệp và khu chế xuất.
- Giá trị hàng xuất khẩu của các khu công nghiệp và khu chế xuất
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của địa bàn.
- Thu hút một lực lợng lao động lớn, giải quyết đợc nhiều công ăn việc
làm cho lao động Thủ đô.
Do u thế của các khu công nghiệp, khu chế xuất và do yêu cầu về mặt
bằng sản xuất công nghiệp (đặc biệt là khu vực kinh tế t nhân). Đồng thời
góp phần giải quyết ô nhiễm môi trờng-vấn đề mang tính cấp bách của Hà
Nội hiện nay. Từ năm 1998 Thành uỷ, Hội Đồng Nhân Dân, Uỷ ban nhân
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đỡ em trong thời gian thực tập và làm đề tài trên.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ch ơng I :
Lý luận chung về đầu t và KCN, KCX, khu-cụm
CNV&N.
I. Những vấn đề lý luận chung về đầu t và đầu t phát triển.
1. Khái niệm chung về đầu t và vốn đầu t.
1.1. Đầu t.
Thuật ngữ đầu t (investment) có thể đợc hiểu đồng nghĩa với sự bỏ
ra, sự hi sinh. Do đó chúng ta có thể hiểu đầu t trên các góc độ sau:
Trên góc độ tài chính: Đầu t là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để
chủ đầu t nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.
Trên góc độ tiêu dùng: Đầu t là hình thức hạn chế tiêu dùng ở hiện tại
để thu đợc một mức tiêu dùng nhiều hơn ở tơng lai.
Trong phạm vi một doanh nghiệp:
+ Dới quan điểm của nhà kinh tế đầu t chỉ là một dòng vốn dùng thay
đổi quy mô dự trữ đang có.
+ Dới quan điểm của kế toán thì nếu sản phẩm hoặc dịch vụ đợc sử
dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất và nếu doanh nghiệp là chủ sở hữu thì có
khái niệm đầu t của doanh nghiệp.
+ Dới quan điểm của nhà quản lý thì đầu t hay chi phí của doanh
nghiệp sẽ tạo ra những dòng lợi ích mới.
Qua việc tiếp cận trên các góc độ khác nhau ta có thể hiểu khái niệm
về đầu t một cách chung nhất nh sau:
Đầu t là việc bỏ vốn, chi dùng cùng với các nguồn lực khác trong hiện
tại (sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ, tài nguyên, công nghệ...) để tiến
hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác sử dụng một tài sản) nhằm thu
về các kết quả có lợi trong tơng lai.
yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngời dân trong xã hội. Đó
chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng,
mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dỡng đào tạo
nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thờng xuyên gắn liền với sự hoạt động
của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Đề cập đến hoạt động đầu t nói chung thờng đợc coi là hoạt động đầu
t phát triển.
Một hoạt động đầu t thờng chứa đựng trong đó những nội dung cơ bản
sau:
- Mục tiêu của hoạt động đầu t.
- Vốn đầu t và các điều kiện khác nhau để sử dụng nguồn vốn này.
- Phơng thức tiến hành đầu t.
- Thời gian đầu t và tính hiệu quả đạt đợc.
1.2. Vốn đầu t.
Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, để tiến hành một hoạt
động sản xuất kinh doanh cần phải có tiền.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiền này dùng để sửa chữa hoặc
mua sắm thêm các trang thiết bị, nhà xởng, trả lơng công nhân, cán bộ quản
lý, mua sắm nguyên vật liệu
Đối với nhà nớc, tiền này dùng để chi cho bộ máy quản lý nhà nớc,
xây dựng cơ sở hạ tầng, chi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, các ch-
ơng trình phúc lợi xã hội, chi bổ sung cho các doanh nghiệp mà nhà nớc
muốn nắm độc quyền.
Số tiền để chi cho các hoạt động nói trên là rất lớn, không thể huy
động cùng một lúc từ các khoản chi tiêu thờng xuyên của các cơ sở của xã
hội vì điều này sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động bình thờng của sản xuất và
sinh họat của xã hội. Do đó, tiền sử dụng cho các hoạt động trên chỉ có thể là
tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết
kiệm của dân và vốn huy động từ nớc ngoài.
4
động ở ngay nơi mà nó đợc tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa hình tại
đó có ảnh hởng lớn đến quá trình thực hiện đầu t cũng cũng nh tác dụng sau
này của các kết quả đầu t.
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu t chịu ảnh h-
ởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
- Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu t đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội
cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị.
2.2. Vai trò của đầu t phát triển.
Từ việc xem xét bản chất của đầu t phát triển, các lý thuyết kinh tế, cả
lý thuyết kinh tế kế hoạch hóa tập trung và lý thuyết kinh tế thị trờng đều coi
đầu t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của
sự tăng trởng. Vai trò này của đầu t đợc thể hiện ở các mặt sau đây:
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu.
Về mặt cầu:
Đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền toàn bộ
nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, đầu t thờng chiếm khoảng
24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới. Đối với tổng
cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn. Vì trong ngắn hạn, công cuộc đầu t cha
phát huy đợc tác dụng nên tổng cung cha kịp thay đổi để thoả mãn với tổng
cầu. Sự tăng lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng: Đờng cầu D dịch chuyển
lên trên D
,
, sản lợng cân bằng tăng từ Q
0
lên Q
1
E
1
P
2
E
2
D
P
0
E
0
D
0 Q
0
Q
1
Q
2
- Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng
cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t,
dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu
tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Khi tăng đầu t, cầu các yếu tố của đầu t tăng làm cho giá của các hàng
hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật t) đến
một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lợt mình, lạm phát làm
cho sản xuất đình trệ, đời sống ngời lao động gặp nhiều khó khăn do tiền l-
ơng ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt
thể tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng trởng đầu t
nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với
các ngành nông, lâm , ng nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả
năng sinh học, để đạt đợc tốc độ tăng trởng từ 5 đến 6 % là rất khó khăn. Nh
vậy, chính sách đầu t quyết định qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các
quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi
tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa
thế, kinh tế, chính trị... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn,
làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
- Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của đất n-
ớc.
Khoa học công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều
kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của mỗi
quốc gia.
Chúng ta đều biết rằng có 2 con đờng cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là tự
nghiên cứu hay nhập từ nớc ngoài thì đều cần phải có tiền, có vốn đầu t. Mọi
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những ph-
ơng án không khả thi.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của
Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, nếu
chia quá trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam
đang là 1 trong 90 nớc kém nhất về công nghệ. Với trình độ công nghệ lạc
hậu này, quá trình CNH-HĐH của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu
không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển công nghệ nhanh và vững
Nguồn vốn huy động cho đầu t phát triển bao gồm nguồn vốn trong n-
ớc và nguồn vốn huy động từ nớc ngoài.
3.1. Nguồn vốn trong nớc.
Đợc huy động bởi các nguồn:
Vốn tích luỹ từ ngân sách.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vốn tích luỹ từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Vốn tiết kiệm của dân c.
Vốn huy động từ ngân sách là cơ sở giúp nhà nớc hoạch định và thực
hiện kế hoạch đầu t trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, nó đóng vai trò quan
trọng trong đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng công trình công cộng, tạo
điều kiện đầu t thuận lợi và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác tham gia
đầu t, hỗ trợ hệ thống các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhà nớc
chiếm 20% vốn trong nớc. Nguồn vốn nhà nớc đảm bảo cho sự hoạt động
của các doanh nghiệp nhà nớc. Nh vậy để nền kinh tế nhà nớc thực sự giữ vai
trò chủ đạo nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, đa nền kinh tế đất nớc phát triển
theo kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
Vốn tích luỹ từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế: Nguồn vốn
này đợc hình thành từ lợi nhuận để lại và quỹ khấu hao của doanh nghiệp. Nó
có ý nghĩa quan trọng trong việc tái đầu t, đổi mới công nghệ, mở rộng sản
xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và
góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hớng CNH-HĐH đồng thời giải quyết việc
làm và nâng cao mức sống của ngời lao động.
Trong khi việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài để đầu t một cách
khó khăn thì nguồn vốn này có thể đảm bảo hoạt động cho các doanh nghiệp
một cách liên tục và có hiệu quả. Do vậy nó không chỉ có ý nghĩa quan trọng
đối với doanh nghiệp mà cả với quá trình phát triển kinh tế đất nớc. Hiện nay
ở các nớc đang phát triển nguồn vốn này chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu t
đầu cần vốn đê tiến hành CNH-HĐH. Thực tế cho thấy ở nhiều nớc đang phát
triển đặc biệt là các nớc ASEAN nhờ có FDI mà đã giải quyết đợc một phần
khó khăn về vốn. Đối với nớc ta FDI chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu t toàn
xã hội, nguồn vốn này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển một số
ngành công nghiệp và dịch vụ của nớc ta, góp phần thúc đẩy tăng trởng và
phát triển kinh tế.
Cùng với việc đầu t vốn và vấn đề kỹ thuật. Thông qua những hoạt
động đầu t mà công nghệ hiện đại đợc đa vào nớc ta ngày càng nhiều. Nhờ
vậy mà ta có điều kiện tiếp xúc với công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm và năng
lực marketing đồng thời lao động đợc bồi dỡng về nhiều mặt.
Do tác động của vốn và công nghệ FDI đã góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp. Phát triển vùng kinh tế trọng điểm kết hợp với việc phát
triển đồng đều các địa phơng.
FDI là một hình thức hợp tác đầu t quốc tế, do đó thông qua nó mà
Việt Nam có thêm điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia trên
thế giới qua đó ta có thể nâng cao vai trò và vị thế của nớc ta trên trờng quốc
tế.
Tuy nhiên, FDI cũng có một số nhợc điểm nh cạnh tranh với một số
doanh nghiệp trong nớc về thị trờng, yếu tố nguồn lực, gây ra nạn chảy máu
chất xám, tạo ra sự bất hợp lý trong cơ cấu đầu t hay tình trạng biến nớc đợc
đầu t thành bãi rác bởi những công nghệ đợc chuyển giao đã lạc hậu gây ô
nhiễm môi trờng.
- Vốn đầu t gián tiếp nớc ngoài (ODA)
Là hình thức đầu t trong đó chủ đầu t không trực tiếp tham gia quản lý,
vận hành các kết quả đầu t. ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, cho vay u
đãi về lãi suất, quy mô, thời gian.
ODA là nguồn bổ sung cho ngân sách nhà nớc trong việc phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội bao gồm các công trình giao thông vận tải, cầu
cảng, khu công nghiệp, y tế, giáo dục... đó là những công trình không sinh lời
thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nớc chủ nhà". Tổ chức
Hiệp Hội KCX thế giới (WEPZA) quan niệm rộng hơn:"KCX không chỉ bao
gồm KCN tự do mà cả loại hình ngoại thơng tự do, khu vực phi thuế quan".
ở Việt Nam mô hình KCN-KCX đợc chú ý quan tâm từ khi chúng ta
thực hiện đờng lối phát triển đổi mới, mở cửa. Hội đồng Bộ trởng có nghị
định 322/ HĐBT về quy chế KCX, NĐ 192/CP ngày 28/12/1994 về quy chế
KCN. Nghị định 36/CP của Chính phủ ngày 24/4/1997 về quy chế KCN-
KCX, KCN cao. Đến năm 1999 Quốc hội đã thông qua luật về KCN-KCX.
Theo NĐ 36/CP của Chính phủ thì: "KCN là khu tập trung các doanh
nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân c sinh
sống; do Chính phủ hoặc Thủ tớng Chính phủ quyết định thành lập. Trong
KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất".
KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không
có dân c sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tớng Chính phủ quyết định thành
lập.
KCN là nơi chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp. KCN có ranh giới địa lý xác định gồm: Khu
SXCN, các dịch vụ liên quan và khu dân c. Trong khu sản xuất công nghiệp
không có dân c sinh sống.Việc phát triển KCN đợc khởi đầu bằng việc phát
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
triển các công trình hạ tầng và các tiện ích phục vụ cho phát triển KCN do
Công ty phát triển KCN thực hiện.
KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xây dựng.
KCX có ranh giới địa lý xác định, có hàng rào ngăn cách với thị trờng nội
địa, cổng và cửa ra vào. KCX gồm khu SXCN không có dân c sinh sống.
Trên thực tế ở nớc ta trớc kia và hiện nay vẫn còn tồn tại sự nhầm lẫn
. Bảo vệ môi trờng sinh thái, phát triển các khu dân c và đô thị mới...
Trong xu thế khách quan đó, việc phát triển khu-cụm CNV&N ở Thủ
đô Hà Nội còn nhằm thực hiện chơng trình CNH-HĐH Thủ đô: khắc phục
những hạn chế của các khu vực phân bố công nghiệp cũ phù hợp với khả
năng về diện tích mặt hạn hẹp của các Quận, Huyện trong Thành phố; tạo
điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), tiềm lực yếu có thể
tham gia đầu t phát triển; thực hiện chủ trơng di chuyển một số doanh nghiệp
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ở khu vực nội thành ra ngoại thành theo Quy hoạch phát triển Thủ đô từ nay
đến năm 2020,...
1.3. Kinh nghiệm về hình thành và phát triển các loại hình KCN ở một
số nớc trên thế giới.
Qua nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển KCN ở một số nớc
trên thế giới, nhất là các nớc Đông Nam á (Thái Lan, Singapore, Malaysia,
Đài Loan, Hàn Quốc...) có thể rút ra một số bài học điển hình sau đây:
Một là, về nghiên cứu mục tiêu phát triển KCN. Những mục tiêu chủ
yếu mà các nớc xác định là:
Thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Thu hút vốn đầu t và công nghệ hiện đại từ nớc ngoài.
Khắc phục sự ô nhiễm, sự phân bố doanh nghiệp rời rạc, kết cấu hạ
tầng kỹ thuật bất hợp lý.
Khắc phục tình trạng phân bố công nghiệp quá tập trung ở Thủ đô và
các Thành phố lớn.
Thu hút lao động, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Hai là, về vị trí xây dựng các KCN. Phần lớn KCN ở các nớc đều đợc
bố trí ở địa điểm thuận lợi nh: gần cảng biển, cảng Hàng Không, gần đờng
quốc lộ, thuận lợi về giao lu hàng hoá và liên hệ với bên ngoài. Các KCN đều
có ranh giới nhất định, đợc bố trí trên diện tích khá lớn (ví dụ khu
triển các KCN mà thay đổi tổ chức quản lý cho thích hợp. Nhìn chung, trong
thời kỳ đầu mới phát triển, Chính quyền Trung ơng thống nhất quản lý Nhà
nớc đối với các KCN. Khi mọi hoạt động trong KCN đi vào nền nếp mới tiến
hành phân cấp quản lý cho các địa phơng.
1.4. Điều kiện hình thành và phát triển KCN.
Để hình thành KCN, cần tính tới các điều kiện chủ yếu sau đây:
Quy mô đất đai phải đủ lớn, từ 50 ha đến hàng nghìn ha.
Cấu trúc hạ tầng thuận tiện, nhất là đầu mối giao thông, gần sân bay,
bến cảng, đờng sắt, đờng quốc lộ.
Chi phí sản xuất thấp, nhất là chi phí nhân công, nguyên vật liệu và
vận tải.
Đợc hởng các quy chế u đãi về sử dụng đất, c trú, chuyển đổi ngoại
tề, thuế quan.
Dịch vụ trọn gói.
Môi trờng chính trị phải và pháp luật ổn định....
Về cơ bản, các KCN của ta có nhiều điều kiện thu hút các nhà đầu t.
Tuy vậy, trên thực tế còn những yếu tố thị trờng tài chính cha phát triển
mạnh; lực lợng lao động và quản lý đang ở giai đoạn thấp của sự phát triển
công nghiệp...
1.5. Các căn cứ tiêu chí cơ bản để lựa chọn vị trí xây dựng phát triển
KCN.
Vì sao mỗi nhà máy lại nằm ở một địa điểm riêng. Câu trả lời ít khi
đơn giản vì thực tế của địa phơng, vị trí mà KCN đóng tại đó. Nói cụ thể hơn
là địa điểm đợc có nhiều thuận lợi và ít bất lợi nếu có. Chắc chắn rằng, sẽ có
một hoặc nhiều yếu tố hấp dẫn nhất, bao gồm một loạt các yếu tố thuận lợi
mà một vị trí đợc cân nhắc. Trong thực tế có nhiều vị trí địa lý thuận lợi cho
xây dựng các KCN, tơng tự nh vậy các huyện ngoại thànhhn là những địa ph-
ơng điển hình cho phát triển các KCN trong tơng lai. Vậy làm cách nào để có
thể lựa chọn từ tất cả những vị trí này, xem xét đợc tất cả các lợi thế và những
bất lợi để từ đó quyết định một địa điểm phù hợp. Câu trả lời không đơn giản
sinh sống và phát triển đô thị. Phát triển các KCN chủ yếu dành cho đối tợng
các nhà máy di chuyển nêu trên.
Căn cứ vào mối quan hệ liên đới giữa sản xuất chế biến của các nhà
máy công nghiệp với nguồn cung cấp nguyên liêụ nông lâm thuỷ sản để hình
thành KCN.
Nh vậy loại hình khu-cụm CNV&N trên địa bàn huyện thủ đô Hà Nội
thuộc nhóm quy mô trên dới 50 ha, thậm chí có KCN chỉ có diện tích 20 ha.
Việc hình thành các KCN mini này chủ yếu đáp ứng yêu cầu di dời các nhà
máy, xí nghiệp nhỏ đang ở trong nội thành và các khu vực quy hoạch phát
triển khu dân c để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trờng đô thị cho thủ đô
Hà Nội hiện nay.
2.2. Cơ cấu KCN.
Xét về mặt không gian, KCN là một tổng thể sản xuất và dịch vụ bao
gồm nhiều hoạt động có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau, đợc bố
trí trên một khu vực địa lý, có gianh giới xác định. Để tổ chức và quản lý
tổng thể đó nhất định phải xem xét cơ cấu của nó.
Nội dung các loại cơ cấu KCN.
Cơ cấu, xét theo nghĩa truyền thống là tổng thể các bộ phận hợp thành
và mối quan hệ giữa chúng nhằm hớng tới những mục tiêu nhất định. Cơ cấu
KCN cũng đợc hiểu theo nghĩa đó. Trên thực tế việc xem xét cơ cấu KCN có
thể tiếp cận theo các cách sau đây:
- Xét theo chuyên ngành (hay hoạt động).
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nh trên đã đề cập, các hoạt động đợc bố trí vào KCN gồm 2 nhóm
chính: SXCN và dịch vụ hỗ trợ SXCN. Theo đó sẽ có rất nhiều ngành sản
xuất và dịch vụ chuyên môn hoá khác nhau đợc bố trí vào KCN theo qui
hoạch định hớng phát triển của nhà nớc đã phê duyệt. Các ngành này có thể
liên hệ với nhau về kỹ thuật theo chiều dọc (công nghệ) hoặc theo chiều
(Theo kinh nghiệm của Đài Loan)
- Xét theo nguồn đầu t.
Cơ cấu này gắn liền với cơ cấu ngành và cơ cấu doanh nghiệp KCN.
Những quan hệ cần xét tới trong cơ cấu này là: đầu t nhà nớc với đầu t t nhân;
đầu t trong nớc với đầu t nớc ngoài. Với khu-cụm CNV&N, còn tính tới đầu
t tại địa bàn và đầu t từ các địa phơng khác đến, đầu t từ DNV&N và đầu t ở
các doanh nghiệp quy mô lớn.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Xét theo quan hệ hoạt động kinh doanh chính và hoạt động kinh
doanh hạ tầng phục vụ.
Một trong những đặc trng cơ bản của các doanh nghiệp phát triển
trong KCN là bảo đảm phục vụ bởi một hệ thống hạ tầng và các tiện ích
chung của toàn KCN. Hệ thống hạ tầng trong mỗi KCN đợc quy hoạch, phát
triển đồng bộ, thống nhất ngay từ đầu và thờng đợc triển khai đầu t xây dựng
trớc tiên. Các nhà máy hoạt động trong KCN đợc xây dựng sau đó và tiếp
theo.Tốc độ đầu t và tỉ lệ lấp đầy các lô đất trống trong mỗi KCN phụ truộc
vào khả năng của các nhà đầu t và nhiều nhân tố tác động khác. Vì vậy, mỗi
KCN cần chú ý tới phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ có mức độ hiện đại đến
đâu, giá thuê hạ tầng là bao nhiêu phải phù hợp với khả năng thuê của các
nhà đầu t và KCN có quy mô, tiềm lực kinh doanh khác nhau. Tiến độ đầu t
xây dựng các hạng mục hạ tầng cũng cần đợc tính toán cân nhắc kỹ: Hạng
mục nào bắt buộc đầu t xây dựng ngay từ đầu, công trình nào có thể triển
khai khi có các nhà đầu t đến thuê từng lô đất để xây dựng nhà máy, giảm bớt
khó khăn cho đơn vị kinh doanh hạ tầng của KCN ở hợp thời kỳ đầu xây
dựng KCN. Đặc trng này cho thấy sự khác biệt giữa mô hình KCN tập trung
có hàng rào ngăn cách với bên ngoài là phải qui hoạch, đầu t hạ tầng đồng bộ
ngay từ đầu sau đó mới xây dựng nhà máy. Còn các khu vực cụm phát triển
tập trung nhiều nhà máy CN nh ở nớc ta trớc đây đều không có quy hoạch
Yêu cầu chính trị-xã hội: Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
phát triển đô thị; phát triển kinh tế "mở"... có tác động mạnh tới hình thành
KCN. ở Hà Nội, quy hoạch phát triển thủ đô năm 2020 đã đợc Thủ tớng phê
duyệt; Chủ trơng của Thành uỷ và UBND Thành phố về phát triển khu-cụm
CNV&N; chủ trơng di chuyển một số doanh nghiệp công nghiệp từ nội thành
ra vùng ngoại thành... thúc đẩy sự hình thành các khu-cụm CNV&N ở Quận,
Huyện của Thủ đô.
3. Đầu t xây dựng, phát triển KCN.
Là quá trình thiết lập tổ chức sản xuất, quản lý hệ thống công nghiệp
theo vùng lãnh thổ để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và kinh tế xã hội
của từng vùng lãnh thổ theo hớng CNH-HĐH, hội nhập và mở cửa.
Đầu t vào xây dựng KCN nhằm tạo một không gian lý tởng cho các
nhà đầu t trong việc sản xuất, kinh doanh nhờ tối thiểu hoá chi phí kinh
doanh do có cơ sở HTKT thuận lợi, chi phí nhân công, chi phí vận tải thấp.
Mở rộng liên kết trao đổi nội bộ; giảm thiểu chi phí rủi ro cũng nh đợc u đãi
bởi nhiều cơ chế chính sách quản lý vĩ mô so với đầu t ở các khu vực khác
bên ngoài KCN.
III. Đầu t phát triển các khu-cụm CNV&N.
1. Sự cần thiết phải đầu t phát triển các khu-cụm CNV&N.
Trong quá trình công nghiệp hoá đất nớc, các quốc gia đi sau hiện nay
có thể tiếp thu những bài học ở các nớc đã thực hiện thành công Công cuộc
công nghiệp hoá. Đặc biệt là kinh nghiệm của những nớc phát triển về vấn
đề phát triển công nghiệp và giải quyết những hậu quả của sự phát triển công
nghiệp theo kiểu tự phát, quá tập trung ở các trung tâm đô thị lớn...
Muốn thúc đẩy công nghiệp phát triển nhanh chóng đáp ứng những
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc thì cần phải xác định mô hình
chiến lợc cơ cấu công nghiệp phù hợp. Phát huy tối đa mọi nguồn lực lợi thế
so sánh của đất nớc mở cửa hoà nhập vào thị trờng khu vực và quốc tế.
Đồng thời mỗi quốc gia phải tiến hành giải quyết đồng bộ, hợp lý các vấn đề
về tổ chức sản xuất và quản lý hệ thống công nghiệp phát triển theo ngành và
với thị trờng trong nớc mà còn đối với các thị trờng ngoài nớc, tiềm lực khoa
học kỹ thuật lớn mạnh nhất cả nớc. Nguồn cung cấp điện, cung cấp nớc, đất
cho xây dựng tơng đối thuận lợi. Chất lợng lao động khá nhất trong cả nớc,
có nhiều ngành nghề truyền thống, trình độ sản xuất đạt tới đỉnh cao so với
cả nớc. Hà Nội là một trong 3 cực tăng trởng của tam giác phát triển phía
Bắc. Những lợi thế trên tạo điều kiện cho Hà Nội có khả năng phát triển các
khu-cụm CNV&N. Để hớng tới phát triển Hà Nội thành một thành phố văn
minh và hiện đại, đòi hỏi phải có sự gia tăng phát triển công nghiệp đúng h-
ớng xứng đáng giữ vai trò tiên phong trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc.
Xét những tiêu chí cơ bản Hà Nội cần phải đạt từ nay đến năm 2020 thông
qua các thời kỳ khác nhau đã phần nào chứng minh sự cần thiết phải thúc đẩy
và gia tăng sự phát triển công nghiệp.
* Nhịp độ tăng trởng GDP bình quân qua các thời kỳ:
- Thời kỳ 1996- 2000: 13,3- 15%/ năm.
- Thời kỳ 2001- 2010: 13,6- 13,8%/ năm.
- Thời kỳ 2011- 2020: 12,4- 12,5 năm.
* Cơ cấu của nền kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hớng CNH-
HĐH thủ đô:
Đơn vị tính: (%)
Năm 1995 2000 2010 2020
Tổng GDP 100 100 100 100
CN 24,15 28,0 35,9 42,0
Xây dựng 8,98 10,7 13,0 14,6
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nông nghiệp 5,41 3,25 1,27 0,52
Dịch vụ 61,46 58,05 50,73 42,88
Nguồn: QHTT Kinh tế- Xã hội đến năm 2010- 2020.
Thông qua hệ thống các chỉ tiêu trên cho thấy vai trò của công
Xác lập về ranh giới nội thành, Hà Nội hiện nay có 5 quận nội thành,
bao gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trng, Đống Đa và Tây Hồ (mới đợc
thành lập).
Công nghiệp Hà Nội trên lãnh thổ Hà Nội trong thời kỳ 1991-1995 có
sự phát triển vợt mức tăng trởng bình quân hàng năm 14,4 % so với 2,45 %
của thời kỳ 1986-1990, đồng thời cũng trong thời kỳ 1991-1995, đã có sự
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuyển đổi cơ cấu một cách cơ bản, công nghiệp nhẹ có tốc độ tăng trởng
bình quân hàng năm cao hơn nhiều (17,05%) so với công nghiệp nặng (chỉ
9,7%). So với cả nớc, tốc độ tăng trởng công nghiệp trên lãnh thổ Hà Nội có
mức cao hơn (18,62%), bình quân cả nớc (13.3%), tuy nhiên tốc độ tăng tr-
ởng của Hà Nội không ổn định, công nghiệp quốc doanh trung ơng vẫn
chiếm vị trí gần nh tuyệt đối chủ đạo; sau đó mới đến công nghiệp quốc
doanh địa phơng, công nghiệp ngoài quốc doanh chỉ thấp hơn chút ít hơn so
với công nghiệp địa phơng.
Phân tích số liệu thống kê năm 1995 và 1996 của cục Thống kê Hà
Nội cho thấy công nghiệp nặng, sản xuất thiết bị máy móc, kỹ thuật điện-
điện tử. Sản xuất hoá chất- phân bón, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp
dệt là 6 ngành giữ vị trí then chốt của Hà Nội. Theo những số liệu khảo sát
thì các ngành công nghiệp điện nặng, sản xuất thiết bị máy móc, sản xuất hoá
chất phân bón, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dệt thuộc những ngành
gây ô nhiễm lớn cho môi trờng. Những ngành công nghiệp có tốc độ tăng tr-
ởng bình quân hàng năm cao trong thời kỳ 1991-1995 là công nghiệp thuộc
da và sản xuất sản phẩm từ da (28,2%), công nghiệp thực phẩm (25,3%),
công nghiệp lơng thực (23,5%), công nghiệp luyện kim đen (22,7%), công
nghiệp in (21,5%), công nghiệp sành sứ thủy tinh (20,9%), công nghiệp hoá
chất phân bón (17,3%), công nghiệp kỹ thuật- điện tử (16,4%). Sản xuất công
nghiệp của Hà Nội đợc thực hiện bởi một số lợng không lớn các doanh
Thông qua số liệu bảng 1 cho thấy, từ 10.830 cơ sở SXCN (năm 1991)
tăng lên 16.775 cơ sở SXCN (năm 1995), bằng 54,89%. Và khu vực công
nghiệp ngoài quốc doanh thu hút ngày càng mạnh lực lợng lao động hơn là
khu vực công nghiệp quốc doanh, từ 44.945 ngời lên đến 64.152 ngời vào
(năm 1995), tăng gần gấp đôi (42.7%). Phần lớn các cơ sở sản xuất ngoài
quốc 0doanh có quy mô vừa và nhỏ, đó là cha tính tới những hoạt động sản
xuất phi c0hính quy nằm rải rác giữa các khu dân c. Những cơ sở này hầu nh
không hề quan tâm và không có biện pháp xử lý chất thải, do đó đã gây ô
nhiễm đáng kể tới môi trờng. Cho tới nay vẫn cha có biện pháp hữu hiệu đợc
thực hiện để xử lý tình trạng này, các cơ quan chức trách của thành phố vẫn
cha kiểm soát đợc hết các hoạt động gây ô nhiễm môi trờng do hoạt động
công nghiệp gây ra.
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm đang diễn ra trong nội thành và tạo ra
điều kiện thuận lợi kiểm soát có tính lâu dài đối với hoạt động SXCN của
thành phố, biện pháp có tính tối u là hình thành các khu-cụm CNV&N ở khu
vực ngoại thành, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp sản xuất di
chuyển ra các khu này tiếp tục hoạt động và mở rộng quy mô sản xuất
Thành phố sẽ có những điều kiện thuận lợi tập trung giải quyết và xử lý chất
thải. Theo một tài liệu nghiên cứu của Sở khoa học- Công nghệ và Môi trờng
Hà Nội đã khuyến nghị đến cuối năm 1997, Hà Nội có 11 doanh nghiệp gây
ô nhiễm cần phải chuyển ra khỏi nội thành trớc năm 2000 và trong giai đoạn
tiếp theo đến năm 2010, sẽ có thêm 20 doanh nghiệp khác phải chuyển đi.
Tuy nhiên cho tới nay, hầu hết các xí nghiệp trên vẫn cha có khởi động gì.
Thực tế này càng đòi hỏi bức bách sự cần thiết phải ra đời sớm các khu-cụm
CNV&N ở vùng ngoại thành.
1.4. Hình thành khu đô thị mới, từng bớc thực hiện quy hoạch phát triển
thủ đô đến năm 2020.
Quy hoạch phát triển thủ đô phải dựa trên phơng hớng, mục tiêu phát
triển kinh tế và công nghiệp hoá thành phố Hà Nội đến năm 2020; phải vừa
cải tạo, vừa xây dựng mới; chú trọng giữ gìn, tôn tạo các công trình kiến trúc
những u điểm của loại quy mô này và cũng lý giải vì sao trong nền kinh tế thị
trờng loại doanh nghiệp này phát triển mạnh. Tuy vậy, ở nớc ta hiện nay,
DNV&N cũng gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là:
. Cơ sở vật chất và trình độ yếu kém lạc hậu.
. Nhu cầu đầu t lớn, nhng nguồn tài chính hạn hẹp.
. Phân bố sản xuất phân tán, khả năng liên kết kém.
. Mặt hàng sản xuất bó hẹp.
. Khả năng tạo ra ô nhiễm môi trờng lớn.
Bởi vậy, khu-cụm CNV&N ra đời sẽ là vận hội mới cho sự phát triển
các loại doanh nghiệp này.
* Quan hệ giữa DNV&N với khu-cụm CNV&N.
Sẽ là không đúng, nếu quan niệm rằng cơ cấu doanh nghiệp trong khu-
cụm CNV&N chỉ bố trí các doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ. Mà trong cơ
cấu doanh nghiệp khu-cụm CNV&N, các doanh nghiệp công nghiệp qui mô
vừa và nhỏ là chủ yếu. Điều đó lại càng phù hợp với Thủ đô Hà Nội, bởi lẽ:
. Đây là cơ hội thực hiện chính sách khuyến khích phát triển loại hình
doanh nghiệp này, phát triển kinh tế ngoài quốc doanh.
. Phần lớn DNV&N đang thiếu mặt bằng sản xuất, nhiều doanh nghiệp
gặp khó khăn trong việc hợp thức quyền sử dụng đất.
. Mặt bằng khu-cụm CNV&N Hà Nội không lớn (trên dới 20 ha),
trong khi nó đợc đặt gần với các KCN khác với diện tích từ 100-400 ha thì
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khó thu hút đợc các doanh nghiệp lớn.Trên địa bàn thành phố có hơn 2200
doanh nghiệp, với tổng số vốn pháp định 1270 tỷ đồng Việt Nam, trong đó
nội thành chiếm 95% số doanh nghiệp. Với số lợng nh vậy nhng hầu hết các
doanh nghiệp này đều sử dụng nhà ở để làm trụ sở giao dịch, đất của các
HTX, Tổ sản xuất trớc đây hoặc các tổ chức cá nhân. Nhu cầu về nhà xởng
cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này là rất bức xúc.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Sản xuất thuốc y học dân tộc.
- Dệt vải, chế biến đồ da.
- Kinh doanh buôn bán thiết bị điện, điện tử, máy tính.
- Sản xuất mộc, thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.
Tổng số nhu cầu về đất xây dựng cho phát triển các ngành nghề xây
dựng cho phát triển các ngành nghề công nghiệp, chế biến, dịch vụ gần
351.850 m
2
. Trong đó diện tích đất của những cơ sở sản xuất kinh doanh
trong các quận nội thành là 193.380 m
2
, những cơ sở thuộc 4 huyện là
156.470 m
2
. Một nhu cầu cao cần phải đợc đáp ứng, tránh lãng phí nguồn
vốn, ổn định tâm lý cho các chủ doanh nghiệp. Với số vốn đầu t sản xuất
kinh doanh là 559.970,6 tỷ đồng. Có thể nói, vốn của các doanh nghiệp có
nhu cầu về đất kinh doanh rất lớn, giải quyết đợc nhu cầu đất này Thành phố
sẽ phát huy đợc nguồn vốn, mở rộng sản xuất, kinh doanh, đầu t nâng cao
chất lợng cơ sở hạ tầng, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp, , tăng trởng GDP,
dẫn tới phát triển kinh tế xã hội.
Số lao động hiện có là 7.392, khi đợc thuê đất sản xuất kinh doanh ở
trong các khu-cụm CNV&N, chắc chắn số lao động này sẽ tăng lên tới
10.000 ngời, huy động đợc một lực lợng lớn lao động nông thôn cha có việc
làm ở các quận huyện ngoại thành.
Nhận xét tổng quát về nhu cầu diện tích đất đầu t phát triển công
nghiệp và dịch vụ của các DNV&N:Trong số 187 cơ sở thì 155 cơ sở có nhu
cầu đất ổn định để đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh (tỷ lệ có nhu cầu